ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
NGUYỄN HẢI LONG
ĐỔI MỚI HOẠT ĐỘNG GIÁM SÁT
CỦA HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN CẤP TỈNH
CHUYÊN NGÀNH: LÝ LUẬN VÀ LỊCH SỬ NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP
LUẬT
MÃ SỐ: 60 38 01
LUẬN VĂN THẠC SỸ LUẬT HỌC
đồng nhân dân cấp tỉnh. 18
1.1.3. Một số mô hình tổ chức chính quyền địa phương trên
thế giới. 20
1.1.4. Kinh nghiệm giám sát của cơ quan dân cử địa phương ở
một số nước. 22
1.2. Yêu cầu khách quan đổi mới hoạt động giám sát của Hội đồng nhân
dân cấp tỉnh 24
1.2.1. Khái niệm giám sát của Hội đồng nhân dân 24
1.2.1.1. Khái niệm 24 4
1.2.1.2. Phân biệt giám sát của HĐND và một số hình thức
giám sát khác. 27
1.2.2. Quá trình hình thành và phát triển chế định giám sát của Hội
đồng nhân dân cấp tỉnh. 30
1.2.2.1. Giai đoạn 1945- 1959 31
1.2.2.2. Giai đoạn 1959 - 1980 33
1.2.2.3. Giai đoạn 1980-1992 33
1.2.2.4. Giai đoạn 1992 -2003 35
1.2.2.5. Giai đoạn 2003 đến nay 36
1.2.3. Yêu cầu khách quan đổi mới hoạt động giám sát 38
1.2.3.1. Đổi mới hoạt động giám sát của HĐND cấp tỉnh đặt
trong yêu cầu chung về mới tổ chức bộ máy nhà nước. 38
1.2.3.2. Đổi mới hoạt động giám sát của HĐND cấp tỉnh
trong yêu cầu hội nhập quốc tế. 39
Chương 2. Thực trạng về hoạt động giám sát của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh 41
2.1. Thực trạng pháp luật về giám sát của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh 41
2.2. Thực trạng hoạt động giám sát của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh 44
2.2.1. Thực trạng hoạt động giám sát của Hội đồng nhân dân
6
3.4. Hoàn thiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về hoạt động giám
sát của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh. 111
3.5. Quy định cụ thể về hậu quả pháp lý của hoạt động giám sát. 114
3.6. Nâng cao các điều kiện đảm bảo phục vụ hoạt động giám sát 116
3.7. Một số vấn đề khác nâng cao hoạt động giám sát 117
Kết luận 119
Tài liệu tham khảo 120 7
MỞ ĐẦU
1. Sự cần thiết của việc nghiên cứu
Chính quyền địa phương gồm có Hội đồng nhân dân (HĐND) và Uỷ
ban nhân dân (UBND), là trung tâm , xương sống của hệ thống chính trị ở địa
phương, trong đó, HĐND giữ vai trò là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa
phương, đại diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của nhân dân. Vị
trí và vai trò của HĐND càng trở nên quan trọng khi chúng ta xây dựng nhà
nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, nhà nước của dân, do dân và vì dân.
HĐND có 2 chức năng chính là: quyết định và giám sát, hai chức năng
này bổ trợ cho nhau, giúp hoạt động của HĐND có hiệu quả. Hoạt động giám
sát của HĐND các cấp, trong đó có HĐND cấp tỉnh trong thời gian qua tuy đã
có đổi mới, được coi trọng hơn, toàn diện hơn và có tiến bộ, song chưa đáp
ứng được yêu cầu và mong đợi của người dân.
Kỳ họp thứ 4, Quốc hội khóa XI đã ban hành Luật tổ chức HĐND và
UBND (năm 2003), trong đó, một điểm mới là có riêng một chương quy định
về hoạt động giám sát của HĐND. Tiếp theo đó, Uỷ ban thường vụ Quốc hội
có Nghị quyết số 753/2005/NQ-UBTVQH11 ngày 02 tháng 4 năm 2005 ban
HĐND cấp tỉnh hiện tại, vừa đề xuất những vấn đề có tính chất pháp lý, khoa
học về tổ chức, phương pháp hoạt động giám sát của HĐND trong thời gian
tới. Với tinh thần đó, trong tình hình mới hiện nay, mục tiêu nghiên cứu là:
- Tổng kết các cơ sở lý luận hoạt động giám sát của HĐND cấp tỉnh;
- Nghiên cứu thực tiễn áp dụng những quy định của pháp luật về hoạt
động giám sát của HĐND cấp tỉnh; 9
- Nghiên cứu thực trạng hoạt động giám sát của HĐND, Thường trực
HĐND, các Ban của HĐND, đại biểu HĐND cấp tỉnh (trước và sau khi có
Luật tổ chức HĐND và UBND 2003, Quy chế hoạt động của HĐND2005), từ
đó rút ra những vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu, đề xuất các vấn đề nhằm từng
bước hoàn thiện cơ chế điều chỉnh của pháp luật đối với hoạt động giám sát
của HĐND cấp tỉnh.
- Nghiên cứu một cách có hệ thống những vấn đề liên quan đến hoạt
động giám sát của HĐND cấp tỉnh, đề ra giải pháp đổi mới, nâng cao hiệu
lực, hiệu quả của hoạt động giám sát.
- Ứng dụng kết quả nghiên cứu đề tài phục vụ cho việc Uỷ ban thường
vụ Quốc hội hướng dẫn hoạt động giám sát của HĐND trên cơ sở Luật tổ
chức HĐND và UBND 2003, Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật của
HĐND, UBND và Quy chế hoạt động của HĐND 2005.
Luận văn sẽ tập trung đưa ra các giải pháp nhằm hoàn thiện hoạt động
giám sát của HĐND cấp tỉnh cho phù hợp với tình hình hiện nay
4. Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu của đề tài giới hạn trong các lĩnh vực sau:
- Các tài liệu, tư liệu, văn bản pháp lý liên quan đến tổ chức và hoạt
động của HĐND.
- Các tài liệu, tư liệu, văn bản pháp lý liên quan đến hoạt động giám sát
của HĐND
11
Chương 3: Giải pháp đổi mới hoạt động giám sát của HĐND cấp tỉnh.
12
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC ĐỔI MỚI HOẠT ĐỘNG GIÁM SÁT
CỦA HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN CẤP TỈNH HIỆN NAY Ở NƢỚC TA
1.1. VỊ TRÍ, VAI TRÒ CỦA HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN CẤP TỈNH
TRONG BỘ MÁY NHÀ NƯỚC
Trên thế giới có nhiều học thuyết về tổ chức quyền lực nhà nước,
nhưng chủ yếu chỉ dừng ở tổ chức quyền lực nhà nước ở trung ương với việc
phân chia quyền lực giữa lập pháp, hành pháp và tư pháp, hoặc đề cập tới việc
phân cấp, phân quyền giữa trung ương và địa phương, giữa các cấp ở địa
phương. Lý luận mang tính học thuyết về tổ chức quyền lực nhà nước ở cấp
địa phương, cụ thể là cấp tỉnh, chưa hình thành rõ ràng. Trong 61 năm xây
dựng bộ máy chính quyền địa phương ở Việt Nam cũng chịu nhiều ảnh hưởng
của các tư tưởng khác nhau qua từng thời kỳ. Nhưng một nguyên lý cơ bản
nhất, xuyên suốt, đó là: HĐND là cơ quan dân cử ở địa phương, đại diện cho
nhân dân địa phương quyết định những vấn đề cơ bản ở địa phương, bầu ra cơ
quan hành pháp ở địa phương.
1.1.1. Vị trí, vai trò của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh qua các thời kỳ.
Xét về lịch sử hình thành chính quyền địa phương ở Việt Nam, chỉ 2
tháng sau khi cách mạng tháng tám năm 1945 thành công, Chủ tịch Hồ Chí
Minh đã ký Sắc lệnh số 63 ngày 22 tháng 11 năm 1945, Điều thứ nhất Sắc
lệnh nói rõ: “Để thực hiện chính quyền nhân dân địa phương trong nước Việt
Nam, sẽ đặt hai thứ cơ quan: Hội đồng nhân dân và Uỷ ban hành chính. Hội
nhà nước ở địa phương.
Trong thời gian từ 1946 đến 1954, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký một số
sắc lệnh như sắc lệnh 254, 255 ngày 19-11-1948 để chỉ ra cách tổ chức chính 14
quyền trong các vùng kháng chiến và trong các vùng tranh chấp. Trong đó,
đối với những vùng bị địch tạm kiểm soát hay uy hiếp chưa có HĐND, thì có
thể chỉ định ra một HĐND lâm thời (Điều 3, Sắc lệnh 255). Như vậy, dù trong
thời kỳ chiến tranh, việc bầu cử HĐND rất khó khăn nhưng về mặt tổ chức
chính quyền vẫn phải tuân thủ nguyên tắc ở bất cứ nơi nào có dân, có chính
quyền thì phải có HĐND.
Hiến pháp 1959 cũng có một chương với 19 điều quy định về cách thức
tổ chức của HĐND, chế độ hoạt động cũng như các mối quan hệ của HĐND.
Hiến pháp 1959 cũng như Luật tổ chức HĐND và Uỷ ban hành chính năm
1962 đều quy định vị trí của HĐND cấp tỉnh vẫn được giữ nguyên, hầu như
không có thay đổi so với Luật tổ chức chính quyền địa phương năm 1958.
Hiến pháp 1980 đã hoàn thiện quy định về tổ chức HĐND và UBND
lên một bước rõ rệt. Sau đó, Quốc hội đã thông qua Luật tổ chức HĐND và
UBND năm 1983 gồm 9 chương, 71 điều. Tuy nhiên, cũng như trước đây,
HĐND chỉ hoạt động chủ yếu thông qua kỳ họp, cơ quan chịu trách nhiệm
chung giữa hai kỳ họp HĐND là UBND và kỳ họp HĐND do UBND triệu
tập. Như vậy, vai trò của HĐND là tương đối mờ nhạt, việc quy định quyền
hạn phần nhiều mang tính hình thức.
Trong khi đang thực hiện Hiến pháp 1980 và Luật tổ chức HĐND và
UBND năm 1983, Đảng có chủ trương đổi mới, trong đó có việc sửa đổi về
tổ chức bộ máy nhà nước ở địa phương, dẫn đến việc ban hành Luật tổ chức
HĐND và UBND năm 1989. Lần sửa đổi này, một cơ quan mới, tổ chức mới
đã xuất hiện trong HĐND, đó là Thường trực HĐND cấp tỉnh và cấp huyện,
tổ chức này được hiểu là cơ quan hoạt động thường xuyên của HĐND giữa 2
những bước sơ khai ban đầu đã được xác định rõ ràng vai trò, vị trí trong Hiến 16
pháp và trong Luật tổ chức HĐND và UBND. Trong đó, HĐND cấp tỉnh luôn
được đề cao và có vị trí, vai trò to lớn trong bộ máy chính quyền địa phương,
đã có thời kỳ cấp kỳ, cấp khu tự trị và cấp huyện không có cơ quan dân cử
nhưng từ khi thành lập nước đến nay, chưa thời điểm nào không có HĐND cấp
tỉnh.
Cấp tỉnh là cấp trung gian giữa chính quyền trung ương và chính quyền
địa phương, nếu phân cấp giữa chính quyền trung ương và chính quyền địa
phương thì cấp tỉnh là cấp đầu tiên của chính quyền địa phương. Nếu cấp
trung ương là cấp đề ra chính sách thì cấp địa phương là cấp thực hiện chính
sách và cấp tỉnh là cấp quan trọng chuyển tải chính sách từ trung ương xuống
tới người dân và quyết định những vấn đề quan trọng ở địa phương. Xét dưới
góc độ tự chủ, quyền tự quản của nhân dân, thì cấp tỉnh là cấp có quyền tự
chủ tương đối cao so với cấp huyện và cấp xã, quyền quyết định lớn, có tác
động tới hoạt động của bộ máy nhà nước nói chung. Chính vì vậy, HĐND cấp
tỉnh càng khẳng định vị trí quan trọng trong hệ thống bộ máy nhà nước.
HĐND cấp tỉnh là cơ quan đại diện cho nhân dân, do nhân dân cử ra,
quyết định những vấn đề quan trọng ở địa phương, một cấp ngay dưới cấp
trung ương. Vì vậy, HĐND cấp tỉnh có vị trí, vai trò to lớn trong bộ máy
chính quyền địa phương, quyết sách những vấn đề trực tiếp ở địa phương, giải
quyết những khó khăn vướng mắc của nhân dân và quyết định đường hướng
phát triển cho kinh tế – xã hội ở địa phương mình.
Như vậy, HĐND có vai trò là cầu nối giữa cơ quan nhà nước cấp trên
với nhân dân địa phương, đồng thời có tính hai mặt: vừa đại diện cho nhân
dân địa phương, vừa đại diện cho quyền lực nhà nước ở cấp trên. Tổ chức
quyền lực ở Việt Nam theo mô hình phân công, phân nhiệm trong cùng cấp
và thống nhất quyền lực từ trung ương xuống địa phương. Như vậy, HĐND
1.1.2. Quan điểm của Đảng và tƣ tƣởng Hồ Chí Minh về Hội đồng
nhân dân cấp tỉnh.
Quá trình ra đời và phát triển HĐND các cấp ở nước ta là sự vận dụng
sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lê nin về nhà nước và các cơ quan dân cử kiểu mới
xã hội chủ nghĩa. Phong trào Xô viết - nghệ Tĩnh năm 1930, Quốc dân Đại
hội được triệu tập trong những ngày chuẩn bị cho cuộc tổng khởi nghĩa tháng
Tám năm 1945 là tiền thân của cơ quan dân cử xã hội chủ nghĩa. Đây chính là
bước tập dượt quan trọng đầu tiên, để lại những bài học kinh nghiệm quý giá
cho Đảng và nhân dân ta.
Đảng Cộng sản Việt Nam do Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập và lãnh
đạo đã quán triệt vận dụng đúng đắn sáng tạo những tư tưởng của chủ nghĩa
Mác- Lênin về xây dựng cơ quan dân cử xã hội chủ nghĩa vào thực tiễn cách
mạng Việt Nam. Sự ra đời và phát triển của cơ quan dân cử các cấp chính
quyền ở nước ta gắn liền với tên tuổi của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Trong cuộc
đời hoạt động của mình, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn luôn quan tâm, chăm lo
xây dựng Nhà nước Việt Nam của dân, do dân và vì dân. Sau Cách mạng
Tháng Tám thành công, các cơ quan dân cử từ trung ương đến địa phương
được chính thức thành lập với nguyên tắc tất cả quyền lực Nhà nước thuộc về
nhân dân, nhân dân thực hiện quyền lực của mình thông qua Quốc hội và
HĐND các cấp. Phát huy tinh hoa của dân tộc Việt Nam và nhận thức sâu sắc
Chủ nghĩa Mác-Lênin, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: "Nước ta là
nước dân chủ, địa vị cao nhất là dân, vì dân là chủ”. “Chính quyền từ xã đến
Chính phủ trung ương do dân cử ra” [30, tr.95]. Tư tưởng của Hồ Chí Minh
được thể hiện một cách đồng bộ, toàn diện và nhất quán trong những bài phát
biểu, bài viết, trong các Hiến pháp và những văn bản pháp luật quan trọng mà
Hồ Chí Minh trực tiếp chỉ đạo soạn thảo, chỉnh lý và ký lệnh ban hành như
Sắc lệnh 63 năm 1945 và nhiều sắc lệnh khác, Hiến pháp đầu tiên của Nhà 19
hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng, bên cạnh việc tiếp tục khẳng định
đổi mới tổ chức và hoạt động của HĐND nói chung, còn nhấn mạnh cần
“phát huy vai trò giám sát của HĐND”. Trong thời kỳ mới, để tiếp tục cải
cách và hoàn thiện Nhà nước, xây dựng Nhà nước ngày càng trong sạch, vững
mạnh và có hiệu quả, một trong những vấn đề quan trọng là nâng cao năng
lực của các cơ quan dân cử. Đặc biệt là tiếp tục đổi mới tổ chức và hoạt động,
nâng cao chất lượng hoạt động giám sát của HĐND. Đây là vấn đề có ý nghĩa
về nhiều mặt, cả về xã hội và pháp lý cũng như ý nghĩa khoa học và thực tiễn.
Như vậy, có thể thấy rằng quan điểm của Đảng ta từ khi xây dựng nhà
nước năm 1945 đến nay luôn đề cao vai trò của HĐND trong đó chú trọng
HĐND cấp tỉnh, cơ quan đại diện cho ý chí và nguyện vọng của nhân dân địa
phương. Trong thời kỳ đổi mới, một trong những chức năng của HĐND ngày
càng được nhấn mạnh, tập trung đổi mới là chức năng giám sát.
1.1.3. Một số mô hình tổ chức chính quyền địa phƣơng trên thế
giới.
Theo một số nhà nghiên cứu về chính quyền địa phương, trên thế giới
có 4 mô hình tổ chức chính quyền địa phương cơ bản:
- Mô hình Anh (Anh, Mỹ, Canada, Uc, Niu Dilân ). Điểm đặc biệt là
tính độc lập của hệ thống chính quyền địa phương, tính toàn năng của Hội đồng
(không có cơ quan mang tính chất như UBND giống ở Việt Nam). Như vậy,
quyền giám sát của Hội đồng (do dân bầu ra) không phát triển do đối tượng
giám sát chủ yếu (UBND- cơ quan chấp hành của HĐND) không tồn tại.
- Mô hình Pháp (Pháp, một số nước Nam Âu, nhiều nước Châu Mỹ La
tinh, Thái Lan). Điểm đặc biệt là đại diện của chính quyền trung ương ở các
cấp của địa phương và địa phương chịu sự song trùng giám sát. Bên cạnh cơ 21
quan Hội đồng còn có cơ quan hành pháp. Tuy nhiên, chính quyền trung ương
áp đặt rất nặng, làm hầu hết các việc nên chính quyền địa phương chỉ còn lại
Như phần trên đã trình bày về các mô hình tổ chức của chính quyền địa
phương trên thế giới, với mỗi mô hình khác nhau thì mối quan hệ giữa cơ quan
dân cử và cơ quan hành chính ở địa phương khác nhau, do đó, chức năng giám sát
của cơ quan dân cử (Hội đồng) cũng khác nhau. Mặt khác, yếu tố phát triển về
kinh tế, xã hội cũng quyết định quan trọng tới việc thực hiện quyền giám sát của
Hội đồng.
Na Uy là nước Bắc Âu phát triển, quy định của pháp luật về chức năng,
nhiệm vụ của cơ quan dân cử và cơ quan hành pháp cụ thể, rõ ràng, bên cạnh
đó, Hội đồng là cơ quan có quyền rất lớn, người đứng đầu cơ quan hành chính
do Hội đồng bổ nhiệm và chỉ là người thừa hành nên phương thức giám sát
cũng đơn giản, chủ yếu là giám sát nội bộ. Mối quan hệ giữa chính quyền địa
phương và trung ương là tương đối độc lập. Hội đồng không phải là cơ quan
có quyền giám sát trực tiếp mà quyền đó được giao cho các cơ quan do Hội
đồng bầu ra. Ông Lundevall, chuyên gia về cơ quan dân cử, cố vấn cấp cao
của dự án cho Văn phòng Chính phủ trong một Hội thảo về HĐND ở Việt
Nam có trình bày về hoạt động giám sát của Hội đồng ở Na Uy.
Một điểm đặc trưng khác của Hội đồng chúng tôi là về mặt
giám sát, chúng tôi tổ chức cơ chế giám sát nội bộ trong bộ máy,
trong tổ chức chứ không quá phụ thuộc vào hệ thống giám sát của cấp
trên hoặc hệ thống giám sát từ bên ngoài vào. Điều này được thực
hiện bằng cách Hội đồng bầu ra 2 Uỷ ban, một Uỷ ban kiểm toán của
Hội đồng và một Uỷ ban kiểm tra của Hội đồng. Uỷ ban kiểm tra và 23
Uỷ ban kiểm toán của Hội đồng sẽ kiểm tra kiểm toán mọi hành vi
hoạt động của hệ thống đó và báo cáo trực tiếp cho Hội đồng. Phục
vụ các Uỷ ban này có một ông tổng kiểm toán, ông này là một quan
chức hoàn toàn độc lập, không phải do cấp hành pháp của chính
quyền bổ nhiệm Uỷ ban kiểm toán và Uỷ ban kiểm tra này đảm bảo
khách quan của tất cả các Nhà nước ở mọi thời đại lịch sử. Việc tìm hiểu khái
niệm giám sát của cơ quan, tổ chức trong hệ thống chính trị không thể chung
chung như giám sát của nhà trường với học sinh, giám sát của bố mẹ với con
cái mà gắn với tính pháp lý của nó.
Xem xét các khái niệm giám sát, kiểm tra, kiểm sát, thanh tra dưới góc
độ này, theo Hiến pháp năm 1992, Nhà nước không chỉ ban hành Hiến pháp,
pháp luật để quản lý xã hội mà còn thường xuyên tiến hành hoạt động giám
sát, kiểm tra việc thực hiện Hiến pháp, pháp luật. Để bảo đảm thực hiện một
cách có hiệu quả chức năng, nhiệm vụ của các cơ quan nhà nước, bảo đảm pháp
chế xã hội chủ nghĩa, có thể nêu ra một số hình thức giám sát, kiểm tra của các
cơ quan nhà nước như: giám sát của Quốc hội, HĐND và Mặt trận Tổ quốc Việt
Nam; kiểm tra, thanh tra của hệ thống cơ quan hành pháp; kiểm tra, kiểm sát của
Viện kiểm sát nhân dân các cấp; kiểm tra của Toà án nhân dân (thông qua hoạt
động giám đốc thẩm). Ngoài ra, cơ quan nhà nước, cán bộ, công chức, viên chức
nhà nước còn chịu sự kiểm tra, giám sát của công dân, các tổ chức xã hội và
đoàn thể quần chúng đối với hoạt động của mình.
Có thể nêu một số điểm khác nhau giữa thẩm quyền giám sát của cơ
quan dân cử với chức năng giám sát, kiểm tra, thanh tra của các cơ quan nhà
nước khác như sau: 25
- Kiểm tra là khái niệm rộng, được hiểu là hoạt động thường xuyên của
cơ quan, tổ chức cấp trên với cơ quan, tổ chức cấp dưới nhằm xem xét, đánh
giá mọi mặt hoạt động của cấp dưới khi cần thiết, hoặc kiểm tra một vấn đề cụ
thể.
- Thanh tra là phạm trù dùng chỉ hoạt động của các tổ chức có chức
năng thanh tra, giữa chủ thể thanh tra và đối tượng thanh tra thường không có
quan hệ trực thuộc. Thanh tra là một chức năng quan trọng của cơ quan quản
lý nhà nước, là phương thức bảo đảm pháp chế, tăng cường kỷ luật trong quản
còn do nhiều cơ quan nhà nước khác thực hiện, tuỳ theo vị trí, chức năng,
thẩm quyền của các cơ quan này do pháp luật định mà hoạt động giám sát của
HĐND chỉ là 1 trong các hoạt động đó.
Theo cách hiểu chung, khái niệm “giám sát” có nội hàm gồm các yếu tố sau:
+ Là hoạt động xem xét, theo dõi, kiểm tra của một chủ thể;
+ Là phương thức bảo đảm cho công việc hoặc hoạt động được thực
hiện đúng theo quy định.
Như vậy, khái niệm “giám sát” dưới góc độ ngôn ngữ thông thường
được hiểu là: việc theo dõi, xem xét, kiểm tra của chủ thể có quyền đối với chủ
thể khác để qua đó có được các nhận định về hoạt động của chủ thể này.
Qua khái niệm “giám sát” nêu trên, có thể đưa ra năm nhận xét sau:
Thứ nhất, dùng để chỉ các hoạt động theo dõi, xem xét, kiểm tra đối với
đối tượng nhất định, từ đó đưa ra nhận định về một việc làm nào đó đã được
thực hiện đúng hay sai so với các quy định hiện hành;
Thứ hai, luôn phải gắn với một hoặc một số đối tượng cụ thể;