HOẠT ĐỘNG GIÁM sát của hội ĐỒNG NHÂN dân cấp TỈNH từ THỰC TIỄN TỈNH GIA LAI - Pdf 58

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYỄN THỊ TƯỜNG LINH

HOẠT ĐỘNG GIÁM SÁT CỦA HỘI ĐỒNG
NHÂN DÂN CẤP TỈNH TỪ THỰC TIỄN
TỈNH GIA LAI

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

ĐẮK LẮK – Năm 2019


VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYỄN THỊ TƯỜNG LINH

HOẠT ĐỘNG GIÁM SÁT CỦA HỘI ĐỒNG
NHÂN DÂN CẤP TỈNH TỪ THỰC TIỄN
TỈNH GIA LAI

Ngành: Luật Hiến pháp – Luật Hành chính
Mã số: 8.38.01.02

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS. TRẦN VĂN DUY

ĐẮK LẮK – Năm 2019


1. Tính cấp thiết của đề tài ................................................................................ 1
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài .................................................... 2
3. Mục đích nghiên cứu của luận văn ............................................................... 4
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu ................................................................. 4
4.1. Đối tượng nghiên cứu................................................................................. 4
4.2. Phạm vi nghiên cứu ................................................................................... 4
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu luận văn ..................................... 5
6. Ý nghĩa đóng góp mới về khoa học của luận văn ......................................... 5
7. Kết cấu của luận văn ..................................................................................... 5
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LÝ VỀ HOẠT ĐỘNG GIÁM SÁT
CỦA HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN CẤP TỈNH .................................................... 7
1.1. Khái niệm, vai trò hoạt động giám sát của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh ... 7
1.1.1. Khái niệm hoạt động giám sát của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh ............ 7
1.1.2. Vai trò hoạt động giám sát của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh ................ 11
1.2. Những yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động giám sát của Hội đồng nhân dân
cấp tỉnh ............................................................................................................ 14
1.2.1. Yếu tố thể chế pháp luật ........................................................................ 14
1.2.2. Yếu tố ý thức pháp luật của những cán bộ, công chức được tham gia
hoạt động giám sát .......................................................................................... 17
1.2.3. Yếu tố sự tham gia ủng hộ của các chủ thể chịu sự giám sát ............... 18
1.2.4. Yếu tố khác............................................................................................ 20
1.3. Chủ thể, đối tượng, hình thức giám sát của Hội đồng nhân dân tỉnh ...... 20
1.3.1. Chủ thể giám sát của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh................................ 20
1.3.2. Đối tượng giám sát của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh ............................ 21
1.3.3. Hình thức giám sát của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh ............................ 23


Tiểu kết chương 1............................................................................................ 27
Chương 2: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG GIÁM SÁT CỦA HỘI ĐỒNG

dân cử địa phương một số nước trên thế giới ................................................. 63
3.1.4. Hoàn thiện pháp luật về hoạt động giám sát của Hội đồng nhân dân tỉnh
phải phù hợp với xu hướng phát triển pháp luật toàn bộ hệ thống pháp luật,
đặc biệt hệ thống pháp luật về tổ chức và hoạt động hệ thống chính trị......... 64
3.2. Những giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động giám sát của Hội đồng
nhân dân cấp tỉnh............................................................................................. 65
3.2.1. Nhóm giải pháp thể chế......................................................................... 65
3.2.2. Nhóm giải pháp nâng cao năng lực các chủ thể thực hiện chức năng
hoạt động giám sát của Hội đồng nhân dân tỉnh Gia Lai ................................ 71
3.2.3. Nhóm giải pháp khác nhằm nâng cao chất lượng hoạt động giám sát của
Hội đồng nhân dân tỉnh Gia Lai ...................................................................... 74
Tiểu kết chương 3............................................................................................ 75
KẾT LUẬN CHUNG ...................................................................................... 76
DANH MỤC TÀI LIỆU KHAM KHẢO


DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Tên viết tắt

Tên gốc

BCH

Ban chấp hành

HĐND

Hội đồng nhân dân

TAND

Nhằm thực hiện vai trò là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương ,
thực hiện nguyên tắc tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân thì hoạt
động giám sát Hội đồng nhân dân (HĐND) là một trong những nhiệm vụ,
quyền hạn quan trọng nhất của (HĐND).
Quyết định những vấn đề quan trọng của địa phương và hoạt động giám
sát là hai chức năng chủ yếu và cơ bản nhất của HĐND cấp tỉnh. Trong hai
chức năng đó, giám sát có một vị trí, vai trò rất quan trọng bảo đảm HĐND
thực sự là cơ quan đại diện cho ý chí và nguyện vọng của nhân dân, thực hiện
đúng nguyên tắc quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân. Thực hiện tốt chức
năng giám sát là một trong những yêu cầu cơ bản để nâng cao hiệu quả hoạt
động của HĐND.
Trong những năm gần đây, HĐND tỉnh Gia Lai đã không ngừng đổi
mới nâng cao phương thức hoạt động, nâng cao chất lượng để ngày càng thực
hiện tốt hơn chức năng, nhiệm vụ của mình theo quy định của pháp luật, đóng
góp tích cực vào sự phát triển kinh tế- xã hội, an ninh quốc phòng của tỉnh
Gia Lai; phát huy vai trò làm chủ của nhân dân cũng như ngày càng củng cố
niềm tin, thu hút sự quan tâm, theo dõi và tham gia tích cực của nhân dân vào
các hoạt động giám sát của HĐND, góp phần đảm bảo cho hiệu lực, hiệu quả
hoạt động giám sát của HĐND tỉnh.
Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả, thành tích đạt được thì bên cạnh đó
hoạt động giám sát của HĐND tỉnh Gia Lai cũng còn bộc lộ những bất cập
hạn chế nhất định; trong thực tiễn, năng lực giám sát đối với việc tổ chức triển
khai thực hiện các quyết định quan trọng của HĐND tỉnh trên từng lĩnh vực
vẫn chưa thật sự hiệu quả, vẫn còn hạn chế; việc xây dựng chương trình, cách
thức tổ chức giám sát chưa thật sự khoa học;một số vụ việc tiêu cực của các

1


cơ quan, tổ chức, cá nhân ở địa phương chưa được phát hiện kịp thời; phương

- Nâng cao năng lực giám sát của HĐND cấp tỉnh trong điều kiện đổi
mới ở Việt Nam hiện nay, luận văn của Thạc sĩ Luật học Lê Minh Hậu, Học
viện Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh, 2018 [15]
- Quyền giám sát của HĐND và kỹ năng giám sát cơ bản, TS Phạm
Ngọc Ký (2011), Nxb. Tư pháp, Hà Nội.[20]
- Năng lực thực hiện chức năng giám sát của HĐND tỉnh Hải Dương đối với
quản lý hành chính nhà nước về đất đai, Luận văn Thạc sĩ Luật học, Nguyễn
Quang Hưng, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh 2017 [18].
- Trần Lan Anh (2018), Nâng cao hiệu lực giám sát của HĐND cấp
tỉnh trong điều kiện đổi mới ở Việt Nam hiện nay, Đại học Luật thành phố Hồ
Chí Minh [29]
- Nguyễn Hải Long (2016), Đổi mới hoạt động giám sát của HĐND
cấp tỉnh, Luận văn Thạc sỹ luật học, Khoa Luật - ĐHQGHN [17].
- Nguyễn Văn Thái (2014), Nâng cao hiệu quả giám sát của HĐND
tỉnh Bạc Liêu trong giai đoạn hiện nay, Đại học Luật thành phố Hồ Chí Minh
[19].
- Đề tài nghiên cứu khoa học của HĐND tỉnh Gia Lai(2014), Thực
trạng và những giải pháp nâng cao chất lượng giám sát của Thường trực
HĐND các cấp ở Gia Lai [8].
........
Tình hình trên cho thấy việc nghiên cứu hoạt động giám sát của HĐND
các tỉnh trong những năm qua đã được chú trọng và có bước phát triển đáng
kể. Nhìn chung, các đề tài dưới nhiều góc độ khác nhau đã đề cập đến các vấn
đề lý luận và thực tiễn trong hoạt động giám sát của HĐND như chủ thể giám
sát, đối tượng giám sát, hình thức giám sát..Tuy nhiên, Các công trình nghiên
cứu trên đã cung cấp một lượng kiến thức và thông tin khá đồ sộ về HĐND từ
góc độ tổ chức đến hoạt động. Tuy nhiên, những công trình nghiên cứu trên
mới nêu ra những nhận định khái quát, chưa nêu được những giải pháp phù
3




- Từ đó chỉ ra những hạn chế, bất cập trong những quy định pháp luật;
Đề ra những phương hướng, giải pháp hoàn thiện pháp luật về hoạt động giám
sát của HĐND.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
- Hoạt động giám sát của HĐND, Thường trực HĐND, các Ban của
HĐND, đại biểu HĐND cấp tỉnh tại Gia Lai.
- Các quy định của Hiến pháp 1946 - 1959 - 1980 - 1992 - Hiến pháp
sửa đổi 2002 và Hiến pháp hiện hành 2013, Luật Tổ chức chính quyền địa
phương năm 2015; Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân
dân năm 2015 và Quy chế hoạt động của HĐND các văn bản có liên quan
đến tổ chức và hoạt động của HĐND cấp tỉnh.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu của đề tài giới hạn trong các lĩnh vực sau:
- Các tài liệu, tư liệu, văn bản pháp lý liên quan đến tổ chức và hoạt
động giám sát của HĐND từ khi ban hành Hiến pháp năm 2013.
- Các báo cáo về hoạt động giám sát của HĐND tỉnh Gia Lai và các
loại văn bản khác có liên quan từ năm 2014 cho đến tháng 7 năm 2019.
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu luận văn
- Về mặt cơ sở lý luận: Luận văn được thực hiện trên cơ sở lý luận của
chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, về HĐND và chức năng giám
sát của HĐND nói chung và HĐND cấp tỉnh nói riêng.
- Phương pháp nghiên cứu cụ thể:
+ Phương pháp biện chứng, lịch sử: Xem xét pháp luật về giám sát của
HĐND theo từng thời kỳ. Mỗi giai đoạn sẽ có pháp luật phù hợp. Từ đó tìm
ra quy luật của sự phát triển pháp luật về hoạt động giám sát sao cho phù hợp
với từng giai đoạn của thực tiễn lịch sử.




Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LÝ VỀ HOẠT ĐỘNG GIÁM SÁT
CỦA HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN CẤP TỈNH
1.1. Khái niệm, đặc điểm, vai trò hoạt động giám sát của Hội đồng nhân
dân cấp tỉnh
1.1.1. Khái niệm hoạt động giám sát của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh
Giám sát liên quan đến chức năng, nhiệm vụ quan trọng của các cơ
quan HĐND, của đại biểu HĐND nhằm bảo đảm cho các quy định pháp luật
được triển khai, thực hiện đúng, đầy đủ và nghiêm túc. Hình thức giám sát
của HĐND gồm giám sát tại kỳ họp và giám sát trong thời gian giữa hai kỳ
họp. Giám sát của HĐND tại kỳ họp được tập trung vào các hoạt động cụ thể
như xem xét và thảo luận báo cáo công tác của Thường trực HĐND, UBND,
Tòa án nhân dân,Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp; báo cáo của UBND về
tình hình thi hành Hiến pháp, văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà
nước cấp trên và Nghị quyết của HĐND; thực hiện chất vấn và trả lời chất
vấn; lấy phiếu tín nhiệm, bỏ phiếu tín nhiệm đối với các chức danh do HĐND
bầu; xem xét báo cáo tổng hợp ý kiến kiến nghị của cử tri ở địa phương... Để
nhận thức đúng đắn bản chất, vai trò, nội dung và hình thức thực hiện chức
năng giám sát của HĐND nói chung, trước hết cần hiểu được khái niệm giám
sát. Hiện nay có rất nhiều cách hiểu khác nhau về khái niệm giám sát.
Trong ngôn ngữ tiếng Việt, “giám sát” được hiểu như một động từ chỉ
“sự theo dõi và kiểm tra xem có thực hiện đúng những điều quy định
không” [33, tr.305].
Quan niệm khác coi “giám sát” là việc theo dõi và kiểm tra xem có
thực hiện đúng những điều quy định không, là chức quan thời xưa trông nom,
coi sóc một loại công việc nhất định [37,tr.389].Như vậy, khái niệm “giám

7

8


liên quan đến chức năng giám sát của HĐND, Luật có riêng một chương
(Chương III từ Điều 57 đến Điều 81) để quy định về hoạt động giám sát của
HĐND.
Theo quy định của Luật Tổ chức chính quyền địa phương thì HĐND
các cấp là cơ quan quyền lực tại địa phương, đại diện cho ý chí, nguyện vọng
và quyền làm chủ của nhân dân, chịu trách nhiệm trước nhân dân địa phương
và cơ quan nhà nước cấp trên. Theo đó, HĐND các cấp có 3 chức năng cơ
bản là: chức năng thứ nhất: Quyết định những vấn đề cơ bản, quan trọng của
địa phương; chức năng thứ hai: Giám sát; chức năng thứ ba: Đại diện cho
nhân dân. Vì vậy, tại Điều 2 Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội
đồng nhân dân 2015 định nghĩa như sau: Giám sát là việc chủ thể giám sát
theo dõi, xem xét, đánh giá hoạt động của cơ quan, tổ chức, cá nhân chịu sự
giám sát trong việc tuân theo Hiến pháp và pháp luật về việc thực hiện nhiệm
vụ, quyền hạn của mình, xử lý theo thẩm quyền hoặc yêu cầu, kiến nghị cơ
quan có thẩm quyền xử lý.
Giám sát của Hội đồng nhân dân bao gồm: giám sát của Hội đồng nhân
dân; giám sát của Thường trực Hội đồng nhân dân; giám sát của các Ban của
Hội đồng nhân dân, giám sát của Tổ đại biểu HĐND và giám sát của đại biểu
Hội đồng nhân dân.
Do đó, việc tiếp cận này, khái niệm “giám sát” có nội hàm gồm hai yếu
tốsau:(i) Hoạt động theo dõi, xem xét, kiểm tra của một chủ thể nhất định; (ii)
Phương thức bảo đảm cho công việc hoặc hoạt động được thực hiện đúng
theo quy định [30] .Như vậy, giám sát của HĐND cấp tỉnh là tổng thể các
hoạt động của HĐND, Thường trực HĐND, các Ban của HĐND và đại biểu
HĐND. Nhằm xem xét, theo dõi, kiểm tra, đánh giá việc chấp hành Hiến
pháp, luật, pháp lệnh, các văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên, các Nghị
quyết của HĐND trên các lĩnh vực của địa phương đối với các đối tượng chịu

Như vậy, giám sát của HĐND thực chất là thực hiện sự ủy quyền của
nhân dân để giám sát hoạt động của bộ máy nhà nước, là một hình thức thực
10


hiện quyền giám sát của nhân dân được thực hiện bằng pháp luật, thông qua
cơ quan quyền lực nhà nước là HĐND các cấp. Hoạt động nhằm kiểm soát
thực thi quyền lực nhà nước. Giám sát chứa đựng những yếu tố thuộc tính của
công tác kiểm tra, kiểm soát và thanh tra. Trong quá trình giám sát, chủ thể
giám sát có quyền tiếp cận mọi đối tượng, mọi văn bản, hồ sơ theo yêu cầu
giám sát.
1.1.3. Vai trò hoạt động giám sát của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh
- Đánh giá việc thi hành Hiến pháp, pháp luật nhà nước, nghị quyết
HĐND của cơ quan nhà nước ở địa phương.
Thông qua hoạt động giám sát mà HĐND kịp thời phát hiện những yếu
kém, trì trệ trong tổ chức và hoạt động của các cơ quan, tổ chức, các ban
ngành ở địa phương do HĐND thành lập ra. Ví dụ: thông qua hoạt động giám
sát, HĐND có quyền bãi bỏ các văn bản của UBND, Chủ tịch UBND cùng
cấp trái pháp luật, trái nghị quyết HĐND nhằm bảo đảm trật tự pháp luật, bảo
đảm lợi ích của Nhà nước, các quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức
và nhân dân ở địa phương. Hoạt động giám sát của HĐND, trong nhiều
trường hợp, góp phần quan trọng vào việc đấu tranh chống tham nhũng,
chống những biểu hiện của thái độ quan liêu, hách dịch, cửa quyền của những
cán bộ, công chức, kịp thời loại ra khỏi các cơ quan công quyền ở địa phương
những cán bộ, công chức thoái hoá, biến chất này để lấy lại niềm tin của nhân
dân đối với Nhà nước, đối với chính quyền.
- Làm cơ sở thẩm tra báo cáo, dự thảo nghị quyết, tham mưu HĐND có
những quyết sách khả thi, giải quyết bức xúc trong nhân dân, thể hiện trách
nhiệm của người đại biểu dân cử.
Hiến pháp 1946 đến Hiến pháp 2013 tiếp tục khẳng định: Tất cả

của công dân. Từ đó kịp thời sửa chữa, khắc phục sai phạm, bảo đảm quyền,
lợi ích của cá nhân, tổ chức, nhà nước, xã hội. Bên cạnh đó, thông qua hoạt
động giám sát của HĐND tỉnh kịp thời phát hiện những VBQPPL do chính
quyền địa phương ban hành trái với Hiến pháp, pháp luật và nghị quyết của
12


HĐND tỉnh, phát hiện những mâu thuẫn chồng chéo giữa các văn bản pháp
luật do các cơ quan nhà nước ở địa phương ban hành, để đình chỉ việc thực
hiện, sửa đổi, bãi bỏ, tạo ra sự thống nhất trong hệ thống các văn bản pháp
luật do chính quyền địa phương ban hành.
- Góp phần tháo gỡ khó khăn, vướng mắc của đơn vị chịu sự giám sát.
Hoạt động giám sát của HĐND cấp tỉnh là một trong những
phươngdiện đảm bảo cho mọi hoạt động của các cơ quan nhà nước, tổ chức
kinh tế, tổ chức xã hội ở địa phương tiến hành trên cơ sở pháp luật, tuân thủ
nghiêm chỉnh pháp luật, từ đó mà Hiến pháp và pháp luật được tôn trọng và
chấp hành nghiêm chỉnh ở địa phương.
Thông qua hoạt động giám sát mà HĐND tỉnh một mặt nắm bắt được
thực tiễn thực hiện các nghị quyết phát triển kinh tế - xã hội và các VBQPPL
do mình ban hành của các cơ quan nhà nước ở địa phương và qua đó cũng
thấy được những hạn chế, thiếu sót trong các nghị quyết, văn bản, chính sách
do mình ban hành, nắm được tình hình thực tiễn của đời sống kinh tế - xã hội
trên địa bàn địa phương để đổi mới, nâng cao chất lượng hoạt động của
HĐND tỉnh. Hoạt động giám sát các quyết định của HĐND có thêm những
căn cứ khoa học vững chắc, phù hợp với những yêu cầu thực tế địa phương,
đảm bảo tính khả thi của các quyết định, từ đó nâng cao hiệu lực, hiệu quả
của HĐND trong thực tế.
Qua hoạt động giám sát của HĐND cấp tỉnh phát hiện kịp thời những
yếu kém, khuyết điểm trong hoạt động quản lý của các cơ quan nhà nước, tổ
chức kinh tế, tổ chức xã hội… ở địa phương. Từ đó có biện pháp khắc phục,

đem lại nhiều kết quả cho công tác hoạch định chính sách và xây dựng pháp
luật, phục vụ cho việc không ngừng đổi mới tổ chức và hoạt động của các cơ
quan nhà nước nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của bộ máy nhà nước.
1.2. Chủ thể, đối tượng, hình thức, nội dung giám sát của Hội đồng nhân
dân tỉnh
1.2.1.Chủ thể giám sát của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh
14


Giám sát luôn gắn với một chủ thể nhất định, tức là hoạt động của cá
nhân hoặc tổ chức có quyền thực hiện việc theo dõi, xem xét, đánh giá về một
việc đã thực hiện đúng hoặc sai những điều đã quy định.
Theo Luật hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân năm
2015, hoạt động giám sát của HĐND bao gồm: giám sát của HĐND tại kỳ
họp; giám sát của Thường trực HĐND; giám sát của các Ban HĐND và giám
sát của đại biểu HĐND:
+ Hội đồng nhân dân giám sát việc tuân theo Hiến pháp, pháp luật ở địa
phương và việc thực hiện nghị quyết của Hội đồng nhân dân cùng cấp; giám
sát hoạt động của Thường trực Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân, Tòa án
nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân, cơ quan thi hành án dân sự cùng cấp và
Ban của Hội đồng nhân dân cấp mình; giám sát quyết định của Ủy ban nhân
dân cùng cấp và nghị quyết của Hội đồng nhân dân cấp dưới trực tiếp.
+ Thường trực Hội đồng nhân dân giám sát việc tuân theo Hiến pháp,
pháp luật ở địa phương và việc thực hiện nghị quyết của Hội đồng nhân dân
cùng cấp; giám sát hoạt động của Ủy ban nhân dân, các cơ quan thuộc Ủy ban
nhân dân, Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân, cơ quan thi hành án dân
sự cùng cấp và Hội đồng nhân dân cấp dưới; giám sát quyết định của Ủy ban
nhân dân cùng cấp, nghị quyết của Hội đồng nhân dân cấp dưới trực tiếp; giúp
Hội đồng nhân dân thực hiện quyền giám sát theo sự phân công của Hội đồng
nhân dân.

đối tượng giám sát thường xuyên, quan trọng nhất của HĐND,bởi UBND là
cơ quan có chức năng, nhiệm vụ thực hiện những nội dung mà HĐND đã
quyết nghị. Đó là những quy định, những chính sách, nội dung quan trọng đã
được người đại diện của nhân dân bàn bạc, thảo luận và quyết định. Những
nội dung đó cần được nghiêm túc tổ chức thực hiện.
- Đối tượng mà HĐND cần phải giám sát tiếp theo đó là các cơ quan
nhà nước ở trung ương đóng tại địa phương là cơ quan xét xử (Toà án), cơ
quan kiểm sát, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân và
16


của công dân ở địa phương như cơ quan thuế, hải quan, an sinh xã hội…
Pháp luật phân cấp giám sát giữa HĐND các cấp, điều đó không có nghĩa là
HĐND mỗi cấp thực hiện thẩm quyền giám sát như nhau đối với mỗi hoạt
động của đối tượng chịu sự giám sát.Đối với các cơ quan Tư pháp do đối
tượng, phạm vi, tính chất, mức độ giám sát của HĐND phụ thuộc vào vị trí,
vai trò và sự phân cấp tính chất của mối quan hệ giữa HĐND với đối tượng
chịu sự giám sát. TAND, VKSND thì hoạt động giám sát của HĐND chủ yếu
ở việc xem xét tính pháp chế của bản án đã được giải quyết và sự phối hợp
của Tòa án, Viện kiếm sát với địa phương trong việc thực hiện nhiệm vụ
chính trị của địa phương, kết quả giám sát của HĐND với tòa án chỉ là hậu
quả gián tiếp không xuất phát từ thẩm quyền của HĐND. Do đó, đối tượng
giám sát của HĐND cũng được quy định tương đối rõ, tuy nhiên còn một số
đối tượng mà luật quy định HĐND có quyền giám sát như các cơ quan nhà
nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội đơn vị vũ trang địa phương. Cần phải có
những quy định cụ thể về hình thức, trình tự giám sát đối với các đối tượng
giám sát giúp cho hiệu quả giám sát được nâng cao. Mặc dù, Luật Giám sát
của QH và HĐND năm 2015 quy định nhưng còn rất chung chung, theo đó,
xem xét báo cáo công tác của Thường trực Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân
dân, Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân, cơ quan thi hành án dân sự


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status