MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Thực hiện chủ chương của Đảng, Nhà nước pháp quyền XHCN của nhân
dân, do nhân dân, vì nhân dân đang được xây dựng. Hướng tới các yêu cầu
của Nhà nước pháp quyền Việt Nam, giáo dục pháp luật cho toàn thể nhân
dân và đội ngũ cán bộ từ Trung ương đến địa phương là hết sức cần thiết, bảo
đảm để pháp luật được tôn trọng và thực hiện.
Trên cơ sở nguyên tắc Nhà nước quản lý xã hội bằng pháp luật, cùng với
việc xây dựng một hệ thống pháp luật thống nhất, đồng bộ. Nhà nước đã tiến
hành nhiều biện pháp nhằm đưa pháp luật vào cuộc sống, bảo đảm cho pháp
luật được thi hành một cách nghiêm minh, thống nhất và công bằng. Một trong
những biện pháp có tầm quan trọng đặc biệt là giáo dục pháp luật. Với tác
dụng hình thành một cách bền vững ý thức tôn trọng pháp luật, góp phần nâng
cao văn hóa pháp lý của các chủ thể mà đặc biệt là cán bộ, công chức - những
người thay mặt Nhà nước giải quyết các công việc của nhân dân. Chủ tịch Hồ
Chí Minh đã chỉ rõ “Cán bộ là cái gốc của mọi công việc”, “huấn luyện cán bộ
là công việc gốc của Đảng “ [32; tr 269].
Xã là một cấp trong hệ thống hành chính bốn cấp của Nhà nước Việt
Nam, là cấp chính quyền trực tiếp chăm lo đến đời sống của nhân dân, là cầu
nối giữa Nhà nước với nhân dân.
Cán bộ là yếu tố quan trọng trong việc xây dựng, củng cố chính quyền
cấp xã yêu cầu đặt ra là phải xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức có đủ năng
lực phẩm chất đạo đức, nắm vững đường lối chính sách của Đảng và pháp
luật của Nhà nước. Giáo dục pháp luật có ý nghĩa quan trọng trong việc thúc
đẩy hiệu quả hoạt động của cán bộ cấp xã, giúp họ vận dụng pháp luật trong
quá trình thực hiện chức năng nhiệm vụ của mình.
Tuy nhiên, thực tế cho thấy, giáo dục pháp luật trong những năm qua:
“Chưa được đặt ngang tầm với yêu cầu quản lý xã hội bằng pháp luật,
1
chưa được tiến hành thường xuyên liên tục, đồng bộ rộng khắp, chưa có trọng
tâm, trọng điểm, còn thiếu cơ chế kế hoạch phối hợp chặt chẽ đồng bộ giữa
đổi mới. Các công trình đã được nghiên cứu đề cập đến những khía cạnh khác
nhau về giáo dục pháp luật bao gồm:
- Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về giáo dục pháp luật trong công
cuộc đổi mới, đề tài khoa học cấp Bộ của Bộ Tư pháp, 1994.
- Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về giáo dục pháp luật trong thời kỳ đổi
mới, đề tài khoa học cấp Bộ, MS 92-98-223-ĐT của Viện Nghiên cứu khoa học
pháp lý, Bộ Tư pháp.
- Bàn về giáo dục pháp luật của Trần Ngọc Đường và Dương Thị Thanh
Mai, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nộ 1995.
- Tìm kiếm mô hình phổ biến, giáo dục pháp luật có hiệu quả trong một số
dân tộc ít người, đề tài khoa học cấp Bộ, Bộ Tư pháp 1995.
- Giáo dục pháp luật thông qua hoạt động tư pháp ở Việt Nam, luận án PTS
của Dương Thị Thanh Mai 1996.
- Giáo dục pháp luật trong các trường Trung học chuyên nghiệp và dạy nghề
ở nước ta hiện nay, luận án PTS của Đinh Xuân Thảo 1996.
- Giáo dục pháp luật cho đồng bào dân tộc Khơ Me nam bộ, Luận văn Th.S
Luật học của Lê Văn Bền, 1998.
- Xây dựng ý thức pháp luật và lối sống theo pháp luật do TSKH Đào Trí Úc
chủ biên, năm 2/002.
- Giáo dục pháp luật cho cán bộ Chính quyền cấp xã ở tỉnh Đắc Lắc hiện
nay, Luận văn thạc sỹ luật học của Đỗ Văn Dương, 2002.
- Giáo dục pháp luật cho cán bộ, công chức trên địa bàn tỉnh Bình Định
-Thực trạng và giải pháp, Luận văn thạc sỹ luật học của Trần Văn Trầm, 2002.
- Giáo dục pháp luật cho cán bộ chính quyền cấp xã ở tỉnh Quảng Trị hiện
nay, Luận văn thạc sỹ luật học của Cao Thị Hà, 2003.
3
- Giáo dục pháp luật cho nông dân tỉnh Thái Bình trong giai đoạn hiện nay,
luận văn thạc sỹ luật học của Hoàng Trung Thành, 2004.
- Thực hiện chương trình giáo dục pháp luật cho cán bộ, công chức chính
quyền cấp xã ở các trường chính trị tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương hiện
luật cho cán bộ, công chức chính quyền cấp xã ở Tỉnh Điện Biên.
4. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng: Cán bộ, công chức làm việc tại các cơ quan nhà nước cấp xã
trên địa bàn tỉnh Điện Biên
- Phạm vi nghiên cứu là những vấn đề giáo dục pháp luật cho đối tượng cán
bộ, công chức chính quyền cấp xã ở Tỉnh Điện Biên, thời gian nghiên cứu là 5 năm
(từ năm 2004 đến 2008).
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu:
Luận văn được nghiên cứu dựa trên cơ sở lý luận khoa học của Chủ nghĩa
Mác - Lê Nin, tư tưởng Hồ Chí Minh và đường lối, chủ trương của Đảng Cộng
sản Việt Nam về nhà nước và pháp luật nói chung và giáo dục pháp luật nói riêng.
Luận văn sử dụng phương pháp nghiên cứu của Chủ nghĩa duy vật biện chứng
và chủ nghĩa duy vật lịch sử, phân tích, tổng hợp, điều tra xã hội học
6. Đóng góp khoa học của luận văn:
- Luận văn là công trình chuyên khảo đầu tiên nghiên cứu một cách
tương đối có hệ thống, chuyên sâu về giáo dục pháp luật cho một nhóm đối
tượng cụ thể là cán bộ, công chức chính quyền cấp xã ở tỉnh Điện Biên.
5
- Luận văn bước đầu làm rõ được tính đặc thù, mục đích chung, hình
thức và phương pháp giáo dục pháp luật cho cán bộ, công chức chính quyền
cấp xã. Điều đó đã góp phần làm phong phú thêm kho tàng lý luận về giáo
dục pháp luật.
Luận văn đã phân, đánh giá khá toàn diện thực trạng giáo dục pháp luật
cho cán bộ, công chức chính quyền cấp xã ở Tỉnh Điện Biên. Trên cơ sở đó,
nêu quan điểm và giải pháp có tính khả thi nhằm tăng cường giáo dục pháp
luật cho cán bộ, công chức chính quyền cấp xã ở Tỉnh Điện Biên.
7. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Về mặt lý luận:
Luận văn góp phần vào việc bổ sung những vấn đề mang tính lý luận chung
của khoa học pháp lý về giáo dục pháp luật cho một nhóm đối tượng cụ thể.
- Theo nghĩa rộng: Giáo dục là sự ảnh hưởng tác động của những điều
kiện khách quan như chế độ xã hội, trình độ phát triển kinh tế, môi trường
sống… và của những nhân tố chủ quan như tác động tự giác, có chủ định và
định hướng của con người nhằm hình thành những phẩm chất kỹ năng nhất
định của đối tượng giáo dục.
- Theo nghĩa hẹp: Giáo dục là quá trình tác động định hướng của nhân tố
chủ quan lên khách thể giáo dục, nhằm truyền bá những kinh nghiệm đấu
tranh sản xuất, những tri thức tự nhiên xã hội và tư duy để học có đầy đủ khả
7
năng tham gia vào lao động và đời sống xã hội. Theo từ điển tiếng Việt năm
2005 của Viện Ngôn ngữ học “Giáo dục là hoạt động nhằm tác động một cách
có hệ thống đến sự phát triển tinh thần, thể chất của một đối tượng nào đó làm
cho đối tượng ấy dần dần có được những phẩm chất và năng lực như yêu cầu
đề ra” (61.tr. 394).
Không thể phủ nhận được tác động của các điều kiện khách quan đến sự
hình thành ý thức cá nhân của con người. Tuy vậy, lý luận khoa học sư phạm
nhấn mạnh tác động hàng đầu và quyết định của nhân tố chủ quan trong giáo
dục. Vì vậy, khái niệm giáo dục thường được hiểu theo nghĩa hẹp.
Giáo dục pháp luật là một hoạt động mang đầy đủ tính chất chung của
giáo dục, đồng thời có những nét đặc thù riêng.
Giáo dục pháp luật được nhiều nhà khoa học tiếp cận theo nghĩa hẹp của
khái niệm giáo dục. Hướng tiếp cận này xuất phát từ:
Thứ nhất: Mặc dù sự hình thành ý thức con người là quá trình chụi ảnh
hưởng, tác động thống nhất của các điều kiện khách quan và các nhân tố chủ
quan, nhưng coi giáo dục pháp luật như là một nhân tố tác động thì mới xác
định rõ được các yếu tố của quá trình giáo dục pháp luật như chủ thể giáo dục
pháp luật, đối tượng giáo dục pháp luật, nội dung hình thức giáo dục pháp
luật…. để từ đó giữ vững định hướng và nâng cao hiệu quả giáo dục pháp luật
khi gặp những trở ngại khách quan.
Thứ hai: Tiếp cận giáo dục pháp luật theo nghĩa hẹp còn có ý nghĩa trong
cảm và lòng tin vào pháp luật ở mỗi công dân. Hơn nữa, tri thức pháp luật còn
giúp cho mỗi con người tổ chức một cách có ý thức hoạt động của mình và tự
đánh giá, kiểm tra, đối chiếu với các chuẩn mực của pháp luật. Mục đích này
đặc biệt quan trọng trong điều kiện nước ta hiện nay, khi mà sự hiểu biết pháp
9
luật của nhân dân và cán bộ còn ở mức thấp. Đặc biệt là những vùng cao,
vùng biên giới vùng đồng bào dân tộc ít người chiếm đa số còn chịu ảnh
hưởng nặng nề của các tập quán cổ hủ, lạc hậu, cán bộ chính quyền cấp xã xử
lý công việc phần lớn dựa vào kinh nghiệm và tình cảm mà không phải căn cứ
vào pháp luật. Mặt khác, công tác giáo dục pháp luật chưa được coi trọng dẫn
đến tình trạng kỷ cương phép nước chưa nghiêm, hiệu quả hoạt động của bộ
máy nhà nước chưa cao, làm giảm hiệu lực của pháp luật.
- Mục đích cảm xúc: Nhằm hình thành tình cảm và lòng tin đối với pháp
luật. Mục đích này hết sức quan trọng vì nếu có tri thức pháp luật mà không
có tình cảm tôn trọng và lòng tin vào pháp luật cũng như các cơ quan bảo vệ
pháp luật thì thường dẫn đến con người dễ hành động lệch khỏi các chuẩn
mực của pháp luật mà Nhà nước đã đề ra. Mục đích xúc cảm của pháp luật
bao gồm việc giáo dục tình cảm công bằng và trách nhiệm, tình cảm không
khoan nhượng với hành vi vi phạm pháp luật và tinh thần pháp chế. Tất cả
những tình cảm này có quan hệ và phụ thuộc vào nhau.
- Giáo dục tình cảm công bằng đó là giáo dục cho con người biết đánh
giá hành vi đúng, sai, ủng hộ cái đúng, đấu tranh với cái sai, điều chỉnh hành
vi của chính mình theo các quy phạm pháp luật.
Giáo dục tình cảm trách nhiệm đó là quá trình làm cho một người ý thức
được những nghĩa vụ pháp lý cơ bản của mình, thực hiện những hành vi theo
yêu cầu của pháp luật.
Giáo dục tình cảm không khoan nhượng được những hành vi vi phạm
pháp luật đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành ý thức pháp luật của
cá nhân
Giáo dục tình cảm pháp chế hướng vào việc hình thành ý thức tuôn thủ
tiến hành giáo dục pháp luật phải hướng hoạt động giáo dục pháp luật vào cả
11
ba mục đích trên. Tuy nhiên để đạt được những mục đích đó cần phải cân
nhắc, tính toán, lựa chọn từng mục đích để có các hình thức và phương pháp
giáo dục pháp luật thích hợp cho từng đối tượng cụ thể.
1.1.3. Chủ thể của giáo dục pháp luật:
Trong khoa học pháp lý chủ thể giáo dục pháp luật được hiểu theo hai nghĩa:
Nghĩa rộng: là tất cả mọi cơ quan, tổ chức, cá nhân tham gia vào quá
trình giáo dục pháp luật.
Nghĩa hẹp: là con người cụ thể có năng lực pháp luật, có trình độ chuyên
môn, có lập trường chính trị vững vàng, đạo đức nhân cách.
Theo nghĩa hẹp thì chủ thể giáo dục pháp luật có hai loại, đó là:
Chủ thể chuyên nghiệp: là những người có chức năng, nhiệm vụ chủ yếu
là giáo dục pháp luật, trực tiếp thực hiện giáo dục pháp luật như các báo cáo
viên, tuyên truyền viên pháp luật, giảng viên pháp luật trong các nhà trường,
cán bộ chỉ đạo ở hệ thống các cơ quan Đảng, Nhà nước, tổ chức xã hội… Đây
là những chủ thể quan trọng và chủ yếu của giáo dục pháp luật.
Chủ thể không chuyên nghiệp: là những cá nhân và tổ chức tuy chức
năng chính không phải là giáo dục pháp luật nhưng thông qua các hoạt động
chuyên môn, nghiệp vụ của mình đã tham gia tích cực vào việc thực hiện các
mục tiêu, nội dung của giáo dục pháp luật. Những người này bao gồm: đại
biểu Quốc hội, đại biểu HĐND các cấp, các cán bộ của các cơ quan hành
pháp, tư pháp, những người làm công tác trợ giúp tư vấn pháp luật….
Ngoài hai chủ thể trên chủ thể của giáo dục pháp luật còn là các công
dân, bằng sự tôn trọng giáo dục, bằng ý thức trách nhiệm và gương mẫu thực
hiện pháp luật mà có ảnh hưởng đến các công dân khác trong xã hội.
1.1.4. Đối tượng của giáo dục pháp luật:
Đối tượng của giáo dục pháp luật là các cá nhân, công dân hay nhóm
cộng đồng công dân, tiếp nhận trực tiếp hay gián tiếp tác động của các hoạt
động giáo dục pháp luật tiến hành nhằm đạt được mục đích đề ra.
phần kinh tế. Thực tế đã chứng minh nền kinh tế phát triển với tốc độ tăng
trưởng kinh tế khá cao và phát triển tương đối toàn diện. Bên cạnh những kết
quả đạt được vẫn còn những hạn chế, đáng kể như hoạt động kinh doanh của
các doanh nghiệp còn mang tính tự phát, thiếu trật tự kỷ cương, nhiều mặt trái
của nền kinh tế thị trường không ngừng phát sinh như: nạn tham ô buôn lậu,
làm hàng giả, hàng kém chất lượng, ô nhiễm môi trường chưa được ngăn
chặn, khắc phục một cách triệt để gây ra nhiều hậu quả nghiêm trọng, làm ảnh
hưởng xấu đến nền kinh tế.
Để khắc phục tình trạng nêu trên, Nhà nước phải không ngừng xây dựng
mới, bổ sung, loại bỏ những văn bản không còn phù hợp để có một hệ thống
pháp luật kinh doanh hoàn chỉnh cả về nội dung và hình thức, đồng thời,
thường xuyên giáo dục pháp luật để các doanh nghiệp nắm vững các quy định
của pháp luật chuyên ngành, pháp luật về kinh tế, tài chính, thương mại, đầu
tư, hội nhập kinh tế quốc tế….
Đối tượng giáo dục pháp luật là học sinh, sinh viên: Học sinh, sinh viên
là thế hệ tương lai của đất nước, ngoài việc đào tạo các ngành nghề chuyên
môn thì việc giáo dục ý thức pháp luật đây là việc rất quan trọng đặc biệt
trong giai đoạn hiện nay khi đất nước ta đang thực hiện chính sách mở cửa
cùng với sự phát triển mọi mặt của đời sống xã hội thì các tệ nạn xã hội cũng
xâm nhập và gia tăng như lối sống thực dụng, sống gấp, các trò chơi bạo lực,
sex, ma túy, mại dâm…. Do đặc điểm về tâm sinh lý học sinh, sinh viên là đối
tượng dễ chịu ảnh hưởng trực tiếp của môi trường xã hội. Vì thế, giáo dục
pháp luật cho học sinh, sinh viên cần dựa theo lứa tuổi, giới tính, ngành nghề
đào tạo, bằng nhiều hình thức, trong đó chú ý giảng dạy pháp luật ở các
trường học.
14
Đối tượng giáo dục pháp luật là các tầng lớp nhân dân. Đây là đối tượng
đông đảo nhất trong xã hội. Khi giáo dục pháp luật cho đối tượng này cần dựa
vào đặc điểm lứa tuổi giới tính, nghề nghiệp, địa bàn sinh sống. Đặc biệt là
nhóm người cần được Nhà nước quan tâm bảo vệ như phụ nữ và trẻ em.
Nếu như chỉ có nội dung giáo dục tốt mà không có một hình thức giáo
dục pháp luật phù hợp thì mục đích của giáo dục pháp luật không đạt được
như mong muốn.
Trên cơ sở khái niệm này cho thấy hình thức giáo dục pháp luật chính là
hình thức tổ chức hoạt động phù hợp giữa chủ thể giáo dục và đối tượng giáo
dục pháp luật, được quy định bởi nội dung và mục đích giáo dục pháp luật.
Hình thức giáo dục pháp luật được chia làm hai loại: Hình thức giáo dục
pháp luật mang tính phổ biến truyền thống, được thực hiện trực tiếp giữa chủ
thể giáo dục pháp luật với đối tượng như: nói chuyện pháp luật tại các cơ quan
nhà nước, địa bàn dân cư, hội nghị, hội thảo pháp luật hoặc thông qua các
phương tiện thông tin như báo chí, đài phát thanh, các cuộc thi tìm hiểu pháp
luật, thông tin cổ động. Hình thức giáo dục pháp luật mang tính đặc thù là gắn
hoạt động giáo dục pháp luật thông qua hoạt động lập pháp, hình pháp, tư pháp
của các cơ quan của các cơ quan nhà nước như Quốc hội, Chính phủ, Tòa án,
Viện kiểm sát. Hình thức này được thực hiện bởi các chủ thể là công chức nhà
nước, các luật gia, hoặc các luật sư đang công tác tại các tổ chức nghề nghiệp.
1.1.7. Phương pháp giáo dục pháp luật.
Phương pháp giáo dục nói chung dưới góc độ lý luận học giáo dục được
hiểu là cách thức, biện pháp sử dụng để truyền đạt và lĩnh hội của nhà giáo
dục nhằm đạt đến mục đích giáo dục.
16
Trên cơ sở quan niệm này phương pháp giáo dục pháp luật được hiểu là
tổng thể cách thức, biện pháp mà chủ thể và đối tượng giáo dục pháp luật sử
dụng để nhằm thỏa mãn mục đích truyền đạt và lĩnh hội nội dung giáo dục
pháp luật.
Hiệu quả của công tác giáo dục pháp luật không chỉ phụ thuộc vào nội
dung mà còn phụ thuộc vào phương pháp giáo dục pháp luật. Bởi vì, để
chuyển tải được nội dung giáo dục pháp luật đòi hỏi chủ thể giáo dục pháp
luật phải có cách thức, biện pháp tác động phù hợp với khả năng tiếp nhận
của đối tượng. Có phương pháp giáo dục pháp luật tốt là một trong những yếu
việc trong các cơ quan, hạ sỹ quan chuyên nghiệp.
g, Những người do bầu cử để đảm nhiệm, chức vụ theo nhiệm kỳ trong
thường trực hội đồng nhân dân; Ủy ban nhân dân, Bí thư, phó bí thư Đảng ủy,
người đứng đầu tổ chức chính trị - xã hội, xã, phường, thị trấn (sau đây gọi là
cấp xã).
h, Những người được tuyển dụng, giao giữ một chức danh chuyên môn
nghiệp vụ thuộc ủy ban nhân dân cấp xã.
Ngoài công chức ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện còn một số bộ phận
công chức xã. Việc điều chỉnh pháp luật đối với cán bộ, công chức cấp xã là
một bước đột phá, thể hiện sự thay đổi nhận thức có tính căn bản của các cơ
quan Nhà nước trong tiến trình cải cách nền hành chính Nhà nước ở Việt
Nam. Đây là lần đầu tiên cán bộ, công chức cấp xã có chế độ làm việc và
hưởng chính sách về cơ bản như cán bộ, công chức Nhà nước.
Trên cơ sở của pháp lệnh cán bộ công chức được sửa đổi, bổ xung năm
2003, Nghị định số 114/2003/NĐ- CP ngày 10/10/2003 của Chính phủ về cán bộ
công chức xã, phường, thị trấn đã quy định cán bộ công chức cấp xã bao gồm:
18
- Những người do bầu cử để đảm nhiệm chức vụ, theo nhiệm kỳ (gọi
chung là cán bộ chuyên trách cấp xã) gồm các chức vụ sau: Bí thư, phó bí thư
Đảng ủy, thường trực Đảng ủy (nơi không có bí thư chuyên trách công tác
Đảng); Bí thư, phó bí thư chi bộ (nơi chưa thành lập Đảng ủy cấp xã); Chủ
tịch, phó chủ tịch Hội đồng nhân dân, Chủ tịch, Phó chủ UBND; Chủ tịch
UBMTTQ; Bí thư đoàn Thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh; Chủ tịch Hội liên
hiệp phụ nữ, Chủ tịch – Hội nông dân và Chủ tịch – Hội Cựu Chiến binh.
- Những người được tuyển dụng, giao giữ một chức danh chuyên môn,
nghiệp vụ thuộc UBND cấp xã (gọi chung là công chức cấp xã) gồm các chức
danh; Trưởng Công an (nơi chưa bố trí được lực lượng công an chính quy);
Chỉ huy trưởng quân sự; Văn phòng thống kê; Địa chính - xây dựng; Tài
chính - Kế toán; Tư pháp - hộ tịch; Văn hóa - xã hội.
Bên cạnh đó, Nghị định số 121/2003/ NĐ - CP ngày 21 tháng 10 năm
Luật Cán bộ, công chức năm được Quốc hội nước cộng hòa xã hội chủ
nghĩa Việt Nam khóa XII, kỳ họp thứ 4 đã thông qua ngày 13 tháng 11 năm
2008 đã quy định: Cán bộ xã, phường, thị trấn (sau đây gọi chung là cấp xã)
là công dân Việt Nam được bầu cử giữ các chức vụ theo nhiệm kỳ trong
thường trực Hội đồng nhân dân, UBND, Bí thư, phó Bí thư Đảng ủy, người
đứng đầu tổ chức chính trị - xã hội; công chức cấp xã là là công dân Việt Nam
được tuyển dụng giữ một chức danh chuyên môn, nghiệp vụ thuộc UBND cấp
xã, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước. Cụ thể tại Điều 61
chương V quy định cán bộ, công chức cấp xã bao gồm:
* Cán bộ cấp xã gồm có:
- Bí thư, phó Bí thư Đảng ủy;
20
- Chủ tịch, Phó chủ tịch Hội đồng nhân dân;
- Chủ tịch, Phó chủ tịch Ủy ban nhân dân;
- Chủ tịch Ủy ban Mặt trận tổ quốc Việt Nam;
- Bí thư Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh;
- Chủ tịch Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam
- Chủ tịch Hội Nông dân Việt Nam( áp dụng đối với xã, phường, thị trấn
có hoạt động nông, lâm, ngư, diêm nghiệp và có tổ chức Hội Nông dân Việt);
- Chủ tịch Hội Cựu Chiến binh Việt Nam.
* Công chức cấp xã bao gồm:
- Trưởng Công an;
- Chỉ huy trưởng Quân sự;
- Văn phòng - Thống kê;
- Địa chính - xây dựng - đô thị và môi trường ( đối với phường, thị trấn)
hoặc địa chính - nông nghiệp - xây dựng và môi trường ( đối với xã );
- Tài chính - kế toán;
- Tư pháp - hộ tịch;
- Văn hóa - xã hội;
1.2.2. Đặc thù của giáo dục pháp luật cho cán bộ, công chức chính
thành dưới sự lãnh đạo của Đảng nên họ có bản lĩnh chính trị vững vàng, kiên
định đi theo con đường mà Đảng và Bác Hồ đã lựa chọn, trong mối quan hệ
với nhân dân thì được nhân dân tin yêu, kính trọng nên việc truyền đạt đường
lối, chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước đến với nhân
dân một cách dễ dàng hơn. Tuy nhiên, bên cạnh đó do nhiều nguyên nhân
khác nhau như tuổi tác, trình độ học vấn hạn chế, nên họ thiếu tính năng
động, sáng tạo, cập nhật những kiến thức pháp luật có nhiều khó khăn, xử lý
công việc thiếu tính khoa học, bảo thủ, chủ yếu dựa vào kinh nghiệm thực tế
và còn mang nặng tình cảm cá nhân.
22
Một số cán bộ trẻ được đào tạo cơ bản ở các trường Trung cấp, cao đẳng
chủ yếu là trường Cao đẳng Kinh tế kỹ thuật Điện Biên và Trường trung cấp
chính trị tỉnh. Họ là những người năng động sáng tạo, có kiến thức, được đào
tạo cơ bản, dễ thích ứng với cơ chế mới, khả năng tiếp thu pháp luật nhanh,
nhưng tuổi đời còn ít nên chưa có kinh nghiệm, e dè, lúng túng trong giải
quyết công việc.
CBCC chính quyền cấp xã là những người gần gũi với dân, hiểu được
nhu cầu, lợi ích, nguyện vọng, của nhân dân. Chính nhờ hiểu dân, thông thạo
phong tục, tập quán, tâm lý, của nhân dân trên địa bàn công tác nên đội ngũ
này dễ làm dân tin và dân mến. Họ có điều kiện thuận lợi trong việc thuyết
phục vận động nhân dân thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng, chính
sách pháp luật của Nhà nước. Tuy nhiên, thực tế cho thấy còn không ít CBCC
chính quyền cấp xã chưa toàn tâm, toàn ý với công việc được giao, giải quyết
công việc còn mang nặng về tình cảm mà coi nhẹ kỷ cương, pháp luật. Cán
bộ, công chức chính quyền cấp xã ở vùng biên giới, vùng đồng bào dân tộc
thiểu số còn giải quyết công việc chủ yếu dựa vào luật tục, phép vua thua lệ
làng còn phổ biến. Vì vậy, giáo dục pháp luật cho CBCC chính quyền cấp xã
ở tỉnh Điện Biên hiện nay là một yêu cầu cấp bách. Để có thể áp dụng pháp
luật một cách đứng đắn trong xử lý công việc đòi hỏi các chủ thể pháp luật
phải am hiểu thấu đáo vào các ngành luật và các văn bản pháp luật có liên
hình thức giáo dục pháp luật cho CBCC chính quyền cấp xã tỉnh Điện Biên
cũng hết sức đa dạng và phong phú.
Hình thức giáo dục pháp luật chủ yếu cho đối tượng này chủ yếu thông
qua việc dậy và học ở Trường chính trị Tỉnh, Trường Cao Đẳng kinh tế tỉnh,
các Trung tâm chính trị Huyện. Đây là hình thức chủ yếu bởi ở đây họ được
trang bị một cách có hệ thống , đầy đủ những kiến thức cơ bản về đường lối
24
chủ trương của Đảng và pháp luật của Nhà Nước; những kiến thức cơ bản về
các ngành luật cụ thể có liên quan đến các quan hệ xã hội mà trực tiếp hàng
ngày họ phải sử dụng như Luật dân sự, Luật hành chính, Luật đất đai, các
kiến thức về QLNN, nghiệp vụ hành chính. Các giáo viên đã lựa chọn các
phương pháp phù hợp với nội dung giáo dục, với trình độ nhận thức, địa bàn
cư trú, của đối tượng. Chẳng hạn, ngoài phương pháp thuyết trình áp dụng
cho tất cả cho CBCC chính quyền cấp xã, ở nhiều môn học, bài giảng, giảng
viên đã áp dụng phương pháp xử lý tình huống. Còn đối với cán bộ trẻ thì áp
dụng phương pháp trả lời trắc nghiệm và bài tập trả lời nhanh.
Ngoài hình thức giáo dục pháp luật nói trên, giáo dục pháp luật cho
CBCC chính quyền cấp xã ở Điện Biên trong giai đoạn hiện nay còn thông
qua các hình thức khác như:
+ Định kỳ một quý một lần tổ chức Hội nghị để phổ biến, quán triệt nội
dung các văn bản quy phạm pháp luật mới cho cán bộ ở xã, phường, thị trấn
+ Tổ chức các cuộc thi, hội thi cho cán bộ cơ sở với mục đích giao lưu
và tìm hiểu pháp luật như cuộc thi Chủ tịch UBND xã, phường, thị trấn với
pháp luật; Cán bộ tư pháp với phong tục tập quán; hoà giải viên, tuyên truyền
viên giỏi
+ Giáo dục pháp luật CBCC chính quyền cấp xã còn được kết hợp thông
qua các hình thức sinh hoạt văn hóa, nghệ thuật dân tộc truyền thống của từng
dân tộc. Giáo dục pháp luật cho CBCC chính quyền cấp xã ở vùng sâu vùng
xa cần chú trọng các hình thức giáo dục như qua sách báo, Rađiô, chiếu phim,
phiên tòa lưu động, kết hợp với luật tục nhằm thúc đẩy sự phát triển luật tục