Đặc điểm hoạt động giám sát của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh
Trong hệ thống chính trị Việt Nam hiện nay, việc giám sát các hoạt động của
nhà nước được thực hiện bởi rất nhiều cơ quan, tổ chức: giám sát của cơ quan dân
cử (Quốc hội và HĐND); giám sát của Chủ tịch nước; kiểm tra, thanh tra của
Chính phủ và bộ máy hành chính; kiểm tra giám sát của VKSND và TAND; giám
sát của tổ chức chính trị - xã hội, giám sát của nhân dân... Trong đó, giám sát của
HĐND có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với sự phát triển của địa phương. Xuất
phát từ vị trí, vai trò của HĐND và tính phong phú trong hoạt động giám sát, giám
sát của HĐND có các đặc điểm sau:
1.2.2.1. Đặc điểm về chủ thể giám sát
Theo Điều 57 Luật Tổ chức HĐND và UBND năm 2003, giám sát của
HĐND bao gồm: giám sát của HĐND tại kỳ họp, giám sát của Thường trực
HĐND, giám sát của các Ban của HĐND và giám sát của Đại biểu HĐND.
Như vậy, chủ thể thực hiện quyền giám sát của HĐND bao gồm:
- HĐND: một tập thể các đại biểu HĐND tại phiên họp hội đồng.
- Thường trực HĐND.
- Các ban của HĐND.
- Đại biểu HĐND.
Theo Luật Tổ chức HĐND và UBND năm 1994 (sửa đổi), thường trực
HĐND chưa phải là chủ thể của hoạt động giám sát, mới chỉ là người đôn đốc,
kiểm tra các hoạt động của UBND cùng cấp cũng như vấn đề giải quyết khiếu nại,
tố cáo của công dân ở địa phương. Như vậy, theo quy định của pháp luật hiện
hành, chủ thể giám sát của HĐND ngày càng được mở rộng và quy định chặt chẽ
hơn.
1.2.2.2. Đặc điểm về đối tượng giám sát
Theo Luật Tổ chức HĐND và UBND năm 2003, đối tượng giám sát của
HĐND bao gồm:
+ Thường trực HĐND, UBND, TAND, VKSND cùng cấp [Khoản 1, Điều
58].
VKSND cùng cấp.
- Xem xét việc trả lời chất vấn của Chủ tịch HĐND, Chủ tịch UBND, các
thành viên khác của UBND, Thủ trưởng cơ quan chuyên môn thuộc UBND, Viện
trưởng VKSND, Chánh án TAND cùng cấp.
- Xem xét văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL) của UBND cùng cấp,
nghị quyết của HĐND cấp dưới trực tiếp khi phát hiện có dấu hiệu trái với Hiến
pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội; pháp lệnh, nghị quyết của Uỷ ban thường vụ
Quốc hội, văn bản QPPL của cơ quan nhà nước cấp trên và nghị quyết của HĐND
cùng cấp.
- Thành lập Đoàn giám sát khi xét thấy cần thiết.
- Bỏ phiếu tín nhiệm đối với người giữ chức vụ do HĐND bầu.
Thứ nhất, xem xét báo cáo công tác của Thường trực HĐND, UBND,
TAND, VKSND cùng cấp.
Đây là một hình thức giám sát trực tiếp rất quan trọng của HĐND. HĐND
xem xét thảo luận báo cáo công tác của Thường trực HĐND, UBND, TAND và
VKSND cùng cấp tại kỳ họp cuối năm. Tại kỳ họp giữa năm, các cơ quan này gửi
báo cáo công tác đến các đại biểu HĐND, khi cần thiết HĐND có thể xem xét thảo
luận. Việc xem xét, thảo luận các báo cáo hàng năm hoặc 6 tháng tại các kỳ họp
cuối năm hay giữa năm được tiến hành theo một trình tự chặt chẽ do luật định.
Trong đó có thẩm tra, phản biện, thảo luận, tranh luận của đại biểu HĐND đối
với các đối tượng thuộc quyền giám sát của HĐND tỉnh. Theo quyết định của
Chủ tịch HĐND hoặc của người điều khiển phiên họp, báo cáo của các đối
tượng giám sát được chuyển cho các ban của HĐND thẩm tra, nghiên cứu trước.
Trên cơ sở ý kiến tham gia, thảo luận báo cáo của các thành viên, các ban phải
chuẩn bị báo cáo thuyết trình thẩm tra trước HĐND.
Việc HĐND xem xét, thảo luận các báo cáo được diễn ra theo một trình tự
nhất định: người đứng đầu các cơ quan bị giám sát trình bày báo cáo; Trưởng ban
HĐND trình bày báo cáo thẩm tra; HĐND thảo luận; người đứng đầu cơ quan bị
như biện pháp khắc phục.
Để đảm bảo hiệu quả của hoạt động chất vấn cũng như ràng buộc trách
nhiệm của đối tượng bị chất vấn, luật còn quy định khi đại biểu Hội đồng không
hài lòng với câu trả lời của người nào đó thì có quyền yêu cầu HĐND thảo luận và
xem xét trách nhiệm đối với người đó. HĐND có thể ra nghị quyết về việc trả lời
chất vấn và trách nhiệm của người bị chất vấn khi xét thấy cần thiết.
Thực chất hoạt động chất vấn là việc đại biểu HĐND đưa ra các câu hỏi chất
vấn cho các đối tượng bị chất vấn, nội dung của câu hỏi này thường xoay quanh
các vấn đề nóng bỏng mà nhân dân địa phương quan tâm thuộc lĩnh vực quản lý
trực tiếp hoặc có liên quan đến đối tượng bị chất vấn.
Thứ ba, xem xét VBQPPL của UBND cùng cấp, nghị quyết của HĐND cấp
dưới trực tiếp có dấu hiệu trái với Hiến pháp và những văn bản pháp luật của cơ
quan nhà nước cấp trên.
Đây là hình thức HĐND giám sát tính hợp hiến, hợp pháp của các VBQPPL
do các đối tượng chịu sự giám sát của HĐND tỉnh ban hành. Để thực hiện tốt
nhiệm vụ trên, tại các kỳ họp HĐND cũng như giữa hai kỳ họp, Thường trực
HĐND, các ban HĐND và từng đại biểu HĐND phải thường xuyên thực hiện việc
giám sát các văn bản thuộc thẩm quyền của mình nhằm có những kiến nghị, đề
xuất kịp thời.
Các bước để HĐND xem xét tính hợp hiến, hợp pháp của văn bản được quy
định như sau:
Đại diện của Thường trực HĐND trình VBQPPL có dấu hiệu trái với Hiến
pháp, luật và VBQPPL của cơ quan nhà nước cấp trên; HĐND thảo luận. Trong
quá trình thảo luận, người đứng đầu cơ quan đã ban hành VBQPPL có thể trình
bày bổ sung những vấn đề liên quan. Hệ quả của hoạt động này có thể dẫn đến hai
khả năng: HĐND ra nghị quyết khi VBQPPL trên không trái với Hiến pháp, luật
và VBQPPL của cơ quan nhà nước cấp trên, hoặc quyết định bãi bỏ một phần hoặc
toàn bộ văn bản đó.
hoạt động của các cá nhân thuộc đối tượng bị giám sát. Có ý kiến cho rằng, bỏ
phiếu tín nhiệm là hệ quả của giám sát, song thực chất đó là cơ sở để quy kết hệ
quả, tức là tiền đề để đi đến việc áp dụng các biện pháp chế tài giám sát.
Những chủ thể có quyền nêu ra vấn đề bỏ phiếu tín nhiệm là: Thường trực
HĐND, các ban HĐND, đại biểu HĐND, Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc cấp tỉnh. Mặc
dù theo quy định của pháp luật có nhiều chủ thể có quyền đặt ra vấn đề bất tín
nhiệm nhưng việc trình HĐND xem xét bỏ phiếu tín nhiệm chỉ thuộc thẩm quyền
của Thường trực HĐND.
Người được đưa ra bỏ phiếu tín nhiệm có quyền trình bày ý kiến của mình
trước HĐND, HĐND thảo luận và bỏ phiếu tín nhiệm. Trong trường hợp không
được quá nửa tổng số đại biểu HĐND tín nhiệm thì cơ quan hoặc người đã giới
thiệu để bầu ra người có trách nhiệm trình HĐND xem xét, quyết định việc miễn
nhiệm, bãi nhiệm người không được HĐND tín nhiệm.
Như vậy, quy định bỏ phiếu tín nhiệm theo pháp luật Việt Nam chỉ áp dụng
đối với cá nhân chứ không áp dụng đối với tập thể. Đây là một đặc thù của giám
sát quyền lực ở Việt Nam.
1.2.3. Nội dung giám sát của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh
Để có cơ sở pháp lý cho HĐND tỉnh thực hiện tốt chức năng giám sát, trước
hết phải xác định rõ nội dung giám sát của cơ quan này. Theo các quy định của
Luật Tổ chức HĐND và UBND năm 2003: Khi quyết định những vấn đề thuộc
nhiệm vụ quyền hạn của mình, HĐND ra nghị quyết và giám sát việc thực hiện
Nghị quyết đó; và căn cứ trên cơ sở chức năng, nhiệm vụ quyền hạn của HĐND,
nội dung giám sát của HĐND cấp tỉnh bao gồm các lĩnh vực sau:
- Giám sát về lĩnh vực kinh tế (Điều 11).
- Giám sát các hoạt động trong lĩnh vực giáo dục, y tế, xã hội, văn hoá,
thông tin, thể dục, thể thao (Điều 12).
- Giám sát các hoạt động quản lý nhà nước trong lĩnh vực khoa học, công
nghệ, tài nguyên và môi trường (Điều 13).
4.
Nguyễn Như Du (2004), "Cử tri đang mong chờ vào hiệu quả giám sát", Báo
Người đại biểu nhân dân, (31), tr.1.
5.
Nguyễn Sĩ Dũng (chủ biên) (2004), Quyền giám sát của Quốc hội, nội dung
và thực tiễn từ góc nhìn tham chiếu, Nxb Tư pháp, Hà Nội.
6.
Đảng Cộng sản Việt Nam (2001), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ
IX, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
7.
Đảng Cộng sản Việt Nam (2006), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ
X, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
8.
Đảng bộ tỉnh Nghệ An (2006), Văn kiện Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Nghệ
An lần thứ XVI, Tài liệu lưu hành nội bộ.
9.
Nguyễn Minh Đoan (2001), Hiệu quả pháp luật, Những vấn đề lý luận và
thực tiễn, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
Bản tin Hội đồng nhân dân và Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Nghệ An,
tr.14.
22. Hội đồng nhân dân tỉnh Nghệ An (2005), Báo cáo thẩm tra của Hội đồng
nhân dân tỉnh Nghệ An về tình hình văn hoá - xã hội trên địa bàn năm
2005.
23. Hội đồng nhân dân tỉnh Nghệ An (2006), Báo cáo kết quả hoạt động của
thường trực Hội đồng nhân dân tỉnh 6 tháng đầu năm 2006.
24. Hội đồng nhân dân tỉnh Nghệ An (2006), Báo cáo kết quả hoạt động của Ban
pháp chế Hội đồng nhân dân tỉnh 6 tháng đầu năm và định hướng trọng
tâm công tác 6 tháng cuối năm 2006.
25. Hội đồng nhân dân tỉnh Nghệ An (2006), Báo cáo kết quả hoạt động 6 tháng
đầu năm và phương hướng, nhiệm vụ 6 tháng cuối năm 2006 của Ban
Kinh tế ngân sách.
26. Trần Đình Huề (2001), Mấy vấn đề về vai trò hoạt động giám sát của Hội
đồng nhân dân và bước đầu xây dựng quy trình một cuộc giám sát, Kỷ
yếu nâng cao năng lực và hiệu quả giám sát của Hội đồng nhân dân, Văn
phòng Quốc hội.
27. Vũ Hùng (2001), Hoạt động giám sát của Ban Văn hoá xã hội, Hội đồng
nhân dân thành phố Đà Nẵng và một số kiến nghị nhằm góp phần nâng
cao chất lượng và hiệu quả giám sát của Hội đồng nhân dân, Kỷ yếu
nâng cao năng lực và hiệu quả giám sát của Hội đồng nhân dân, Văn
phòng Quốc hội.
28. V.I.Lênin (1976), Toàn tập, Tập 33, Nxb Tiến bộ, Mátxcơva.
29. Leni Montiel (2001), Bài phát biểu tại Hội thảo nâng cao năng lực và hiệu
quả giám sát của Hội đồng nhân dân, Kỷ yếu Nâng cao năng lực và hiệu
quả giám sát của Hội đồng nhân dân, Văn phòng Quốc hội, Hà Nội.
30. Luật hoạt động giám sát của Quốc hội (2003), Nxb Chính trị quốc gia, Hà
Nội.