Thực trạng đội ngũ cán bộ công đoàn cơ sở ngành chế tạo máy tại Hà Nội hiện nay - Pdf 25

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

PHAN THỊ THANH XUÂN THỰC TRẠNG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ
CÔNG ĐOÀN CƠ SỞ NGÀNH CHẾ TẠO MÁY
TẠI HÀ NỘI HIỆN NAY

LUẬN VĂN THẠC SĨ XÃ HỘI HỌC Chuyên ngành Xã hội học
Mã số: 60 31 30
LUẬN VĂN THẠC SĨ XÃ HỘI HỌC Người hướng dẫn khoa học: TS. VŨ ĐẠT

Hà Nội - 2009

1
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

CNH-HĐH Công nghiệp hóa-Hiện đại hóa
CBCĐ Cán bộ công đoàn
CBCĐCS Cán bộ công đoàn cơ sở
CTM Chế tạo máy

Cơ cấu CBCĐ theo số năm công tác
Bảng 2.9
Đánh giá trình độ nghiệp vụ công đoàn của CBCĐCS
Bảng 2.10
Hình thức đào tạo nghiệp vụ công đoàn
Bảng 2.11
Phẩm chất, năng lực của CBCĐ qua đánh giá của NLĐ và cán bộ quản lý
Bảng 2.12
Đánh giá của CBCĐ, cán bộ quản lý và NLĐ về hoạt động của CBCĐCS
Bảng 2.13
Sự cần thiết phải nâng cao năng lực CBCĐCS
Bảng 2.14
Trình độ lý luận chính trị của CBCĐCS
Bảng 2.15
Trình độ ngoại ngữ của CBCĐCS theo chứng chỉ
Bảng 2.16
Khả năng sử dụng ngoại ngữ của CBCĐCS
Bảng 2.17
Khả năng sử dụng tin học của CBCĐCS
Bảng 2.18
Giới tính cán bộ quản lý và lao động ngành CTM tại Hà Nội
Bảng 2.19
Giới tính có khả năng thực hiện chức năng, nhiệm vụ CBCĐ tốt nhất
Bảng 2.20
Độ tuổi có khả năng thực hiện chức năng, nhiệm vụ CBCĐ tốt nhất
Bảng 2.21
Thu nhập của CBCĐCS, NLĐ và cán bộ quản lý
Bảng 2.22
Những lĩnh vực CBCĐ đƣợc đào tạo, bồi dƣỡng thêm
Bảng 2.23

triển đoàn viên và xây dựng đội ngũ công nhân. Cán bộ công đoàn cơ sở là ngƣời
gắn bó với hoạt động sản xuất-kinh doanh tại đơn vị, ngƣời gần gũi nhất đối với

4
công nhân, là bộ phận trực tiếp triển khai các hoạt động, thực hiện các chức năng,
nhiệm vụ của công đoàn tại cơ sở. Đổi mới tổ chức, nâng cao chất lƣợng đội ngũ cán
bộ, vì thế phải xuất phát từ cơ sở, trƣớc hết là giải quyết vấn đề con ngƣời-nhân tố
đảm nhận tác động kép: vừa là mục tiêu vừa là động lực của quá trình phát triển.
Có thể nói: Chế tạo máy là một trong những ngành cơ khí ra đời sớm nhất và
có những thời kỳ phát triển mạnh mẽ ở nƣớc ta. Thực tế cho thấy Chế tạo máy luôn
là một bộ phận không tách rời quá trình công nghiệp hoá, hƣớng tới mục tiêu dùng
sức máy thay cho sức ngƣời, đem lại năng suất và hiệu qủa cao. Trình độ phát triển
của ngành Chế tạo máy quyết định năng suất lao động, chất lƣợng sản phẩm của các
ngành công nghiệp khác, ảnh hƣởng đến nhịp độ phát triển khoa học - công nghệ và
khả năng quốc phòng và cả nhóm ngành dịch vụ. Trong những năm đổi mới, đặc biệt
là khi chuyển sang nền kinh tế thị trƣờng, cũng nhƣ nhiều ngành khác, cơ khí chế tạo
bị thả nổi, tự lo về mọi mặt. Do đặc thù là cần vốn đầu tƣ ban đầu rất lớn, chu kỳ sản
xuất dài, vòng quay vốn chậm, đòi hỏi tổ chức chuyên môn hóa cao nên nhiều doanh
nghiệp Chế tạo máy gặp không ít khó khăn. Nhận thức đƣợc điều này, bắt đầu từ Đại
hội VIII, Đảng và Nhà nƣớc ta đã đặt ra mục tiêu vực dậy ngành này cùng với nhiều
chính sách ƣu đãi. Trong thời đại ngày nay, vai trò của cơ khí CTM ngày càng đƣợc
nâng lên cùng với quá trình hiện đại hoá thông qua việc tăng hàm lƣợng khoa học kỹ
thuật vào lĩnh vực này. Nghiên cứu cơ cấu đội ngũ CBCĐCS ngành CTM vì thế sẽ
góp phần nâng cao hiệu quả tham gia của công đoàn và NLĐ vào sự phát triển chung
của ngành, cùng với nó là sự thúc đẩy hoàn thành công cuộc CNH-HĐH đất nƣớc.
Mặt khác, kết quả nghiên cứu sẽ đóng góp vào việc nhận thức thực trạng và xây
dựng chiến lƣợc xây dựng cơ cấu CBCĐCS nói chung và CBCĐ Việt Nam nói riêng
một cách hợp lý và hiệu quả. Với thời gian và điều kiện hạn chế, chúng tôi nghĩ đến
việc tìm hiểu thực trạng cơ cấu CBCĐCS ngành CTM trong giai đoạn hiện nay
thông qua nghiên cứu tại một địa phƣơng phát triển ngành này-Hà Nội.

Lê Hữu Xanh làm chủ nhiệm đã rút ra đƣợc một yêu cầu mang tính phổ biến đối với
việc xây dựng đội ngũ cán bộ là cơ cấu đội ngũ cán bộ chỉ có thể hợp lý khi nó có
tính đại diện và tính tiêu biểu. Đề tài tập hợp nhiều bài viết về cơ cấu và tiêu chuẩn

6
cán bộ, trong đó có khẳng định: “Từ Đại hội VI của Đảng tới nay, đi đôi với lãnh
đạo Nhà nƣớc, Đảng ta rất coi trọng đổi mới công tác vận động quần chúng và một
lần nữa vấn đề CBCĐ lại đƣợc đặt ra với sự bức xúc mới” [30, 130].
Vấn đề cán bộ cơ sở cũng đƣợc đề cập trong một số nghiên cứu. Tuy nhiên,
đối tƣợng nghiên cứu chủ yếu là cán bộ ở các cơ quan công quyền. Tác giả Nguyễn
Đức trong bài viết “Về đội ngũ cán bộ, công chức xã, phƣờng, thị trấn” đƣa ra kết
luận: “Nhiều cán bộ, công chức cơ sở chƣa đƣợc đào tạo bài bản và có hệ thống,
lƣợng cán bộ chƣa đạt chuẩn còn cao” [33, 9]. Theo ông, đổi mới nội dung, hình
thức công tác cán bộ và đào tạo cán bộ phải gắn liền với vấn đề chức danh và mức
phụ cấp tƣơng ứng. Còn tác giả Trần Quang Nhiếp, Tạp chí Cộng sản số 8 tháng
3/2003 khi bàn về vấn đề “Xây dựng đội ngũ cán bộ cơ sở” thì khẳng định cần phải
nâng cao nhận thức về vị trí, vai trò của cán bộ cơ sở; đổi mới công tác khảo sát, quy
hoạch, thu hút và sử dụng cán bộ.
Tiếp cận từ quan điểm giới và phát triển, tác giả Võ Thị Mai với bài viết “Bình
đẳng giới trong việc nâng cao năng lực lãnh đạo của cán bộ nữ trong hệ thống chính
trị” đăng trên Tạp chí Xã hội học số 4 (96)/2006 cho rằng: “Năng lực của đội ngũ
cán bộ nữ ở cả ba khối (Đảng, Chính quyền, Đoàn thể chính trị-xã hội) và 4 cấp
(Trung ƣơng, tỉnh, huyện, xã) từng bƣớc đƣợc nâng lên và có những chuyển biến
theo hƣớng tích cực” [69, 66] song vẫn cần phải tiếp tục xem xét, chú trọng “xây
dựng một cơ cấu giới hợp lý trong tập thể lãnh đạo cân xứng giới” [69, 72]. Tác giả
Nguyễn Thị Ninh khi nghiên cứu “Công tác cán bộ nữ trong sự nghiệp CNH-HĐH
đất nƣớc” trên Tạp chí Cộng sản số 778, tháng 6/2008 thì chú ý phân tích nguyên
nhân khiến cán bộ nữ chiếm tỷ lệ thấp trong lực lƣợng cán bộ. Theo đó, định kiến
giới và sự hạn chế về cơ hội đƣợc tham gia đào tạo, bồi dƣỡng nâng cao trình độ,
năng lực khiến ngƣời phụ nữ bị kìm hãm trong việc phát triển sự nghiệp.

những công trình đã nỗ lực dựng bức tranh về thực trạng đội ngũ cán bộ hiện nay, có
công trình đề xuất đƣợc những giải pháp cụ thể cho việc nâng cao chất lƣợng đội
ngũ cán bộ. Tuy nhiên chƣa có một công trình nghiên cứu Xã hội học nào đề cập

8
trực tiếp đến vấn đề cơ cấu CBCĐ, cơ cấu đội ngũ CBCĐCS tại Việt Nam hoặc
trong ngành CTM Việt Nam.
Chính vì những lẽ trên, tác giả đã lựa chọn đề tài “Thực trạng đội ngũ cán bộ
công đoàn cơ sở ngành Chế tạo máy tại Hà Nội hiện nay”. Kế thừa có chọn lọc
những công trình nghiên cứu đã có, vận dụng các phƣơng pháp nghiên cứu khoa học,
đặc biệt là các phƣơng pháp đặc thù của Xã hội học, tác giả đã cố gắng đƣa ra những
kiến giải riêng về đề tài đƣợc lựa chọn.
3. Mục đích nghiên cứu
- Mô tả thực trạng CBCĐCS ngành CTM trên địa bàn Hà Nội, mức độ đáp
ứng yêu cầu hoạt động của lực lƣợng cán bộ này trong giai đoạn hiện nay;
- Áp dụng một số khái niệm, lý thuyết xã hội học để nghiên cứu một vấn đề xã
hội;
- Trên cơ sở nguyên cứu, đề ra các giải pháp nâng cao chất lƣợng đội ngũ
CBCĐCS ngành CTM trên địa bàn Hà Nội đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp CNH-HĐH.
4. Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn
4.1. Ý nghĩa khoa học
Đề tài đƣợc thực hiện nhằm mô tả thực trạng cơ cấu CBCĐCS của một ngành
nghề cụ thể thuộc nhóm ngành công nghiệp cơ khí và bƣớc đầu chỉ ra bản chất, quy
luật và xu hƣớng chuyển dịch cơ cấu đội ngũ CBCĐCS trong thời kỳ mới.
Qua đề tài, chúng tôi đã áp dụng một số lý thuyết, khái niệm, phạm trù,
phƣơng pháp nghiên cứu Xã hội học, đặc biệt là những khái niệm, phạm trù liên
quan đến cơ cấu xã hội để tìm hiểu một vấn đề thực tiễn. Từ kết quả nghiên cứu,
luận văn cũng góp phần bổ sung cho việc hoàn thiện một số khái niệm, phạm trù
nghiên cứu Xã hội học về cơ cấu xã hội.
4.2. Ý nghĩa thực tiễn

trên hai nguyên lý: Nguyên lý về sự phát triển và nguyên lý về mối liên hệ phổ biến.
C. Mác nhận định rằng: Quá trình phát triển của xã hội loài ngƣời là một quá
trình lịch sử tự nhiên. Đó là sự kế tiếp nhau của năm hình thái kinh tế-xã hội mà
thực chất là năm phƣơng thức sản xuất: Cộng sản nguyên thuỷ, chiếm hữu nô lệ,
phong kiến, tƣ bản chủ nghĩa và cộng sản chủ nghĩa. Giữa các hình thái kinh tế-xã
hội khác nhau có một bƣớc chuyển tiếp, đó là thời kỳ quá độ. Ở mỗi thời kỳ phát
triển lại có một cơ cấu xã hội tƣơng ứng. Đó là một tổng thể đa dạng, phức tạp và
luôn vận động, biến đổi không ngừng.
Cũng theo chủ nghĩa Mác-Lênin, mỗi sự vật, hiện tƣợng đều tồn tại trong mối
quan hệ ràng buộc hữu cơ, tác động qua lại trong mâu thuẫn và vận động trong sự
phát triển không ngừng của lịch sử. Không có sự “tách rời, chết cứng”. Cũng chính
vì có mối quan hệ với nhau, một khi sự vật này thay đổi sẽ có sự tác động đến sự vật
kia.
Thấm nhuần lý luận trên, khi nghiên cứu thực trạng đội ngũ CBCĐCS ngành
CTM, ta phải đứng trên quan điểm hệ thống, toàn diện, lịch sử, cụ thể và phát triển.
Nói cách khác, nghiên cứu về đội ngũ CBCĐCS ngành CTM trên địa bàn Hà Nội
phải đặt nó trong thời kỳ nhất định. Phƣơng pháp luận trên cho phép chúng ta khẳng
định rằng cùng với sự nghiệp đổi mới đất nƣớc, sự biến đổi cơ cấu đội ngũ CBCĐ là
tất yếu. Cũng trên cơ sở phƣơng pháp luận chung, chúng ta sẽ có cách nhìn toàn diện
hơn, khoa học hơn về cơ cấu của đội ngũ CBCĐCS ngành CTM tại Hà Nội và thực
trạng về vai trò của họ trong giai đoạn hiện nay, từ đó tìm ra những giải pháp nhằm
đổi mới cơ cấu đội ngũ CBCĐ theo xu hƣớng phù hợp quy luật.
6.2. Phƣơng pháp nghiên cứu
6.2.1. Phƣơng pháp phân tích tài liệu

11
Để khai thác những thông tin cần thiết, chúng tôi đã tiến hành chọn lọc, phân
tích tài liệu sẵn có, chủ yếu là số liệu, báo cáo thống kê của Tổng Liên đoàn Lao
động Việt Nam, Công đoàn Công Thƣơng Việt Nam, các công đoàn tổng công ty
trong ngành CTM kết hợp với tài liệu, tham luận hội thảo của Hiệp hội Cơ khí Việt

ngày 12/4/1958, là một trong những đơn vị dẫn đầu về ngành cơ khí chế tạo của Việt
Nam. Trong những năm qua, công ty gặp nhiều khó khăn nhƣng công đoàn đã nỗ lực
tham gia quản lý và đảm bảo quyền lợi cho NLĐ. Hiện nay công ty có 700 lao động
làm việc trong 5 xí nghiệp. Tổng số CBCĐ là 85 ngƣời.
- Công ty Cổ phần Khuôn mẫu chính xác và Máy CNC: đƣợc thành lập
ngày 09/3/2001, hoạt động trong các lĩnh vực: Sản xuất vật liệu, nhôm, nhựa
composite, sản xuất-kinh doanh khuôn mẫu chính xác, máy công cụ, máy điều khiển
CNC, vật tƣ, máy, các thiết bị công nghiệp và hàng cơ khí tiêu dùng. Tổng số cán
bộ, công nhân, lao động toàn công ty hiện nay là 100, trong đó có 15 CBCĐ.
. Luận văn sử dụng cách chọn mẫu cụm kết hợp mẫu phân tầng và ngẫu nhiên hệ
thống. Dung lƣợng mẫu là 300, chuyển phiếu điều tra tới 130 CBCĐ, 45 cán bộ
quản lý, 125 NLĐ (trực tiếp: 74, gián tiếp: 51). Tổng số phiếu thu về hợp lệ là: 296,
trong đó CBCĐ: 130, cán bộ quản lý: 43, NLĐ: 123 (trực tiếp: 73, gián tiếp: 50). Dữ
liệu thu thập đƣợc qua quá trình khảo sát bằng bảng hỏi đƣợc xử lý chủ yếu bằng
SPSS 15.0 kết hợp với phân tích định tính đối với một số biến số.
6.2.2.2. Phỏng vấn sâu
Để đảm bảo chất lƣợng thông tin, nhằm tìm hiểu sâu hơn về bản chất của vấn
đề nghiên cứu đồng thời có hƣớng giải thích định tính cho vấn đề này, chúng tôi đã
tiến hành 10 phỏng vấn sâu với 11 đối tƣợng có các đặc điểm phù hợp với mục tiêu
nghiên cứu, bao gồm 6 CBCĐCS, 1 cán bộ quản lý, 1 công nhân và 3 chuyên gia
công đoàn.
Ngoài ra, luận văn còn sử dụng một số phƣơng pháp hỗ trợ khác nhƣ phƣơng
pháp so sánh, phƣơng pháp lịch sử…Để thu đƣợc kết quả nhƣ mong muốn, chúng tôi
đã cố gắng phối hợp linh hoạt các phƣơng pháp nói trên.

13

14
7. Khung lý thuyết và giả thuyết nghiên cứu.
7.1. Khung lý thuyết


CC theo
giới tính
CC theo
trình độ học
vấn, CM,
nghiệp vụ
CC theo
trình độ
lý luận
chính trị
CC theo
trình độ
ngoại ngữ
tin học
Tổ chức và hoạt động
Công đoàn Việt Nam

15
- Cơ cấu đội ngũ CBCĐCS ngành CTM tại Hà Nội biến đổi theo hƣớng trẻ hóa
độ tuổi, nâng cao trình độ về mọi mặt, đáp ứng yêu cầu hoạt động công đoàn trong
sự nghiệp CNH-HĐH.
8. Kết cấu của luận văn
Luận văn đƣợc xây dựng thành phần 3 phần bao gồm mở đầu, nội dung chính
và kết luận, kèm theo danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, trong đó nội dung
chính đƣợc chia thành 2 chƣơng.
- Chƣơng 1 trình bày cơ sở lý luận về đội ngũ CBCĐCS.
- Chƣơng 2 trình bày về cơ cấu đội ngũ CBCĐCS ngành CTM tại Hà Nội trong
giai đoạn hiện nay- thực trạng, nguyên nhân và xu hƣớng biến đổi, trong đó chú
trọng nghiên cứu phần thực trạng.

Đối với Nhà nƣớc, cán bộ chính là rƣờng cột, quyết định tính hiệu quả của
công việc bởi đó là những con ngƣời sử dụng lực lƣợng thực tiễn. Họ cũng là những
ngƣời tiên phong thực hiện chủ trƣơng, chính sách, pháp luật trong đời sống.

17
Trong lý luận cũng nhƣ trong thực tiễn hoạt động của mình, Chủ tịch Hồ Chí
Minh luôn đặt cán bộ ở vị trí quyết định. Theo ngƣời, “Cán bộ là cái gốc của mọi
công việc” [26, 269]. Bác ví “Cán bộ là cái dây chuyền của bộ máy. Nếu dây chuyền
không tốt, không chạy thì động cơ dù tốt, dù chạy, toàn bộ máy cũng tê liệt.” [26,
54]. Hồ Chủ tịch khẳng định: “Cán bộ là tiền vốn của đoàn thể. Có vốn mới làm ra
lãi.” [27, 46] và “muốn tổ chức và phát triển lực lƣợng xây dựng to lớn của giai cấp
công nhân thì cần có công đoàn mạnh và CBCĐ tốt” [46, 308]. Nhƣ vậy, Đảng, Nhà
nƣớc và Chủ tịch Hồ Chí Minh đều nhấn mạnh vị trí quan trọng của cán bộ và công
tác cán bộ. Chất lƣợng cán bộ gắn với việc xây dựng tiêu chuẩn cán bộ.
1.1.2. Tiêu chuẩn cán bộ
Đại hội X của Đảng nhấn mạnh: "Mục tiêu chung là xây dựng đội ngũ cán bộ
có bản lĩnh chính trị vững vàng, có đạo đức, lối sống lành mạnh, không quan liêu,
tham nhũng, lãng phí; có tƣ duy đổi mới, sáng tạo, có kiến thức chuyên môn, nghiệp
vụ, đáp ứng yêu cầu của thời kỳ đẩy mạnh CNH-HĐH; có tinh thần đoàn kết, hợp
tác, ý thức tổ chức, kỷ luật cao và phong cách làm việc khoa học, tôn trọng tập thể,
gắn bó với nhân dân, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm. Đội ngũ cán bộ
phải đồng bộ, có tính kế thừa và phát triển, có số lƣợng và cơ cấu hợp lý." [14, 292-
293].
Nhà nƣớc ta cũng rất chú trọng xây dựng hệ thống tiêu chuẩn cán bộ bằng các
văn bản pháp quy, tiêu biểu là Pháp lệnh cán bộ công chức. Đối với CBCĐ, Nhà
nƣớc cũng dành sự lƣu ý cụ thể, không chỉ trong lý luận mà cả trong hoạt động thực
tiễn. Gần đây, khi tiếp 90 CBCĐCS tiêu biểu 2009, Phó Chủ tịch nƣớc Nguyễn Thị
Doan cho rằng, trong bối cảnh hiện nay, CBCĐCS nói riêng và CBCĐ nói chung
cần hội tụ đủ 5 yêu cầu: biết lắng nghe, tiếp thu ý kiến của NLĐ; tôn trọng mọi sáng
tạo, những tham mƣu về giải pháp, tình huống do NLĐ đƣa ra; dám nói lên quan

là hình mẫu của các quan hệ xã hội hình thành và biến đổi trong điều kiện lịch sử cụ
thể. Parsons xem xét hệ thống trong một trục tọa độ ba chiều: chiều cấu trúc (hệ

19
thống nào cũng có cấu trúc của nó), chiều chức năng (hệ thống luôn nằm trong trạng
thái động, vừa tự biến đổi vừa trao đổi với môi trƣờng) và chiều kiểm soát (mọi hệ
thống đều có khả năng điều khiển và tự điều khiển). Marx nhấn mạnh tính đối kháng
trong hệ thống cơ cấu xã hội bao gồm các giai cấp, coi sự đấu tranh giữa các thành
tố cơ cấu xã hội chính là động lực của sự biến đổi của xã hội.
Dƣới cái nhìn của hệ thống lý thuyết này, chúng tôi xem xét cơ cấu đội ngũ
CBCĐCS ngành CTM tại Hà Nội trong cả hai trạng thái tĩnh và động, trong một hệ
thống hoàn chỉnh có sự tác động qua lại giữa các bộ phận của nó và trong quan hệ
với môi trƣờng bên ngoài, không chỉ xem xét cơ cấu ở thực trạng mà còn tìm hiểu
nguyên nhân và xu hƣớng biến đổi của nó ngõ hầu tìm ra giải pháp định hƣớng cho
một sự chuyển dịch cơ cấu hợp lý và đồng bộ.
Trong khi vận dụng lý thuyết cấu trúc-chức năng, tác giả quan tâm đến hƣớng
nghiên cứu mạng lƣới xã hội-một cách tiếp cận mới với công cụ nghiên cứu đƣợc
xây dựng trên 4 định đề cơ bản: Một là các cá nhân cá thể hoá trong các mối quan
hệ; hai là các kinh nghiệm đƣợc sử dụng và mang ý nghĩa trong các hệ thống các mối
quan hệ; ba là các mối quan hệ quyết định một phần các kinh nghiệm thực tế và các
biểu hiện của nó và cuối cùng, nghiên cứu các mối quan hệ giúp ta hiểu đƣợc các
hiện tƣợng xã hội. Các phân tích bằng thuyết mạng lƣới xã hội xuất hiện lần đầu tiên
năm 1954 trong bài viết của John A. Barnes, nhà xã hội học thuộc trƣờng phái
Manchester, công bố trên tạp chí “Quan hệ con ngƣời”. Những tƣ tƣởng tiên phong
xuất hiện trong triết học xã hội của Georg Simmel (đầu thế kỷ XX), tƣ tƣởng tâm lý
xã hội của Moreno (đầu những năm 30), nhân học cấu chức chức năng của Radcliffe
Brown, nhân học cấu trúc của Claude Levis-Strauss, ngôn ngữ học của Roman
Jakobson và các lý thuyết toán học (đại số tuyến tính, ma trận và các lý thuyết về đồ
thị). Đặc điểm về mặt cấu trúc của một mạng lƣới xã hội dựa trên các yếu tố: đặc
điểm của mối quan hệ (loại tƣơng tác) định hƣớng-không định hƣớng, đối xứng-phi

ngƣời khác, và vì vậy đƣợc đƣợc định hƣớng tới ngƣời khác” [31, 179]. Weber còn
phân chia bốn hành động xã hội, bao gồm hành động duy lý-công cụ đƣợc thực hiện
với sự cân nhắc, tính toán, lựa chọn công cụ, phƣơng tiện đạt hiệu quả tối ƣu; hành

21
động duy lý-giá trị đƣợc thực hiện với mục đích tự than, có thể mục đích là phi lý
nhƣng công cụ, phƣơng tiện thực hiện nó lại là duy lý; hành động cảm tính đƣợc gây
ra do trạng thái xúc cảm hoặc tính cảm bột phát, không tính đến mối quan hệ giữa
công cụ và mục đích hành động và hành động truyền thống là loại hành động tuân
thủ theo thói quen, nghi lễ, phong tục, tập quán truyền qua các thế hệ. Weber khẳng
định Xã hội học chủ yếu tập trung nghiên cứu loại hành động đầu tiên.
Các nhà Xã hội học theo thuyết hành động xã hội khẳng định có thể xây dựng
một mô hình nghiên cứu cấu trúc của hành động xã hội. Mô hình nhƣ sau:
[42,137]
Trong cấu trúc của hành động xã hội, chủ thể hành động có thể là cá nhân,
nhóm, cộng đồng hoặc toàn thể xã hội. Để có một hành động xã hội cần có tối thiểu
một chủ thể. Hành động xã hội bắt nguồn từ nhu cầu, động cơ của chủ thể, từ đó,
chủ thể lựa chọn công cụ, phƣơng tiện và đạt đến mục đích cuối cùng. Trong hành
trình đi từ nhu cầu, động cơ đến mục đích, chủ thể chịu tác động của yếu tố hoàn
cảnh, môi trƣờng. Nhƣ vậy, hành động xã hội là một cấu trúc bao gồm nhiều yếu tố
có mối quan hệ nhân-quả gắn kết chặt chẽ với nhau. Trong luận văn, lý thuyết đƣợc
vận dụng để tìm hiểu sự hiểu biết của CBCĐ về lĩnh vực chuyên môn, nghiệp vụ,
hoạt động thực tiễn của họ tại cơ sở, sự đánh giá của họ về các vấn đề nhƣ trình độ
cán bộ, những yếu tố ảnh hƣởng đến hiệu quả công tác, tính cần thiết phải nâng cao

các tổ chức trên; ngƣời đƣợc tuyển dụng, bổ nhiệm vào một ngạch công chức hoặc
giao giữ một công vụ thƣờng xuyên trong các tổ chức trên; ngƣời đƣợc tuyển dụng,
bổ nhiệm vào một ngạch viên chức; thẩm phán, kiểm soát viên Viện kiểm sát; ngƣời
đƣợc tuyển dụng, bổ nhiệm hoặc thƣờng xuyên làm việc trong Quân đội mà không
phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng, làm việc trong cơ
quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sỹ quan chuyên
nghiệp; những ngƣời do bầu cử để đảm nhiệm chức vụ lãnh đạo theo nhiệm kỳ trong
Thƣờng trực Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân, Bí thƣ, Phó Bí thƣ Đảng uỷ,
ngƣời đứng đầu tổ chức chính trị, chính trị-xã hội cấp xã và nhóm những ngƣời đƣợc
tuyển dụng, giao giữ một chức danh chuyên môn nghiệp vụ thuộc Uỷ ban nhân dân
cấp xã. Quy định này chỉ giới hạn khái niệm cán bộ gắn với công chức, viên chức.
Từ thực tế, chúng ta có thể hiểu “cán bộ” là khái niệm dùng chỉ những ngƣời
đƣợc bầu cử, bổ nhiệm, điều động hoặc đƣợc tuyển dụng, giao giữ một chức vụ nhất

Trích đoạn Ngành CTM tại Hà Nội hiện nay Cơ cấu theo độ tuổi Trình độ chuyên môn, nghiệp vụ Cơ cấu theo trình độ lý luận chính trị Cơ cấu theo trình độ ngoại ngữ, tin học
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status