Giáo dục pháp luật cho cán bộ, công chức cơ quan hành chính ở thành phố Hà Nội hiện nay - Pdf 25


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT PHẠM KIM DUNG
GIÁO DỤC PHÁP LUẬT
CHO CÁN BỘ, CÔNG CHỨC CƠ QUAN HÀNH CHÍNH
Ở THÀNH PHỐ HÀ HỘI HIỆN NAY
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Người hướng dẫn khoa học: GS.TS Hoàng Thị Kim Quế
HÀ NỘI - 2010 MỤC LỤC
Trang

Trang phụ bìa Lời cam đoan Mục lục Danh mục các bảng MỞ ĐẦU
1

1.2.2.
Đặc điểm, nội dung, hình thức, phương pháp giáo dục pháp
luật cho cán bộ, công chức hành chính
25
1.2.3.
Sự cần thiết của giáo dục pháp luật cho cán bộ, công chức
hành chính
36
1.3.
Các nhân tố tác động đến hoạt động giáo dục pháp luật cho
cán bộ, công chức hành chính
41
1.3.1.
Chính sách và pháp luật của Đảng và Nhà nước
41

1.3.2.
Nhận thức về tầm quan trọng của giáo dục pháp luật cho cán
bộ, công chức
43
1.3.4.
Mức độ hoàn thiện của hệ thống pháp luật
45
1.3.5.
Điều kiện làm việc của cán bộ, công chức
45
1.3.6.
Trình độ dân trí
46
1.3.7.

Những kết quả của công tác giáo dục pháp luật cho cán bộ,
công chức hành chính ở thành phố Hà Nội
56
2.2.
Những ưu điểm và các mặt hạn chế trong công tác giáo dục
pháp luật cho cán bộ, công chức hành chính ở thành phố Hà
Nội trong thời gian qua
70
2.2.1.
Những ưu điểm
70
2.2.2.
Những hạn chế trong công tác giáo dục pháp luật cho cán bộ,
công chức hành chính
71
2.2.3.
Nguyên nhân của những hạn chế trong công tác giáo dục pháp
luật cho cán bộ, công chức hành chính ở thành phố Hà Nội
73 Chƣơng 3: PHƢƠNG HƢỚNG VÀ GIẢI PHÁP TĂNG CƢỜNG
GIÁO DỤC PHÁP LUẬT CHO CÁN BỘ, CÔNG CHỨC
HÀNH CHÍNH Ở THÀNH PHỐ HÀ NỘI
75
3.1.
Quan điểm của Đảng và Nhà nước về tăng cường giáo dục
pháp luật cho cán bộ, công chức hành chính
75
3.2.

86
3.3.5.
Quan tâm đến đời sống cán bộ, công chức hành chính
94
3.3.6.
Công tác giáo dục pháp luật cần xuất phát đặc thù của cán
bộ, công chức Hà Nội với các khu vực khác
95
3.3.7.
Xây dựng hệ thống thông tin pháp luật, tạo điều kiện để cán bộ,
công chức tiếp cận với pháp luật một cách kịp thời, chính xác
96
3.3.8.
Nâng cao hiệu quả hình thức giáo dục pháp luật cho cán bộ,
công chức thông qua các phương tiện thông tin đại chúng và
phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan tham gia giáo dục pháp
luật cho cán bộ, công chức
99

3.3.9.
Đảm bảo sự lãnh đạo, chỉ đạo thống nhất công tác giáo dục
pháp luật cho cán bộ, công chức hành chính
104
3.3.10.
Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát và xử lý nghiêm
những vi phạm kỷ luật, pháp luật
108
3.3.11.
Bảo đảm kinh phí trong công tác phổ biến pháp luật cho cán
bộ, công chức hành chính trên địa bàn

MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài
Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng Cộng sản
Việt Nam ở mục 1 phần IX của Báo cáo Chính trị đã ghi: "Nhà nước là công
cụ chủ yếu để thực hiện quyền làm chủ của nhân dân, là Nhà nước pháp
quyền của dân, do dân, vì dân" [16], "Nhà nước quản lý xã hội bằng pháp
luật. Mọi cơ quan tổ chức, cán bộ, công chức, mọi công dân có nghĩa vụ chấp
hành Hiến pháp và pháp luật" [16].
Để có được "Nhà nước pháp quyền của dân, do dân, vì dân" ở nước ta
hiện nay, điều quan trọng hàng đầu là phải xây dựng được một đội ngũ cán
bộ, công chức vừa có đức vừa có tài. Đó là những con người có bản lĩnh
chính trị vững vàng trên cơ sở lập trường của giai cấp công nhân, tuyệt đối
trung thành với lý tưởng cách mạng, với chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng
Hồ Chí Minh, có ý thức và năng lực đấu tranh bảo vệ quan điểm, đường lối
của Đảng, nắm vững chính sách và pháp luật của Nhà nước. Giáo dục ý thức
pháp luật, văn hóa pháp lý, hình thành lối sống theo pháp luật là một yêu cầu
quan trọng đặt ra đối với mọi nhà nước trong quá trình phát triển. Điều 12
Hiến pháp Việt Nam 1992 quy định: "Nhà nước quản lý xã hội bằng pháp
luật, không ngừng tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa". Trong giai đoạn
xây dựng nhà nước pháp quyền ở nước ta hiện nay, ngoài các tiêu chí như hệ
thống pháp luật phải đầy đủ, pháp luật phải nhân đạo, vì con người… thì yêu
cầu giáo dục ý thức pháp luật là một nội dung quan trọng. Điều này không chỉ
góp phần khắc phục những tiêu cực của xã hội do ý thức pháp luật kém gây
ra, mà còn góp phần quan trọng trong việc xây dựng một xã hội trật tự, ổn
định và phát triển.
Để quản lý được Nhà nước và xã hội bằng pháp luật theo tiêu chí của
một nhà nước pháp quyền, cán bộ, công chức phải được trang bị những kiến

2

hiện nay", Luận án tiến sĩ của Lê Đình Khiên, 1993; "Xây dựng ý thức và lối
sống theo pháp luật", Đào Trí Úc chủ biên, Hà Nội, 1995; "Một số vấn đề lý
luận và thực tiễn về giáo dục pháp luật trong công cuộc đổi mới", của Viện
Nghiên cứu Khoa học pháp lý, Bộ Tư pháp, Hà Nội, 1995; "Một số vấn đề
giáo dục pháp luật ở miền núi và vùng dân tộc thiểu số", Nxb Chính trị quốc
gia, Hà Nội, 1996; "Giáo dục pháp luật trong các trường đại học, trung học
chuyên nghiệp và dạy nghề (không chuyên luật) ở nước ta hiện nay", Luận án
phó tiến sĩ Luật học của Đinh Xuân Thảo, 1996; "Giáo dục pháp luật qua
hoạt động tư pháp - hình thức đặc thù của giáo dục pháp luật", Luận án phó
tiến sĩ của Dương Thanh Mai, 1996; "Công tác tuyên truyền giáo dục pháp
luật ở nước ta - Thực trạng và giải pháp", Luận văn thạc sĩ của Hồ Quốc Dũng,
1997; "Một số vấn đề về giáo dục pháp luật trong giai đoạn hiện nay", của Vụ
Phổ biến giáo dục pháp luật, Bộ Tư pháp, Nxb Thanh niên, 1997; "Đổi mới giáo
dục pháp luật trong hệ thống các trường Chính trị ở nước ta hiện nay", Đề tài
khoa học cấp Bộ, Khoa Nhà nước - pháp luật, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ
Chí Minh, 1999; "Đổi mới giáo dục pháp luật hệ đào tạo trung học chính trị ở
nước ta hiện nay", Luận văn thạc sĩ của Nguyễn Ngọc Hoàng, 2000; Đề tài "Cơ
sở khoa học của việc xây dựng ý thức và lối sống theo luật pháp" trong chương
trình khoa học công nghệ cấp Nhà nước KX-07; tác giả Đào Duy Tấn trong
luận án tiến sĩ triết học "Những đặc điểm của quá trình hình thành ý thức
pháp luật ở Việt Nam hiện nay", Hà Nội 2000. Một số bài viết trên các tạp
chí, như: "Làm thế nào để xây dựng ý thức pháp luật và lối sống theo pháp
luật", tác giả Đào Trí Úc - Tạp chí Nhà nước và pháp luật, số 4/1993; "Xây
dựng lối sống theo pháp luật nhìn từ góc độ lịch sử truyền thống" của tác giả
Vũ Minh Giang, tạp chí Nhà nước và pháp luật 1993… Các giáo trình: Lý luận
chung về nhà nước và pháp luật, Luật hành chính của các cơ sở đào tạo luật
học, hành chính cũng có một số chương đề cập đến vấn đề ý thức pháp luật.
Các công trình nói trên đã nêu ra nhiều vấn đề rất cơ bản cả về lý luận
và thực tiễn trong hoạt động giáo dục pháp luật trên nhiều góc độ. Tuy nhiên,


quan hành chính của thành phố Hà Nội.
5. Phƣơng pháp nghiên cứu
Luận văn được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa
Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh (vận dụng tổng hợp các phương pháp duy
vật biện chứng, duy vật lịch sử ). Trong quá trình nghiên cứu luận văn đã sử
dụng những phương pháp nghiên cứu cụ thể: Phân tích, tổng hợp, tổng kết
thực tiễn, tiếp cận hệ thống
6. Ý nghĩa của luận văn
Kết quả nghiên cứu của luận văn là làm sáng tỏ những vấn đề lý luận
về giáo dục pháp luật cho cán bộ công chức cơ quan hành chính; đánh giá về
thực trạng, tìm ra nguyên nhân và đề xuất những giải pháp cơ bản trong công
tác xây dựng ý thức pháp luật. Kết quả nghiên cứu có thể làm tài liệu tham
khảo cho học tập, giảng dạy về nhà nước và pháp luật tại các cơ sở đào tạo.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội
dung của luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về giáo dục pháp luật cho cán bộ, công chức
hành chính.
Chương 2: Thực trạng giáo dục pháp luật cho cán bộ, công chức trong
các cơ quan hành chính ở thành phố Hà Nội hiện nay.
Chương 3: Phương hướng và giải pháp tăng cường giáo dục pháp luật
cho cán bộ, công chức hành chính ở thành phố Hà Nội. 6
Chƣơng 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ GIÁO DỤC PHÁP LUẬT
CHO CÁN BỘ, CÔNG CHỨC HÀNH CHÍNH

1.1. Khái quát về giáo dục pháp luật

thứ IX của Đảng đã khẳng định: "Nhà nước quản lý xã hội bằng pháp luật.
Mọi cơ quan, tổ chức, cán bộ, công chức và mọi công dân có nghĩa vụ chấp
hành Hiến pháp và pháp luật". Để mọi người dân và cán bộ, công chức hành
chính có ý thức pháp luật, biết sống và làm việc theo pháp luật thì vấn đề giáo
dục pháp luật phải được đặt ra một cách nghiêm túc và phải được giải quyết
đúng đắn cả về mặt lý luận cũng như thực tiễn.
Hiện nay, khái niệm giáo dục pháp luật được tiếp cận từ nhiều góc độ
rộng, hẹp khác nhau tùy theo cơ sở xuất phát để nghiên cứu và vận dụng vào
quá trình giáo dục pháp luật cụ thể.
Thứ nhất, giáo dục pháp luật được coi là một bộ phận - một hệ thống
con của hệ thống giáo dục nói chung. Giáo dục pháp luật được khẳng định là
một bộ phận, một hoạt động có tính độc lập tương đối và có mối quan hệ
tương hỗ với các hệ thống con như kinh tế, chính trị, văn hóa, đạo đức tạo
nên một hệ thống các mối quan hệ xã hội tác động đến các cá nhân, làm hình
thành nên bản chất người - xã hội - lịch sử. Quan niệm này về giáo dục pháp
luật xuất phát từ nghĩa rộng nhất của thuật ngữ giáo dục, đồng nhất nó với quá
trình xã hội hóa cá nhân. Nhân cách con người được hình thành và phát triển
là do tác động, ảnh hưởng của tổ hợp các nhân tố xã hội, như môi trường
chính trị, kinh tế, văn hóa xã hội, pháp luật, đạo đức trong quá trình con
người tham gia vào các quan hệ xã hội. Quan niệm giáo dục pháp luật theo
nghĩa rộng này có hai ý nghĩa quan trọng sau đây:
Một là, thấy được quá trình xã hội hóa cá nhân nói chung và giáo dục
pháp luật nói riêng chịu sự tác động, chi phối của nhiều yếu tố xã hội. Chủ thể

8
giáo dục có thể chủ động khai thác, phát huy các yếu tố tích cực và hạn chế
ảnh hưởng của các yếu tố tiêu cực, có tính tự phát, làm hạn chế hoặc suy giảm
hiệu quả của giáo dục pháp luật trong thực tiễn hiện nay.
Hai là, không đồng nhất, không coi giáo dục pháp luật đã có trong
giáo dục chính trị, giáo dục đạo đức, do đó đã hạ thấp vai trò của giáo dục

dục pháp luật thực sự tự giác biến những yêu cầu pháp luật khách quan thành
nhu cầu nội tại của bản thân người được giáo dục pháp luật.
- Quá trình giáo dục pháp luật luôn luôn là hoạt động có tổ chức, có kế
hoạch, tuân theo nội dung và chương trình nhất định, dựa trên các phương
pháp giáo dục khoa học, hiện đại và các hình thức giáo dục phù hợp nhằm
hiện thực hóa tối ưu mục đích giáo dục pháp luật đã định. Khía cạnh này của
khái niệm giáo dục pháp luật có một số vấn đề cần lưu ý: giáo dục pháp luật
có những điểm chung của quá trình giáo dục, như cũng có nội dung, chương
trình, phương pháp, hình thức tổ chức , nhưng chúng chưa được xác định
thật sự rõ ràng, ổn định trong một hệ thống. Điều đó đòi hỏi phải tìm ra cách
tiếp cận quá trình giáo dục pháp luật phù hợp. Bên cạnh đó, không được đồng
nhất chương trình đào tạo của các trường luật (đào tạo những người làm nghề
luật) với chương trình giáo dục pháp luật theo khái niệm giáo dục pháp luật
cho mọi công dân. Ngược lại, việc đào tạo những người làm việc trong các
lĩnh vực chuyên về luật hoặc có liên quan đến pháp luật, tuy cũng là giáo dục -
đào tạo về pháp luật, nhưng không thể xem đó là đối tượng giáo dục pháp luật
theo chương trình giáo dục pháp luật chung.
- Suy cho cùng, quá trình giáo dục pháp luật phải đạt được hiệu quả
đặt ra. Hiệu quả của hoạt động giáo dục pháp luật phải được nhìn nhận, đánh
giá qua những mục tiêu đạt được từ quá trình này. Đó là mục tiêu về nhận
thức (sự tiếp thu, tích lũy những thông tin, tri thức, hiểu biết về pháp luật);
mục tiêu về thái độ, tình cảm (làm hình thành ở đối tượng được giáo dục sự
tôn trọng pháp luật; sự phê phán, lên án các hành vi phạm pháp, phạm tội; sự
công phẫn trước các tội ác dã man; niềm tin vào tính công bằng, nghiêm minh

10
của pháp luật ); mục tiêu về hành vi (kỹ năng vận dụng tri thức, hiểu biết
pháp luật để giải quyết công việc chuyên môn, hành vi pháp luật tích cực, lối
sống theo pháp luật ).
Xuất phát từ định nghĩa giáo dục pháp luật và vai trò của giáo dục pháp

khi mà hiểu biết pháp luật của công dân còn thấp, còn chịu ảnh hưởng tư
tưởng và nếp sống của người sản xuất nhỏ, nhận thức về quyền và nghĩa vụ
của công dân chưa đầy đủ. Mặt khác, công tác giáo dục pháp luật chưa được
coi trọng dẫn đến tình trạng pháp chế bị buông lỏng, làm giảm hiệu lực của
pháp luật; dẫn đến giảm lòng tin của nhân dân đối với Đảng và Nhà nước. Do
đó, từ Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI đến nay, Đảng và Nhà nước ta luôn
coi trọng công tác giáo dục pháp luật:
Coi trọng công tác giáo dục, tuyên truyền, giải thích pháp
luật Cán bộ quản lý các cấp từ Trung ương đến đơn vị cơ sở phải
có kiến thức về quản lý hành chính và hiểu biết về pháp luật. Cần sử
dụng nhiều hình thức và biện pháp để giáo dục, nâng cao ý thức
pháp luật và làm tư vấn pháp luật cho nhân dân [7, tr. 121].
"Thường xuyên giáo dục pháp luật, xây dựng ý thức sống và làm việc
theo pháp luật" [8, tr. 92], "phát huy dân chủ đi đôi với giữ vững kỷ luật, kỷ
cương, tăng cường pháp chế, quản lý xã hội bằng pháp luật, tuyên truyền giáo
dục toàn dân, nâng cao ý thức chấp hành pháp luật" [16, tr. 135].
- Hình thành tình cảm và lòng tin đối với pháp luật (mục đích cảm xúc
hay thái độ). Mục đích này rất quan trọng, vì nếu có tri thức pháp luật mà
không có tình cảm tôn trọng và lòng tin vào pháp luật cũng như các cơ quan
bảo vệ pháp luật thì con người rất dễ hành động chệch khỏi các chuẩn mực
pháp luật vì lợi ích riêng tư. Nội hàm của mục đích cảm xúc đạt được thông
qua việc: Một là, giáo dục tình cảm công bằng, biết xác định các tiêu chuẩn
đánh giá tính công bằng của pháp luật, biết đối xử với người khác và với
chính mình bằng các tiêu chuẩn công bằng thể hiện qua các quy phạm pháp
luật. Hai là, giáo dục tình cảm trách nhiệm, ý thức tuân thủ pháp luật ở mọi

12
nơi mọi lúc. Phê phán, lên án những biểu hiện coi thường pháp luật, các hành
vi phạm pháp. Đồng thời ủng hộ và tích cực tham gia bảo vệ sự nghiêm minh
của pháp luật. Có được tình cảm trên, con người sẽ có được lòng tin vững

của giáo dục pháp luật, tạo ra sự chuyển biến tích cực về nhận thức, thái độ và
hành vi của các đối tượng được giáo dục.
Bản thân hoạt động giáo dục pháp luật hướng đến nhiều đối tượng
khác nhau với những mục đích cụ thể. Chính vì vậy, khi nghiên cứu về nội
dung giáo dục pháp luật, lý luận về giáo dục pháp luật khẳng định cần làm rõ
được các vấn đề chủ yếu là phạm vi, đặc điểm, những yếu tố chủ yếu của nội
dung giáo dục pháp luật.
Phạm vi của nội dung giáo dục pháp luật theo quan điểm chung hiện
nay bao gồm:
- Các thông tin về pháp luật gồm cả kiến thức cơ bản và văn bản pháp
luật thực định;
- Các thông tin về việc thực hiện pháp luật, về tình hình vi phạm pháp
luật và tội phạm, về việc điều tra xử lý các vi phạm pháp luật;
- Các thông tin về kết quả nghiên cứu, điều tra xã hội học về thực hiện
áp dụng pháp luật đối với đời sống kinh tế xã hội, đối với từng đối tượng, các
tầng lớp dân cư. Đồng thời phản ánh những nhu cầu, nguyện vọng, ý kiến, đề
xuất của nhân dân, của các chuyên gia pháp luật trong việc xây dựng và hoàn
thiện pháp luật;
- Các thông tin hướng dẫn hành vi pháp luật cụ thể của công dân (như
các quyền, các nghĩa vụ pháp luật, các quy trình thủ tục để bảo vệ các quyền
hợp pháp).
Bản thân phạm vi nội dung giáo dục pháp luật cũng cần được cụ thể
hóa hơn đối với mỗi nhóm đối tượng, những hoạt động giáo dục pháp luật cụ
thể. Từ phạm vi nội dung giáo dục pháp luật nêu trên, trong thực tiễn pháp
luật ở nước ta hiện nay cũng cần lưu ý tới những đặc điểm của nội dung giáo

14
dục pháp luật. Đó là trạng thái động của các thông tin trong nội dung giáo dục
pháp luật. Những đặc điểm này cần được nhận thức đầy đủ đối với những
người làm công tác giáo dục pháp luật. Trên cơ sở đó họ lựa chọn phương

biết của đối tượng này bao gồm cả những quan điểm, những học thuyết về
nhà nước và pháp luật trong lịch sử và hiện tại. Những hiểu biết tương đối
toàn diện về hệ thống pháp luật trong nước và quốc tế trong lĩnh vực chuyên
sâu của từng người (về hình sự, về dân sự, về kinh tế, về hôn nhân gia đình,
về luật quốc tế, ). Kỹ năng của họ không chỉ dừng lại ở việc tuân thủ pháp
luật mà chủ yếu là vận dụng chính xác, linh hoạt các quan hệ pháp luật vào
việc xử lý, giải quyết các vấn đề liên quan đến pháp luật (hoặc tư vấn cho việc
giải quyết các vấn đề về pháp luật, như các tranh chấp, các vi phạm pháp
luật ). Kỹ năng quan trọng và đặc thù của đối tượng là sáng tạo pháp luật, là
khả năng tham gia vào việc hoàn thiện pháp luật.
1.1.3.2. Hình thức giáo dục pháp luật
Từ những phân tích về mục đích, nội dung của pháp luật có thể nhận
thấy để hiện thực hóa được những điều này cần có những hình thức, phương
pháp giáo dục pháp luật phù hợp, cần phải có sự phối hợp nhiều hình thức,
phương tiện, chương trình, mục tiêu giáo dục pháp luật của các chủ thể khác
nhau để hỗ trợ, bổ sung cho nhau nhằm đạt được mục đích của giáo dục pháp
luật mà nội dung giáo dục pháp luật đề ra. Mục đích và nội dung của giáo dục
pháp luật không thể tự thân đi vào nhận thức, tình cảm của người được giáo
dục pháp luật, mà phải qua những kênh chuyển tải thông tin, là các dạng hoạt
động cụ thể để tổ chức quá trình giáo dục pháp luật, thể hiện nội dung giáo
dục pháp luật. Các dạng hoạt động cụ thể đó phải phù hợp với khả năng tiếp
cận của đối tượng. Do đó, hiệu quả của giáo dục pháp luật không chỉ phụ
thuộc vào việc xác định đúng mục đích và nội dung giáo dục pháp luật mà
còn phụ thuộc vào việc xác định đúng hình thức giáo dục pháp luật.
Trong giáo dục học, hình thức giáo dục được quan niệm là các hình
thức tổ chức hoạt động phối hợp giữa người giáo dục và người được giáo dục

16
nhằm chiếm lĩnh nội dung giáo dục và đạt mục đích giáo dục. Trên cơ sở của
khái niệm này, hình thức giáo dục pháp luật được coi là các dạng cụ thể, có tổ

có hai loại chủ thể giáo dục pháp luật: chủ thể chuyên nghiệp và chủ thể
không chuyên nghiệp với vị trí, nhiệm vụ, yêu cầu trình độ và kỹ năng giáo
dục pháp luật khác nhau.
Chủ thể chuyên nghiệp giáo dục pháp luật là những người mà chức
năng, nhiệm vụ chủ yếu, trực tiếp của họ là thực hiện các mục đích, nội dung
giáo dục pháp luật (giảng viên luật, các báo cáo viên, tuyên truyền viên về
pháp luật ).
Chủ thể không chuyên nghiệp giáo dục pháp luật là những người mà
chức năng chính không phải là giáo dục pháp luật, nhưng một trong các
nhiệm vụ của họ là thông qua hoạt động chuyên môn, nghiệp vụ để thực hiện
mục đích giáo dục pháp luật (đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân,
cán bộ, công chức thuộc các cơ quan hành pháp, tư pháp ).
1.1.4.2. Khách thể (đối tượng) giáo dục pháp luật
Từ điển Bách khoa Việt Nam đưa ra khái niệm về khách thể: "Khách
thể là đối tượng của hoạt động nhận thức và hoạt động cải tạo thực tiễn của
chủ thể. Khách thể không phải là toàn bộ thế giới hiện thực, mà chỉ là một bộ
phận nhất định của thế giới đó - bộ phận đang tác động qua lại với chủ thể".
Điều này cho thấy khái niệm khách thể luôn được đặt trong mối quan hệ với
chủ thể nhất định.
Quá trình giáo dục pháp luật thực chất là quan hệ xã hội giữa một bên
là người giáo dục (chủ thể) và một bên là người được giáo dục (khách thể hay
đối tượng). Mối quan hệ này có sự tác động qua lại lẫn nhau giữa các bên
tham gia trong mối quan hệ. Song chiều tác động chủ yếu vẫn là sự tác động,
chi phối của người giáo dục (chủ thể). Sự tác động giáo dục là những hoạt
động có ý thức, có định hướng, có kế hoạch, nhằm đạt tới những mục tiêu,
mục đích nhất định (bao gồm mục đích nhận thức, mục đích cảm xúc, mục

18
đích hành vi, thói quen xử sự theo pháp luật). Nói cách khác, chủ thể giáo dục
pháp luật tác động lên khách thể (đối tượng) giáo dục với những mong muốn


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status