Đổi mới tổ chức chính quyền đô thị qua thực tiễn thành phố Hà Nội - Pdf 25

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT NGUYỄN THỊ PHƯƠNG LIÊN

ĐỔI MỚI TỔ CHỨC CHÍNH QUYỀN ĐÔ THỊ
QUA THỰC TIỄN THÀNH PHỐ HÀ NỘI LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Khái niệm chính quyền địa phương
5
1.2.
Khái niệm đô thị và chính quyền đô thị
14
1.2.1.
Khái niệm đô thị
14
1.2.2.
Đặc trưng của đô thị so với nông thôn ở Việt Nam
16
1.2.3.
Chính quyền đô thị
28
1.2.3.1.
Tổ chức của chính quyền đô thị
28
1.2.3.2.
Phân chia các cấp chính quyền trong đô thị
29
1.2.3.3.
Tổ chức các cơ quan của chính quyền đô thị
31
1.3.
Mô hình tổ chức chính quyền đô thị của một số nước
35
1.3.1.
Thành phố – thủ đô Tokyo (Nhật Bản)
35
1.3.2.

Thành phố Hà Nội (mới) sau hợp nhất
55
2.2.
Bộ máy hành chính của Thủ đô Hà Nội trước và sau sát nhập
61
2.2.1.
Cơ cấu đơn vị hành chính
61
2.2.2.
Cơ cấu các cơ quan chuyên môn
61
2.3.
Thực trạng về cơ cấu đội ngũ cán bộ, công chức
81
2.3.1.
Cơ cấu công chức
81
2.3.2.
Cơ cấu chức danh cán bộ
83
2.3.3.
Cơ cấu chức danh cán bộ công chức khối Sở và tương đương
84
2.3.4.
Cơ cấu chức danh cán bộ, công chức khối quận, huyện
84
2.3.5.
Cơ cấu chức danh cán bộ, công chức khối xã, phường, thị trấn
86
2.4.

105
3.2.5.
Đào tạo lại đội ngũ cán bộ công chức hiện có
108

KẾT LUẬN
111

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
112 DANH MỤC CÁC BẢNG

1. Bảng 1: Cơ cấu công chức chia theo cấp hành chính
2. Bảng 2: Cơ cấu chức danh cán bộ, công chức cấp Sở và tương đương
3. Bảng 3: Cơ cấu chức danh cán bộ, công chức cấp quận, huyện
4. Bảng 4: Cơ cấu chức danh cán bộ, công chức cấp xã, phường, thị trấn

1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Năm 1010, Hà Nội được vua Lý Thái Tổ chọn làm kinh đô và đặt tên là
Thăng Long với lòng mong muốn kinh thành ngày càng phồn thịnh như Rồng

Nội.
- PGS. TS Phạm Hồng Thái (2003), Thiết lập mô hình tổ chức chính
quyền đô thị, đề tài cấp Bộ, Học viện Hành chính Quốc gia, Hà Nội.
- TS. Nguyễn Đăng Dung (2001), Chuyên đề về tổ chức và hoạt động
của chính quyền địa phương, Viện Nghiên cứu khoa học pháp lí, Bộ Tư pháp,
Hà Nội.
- PGS.TS. Lê Minh Thông, PGS.TS. Nguyễn Như Phát (2002), Những
vấn đề lí luận và thực tiễn về chính quyền địa phương ở Việt Nam hiện nay,
Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội.
- PGS.TS. Lê Sỹ Thiệp (1996), Đổi mới thể chế và hoạt động của bộ
máy quản lý nhà nước ở địa phương, Đề tài khoa học cấp cấp bộ, mã số 93-
98-397, Học viện Hành chính quốc gia, Hà Nội.
- Tô Tử Hạ, TS. Nguyễn Hữu Trị, TS. Nguyễn Hữu Đức (1998), Cải
cách hành chính địa phương – Lý luận và thực tiễn, Hà Nội.
- Đỗ Xuân Đông (1996), Đổi mới tổ chức bộ máy hành chính đô thị trong
cải cách nền hành chính quốc gia hiện nay, Luận án phó tiến sỹ luật học, Hà Nội.
- Lê Minh Thông (1999), “Đổi mới tổ chức và hoạt động của Hội đồng nhân
dân và ủy ban nhân dân các cấp”, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, Số 6/1999.
- Bùi Xuân Đức (2000), “Một số vấn đề cần hoàn thiện trong tổ chức và hoạt
động của ủy ban nhân dân các cấp”, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, Số 7/2000. 3
Ngoài ra, trong thời gian gần đây còn có một số bài báo, tham luận, hội
thảo, bài nghiên cứu khác của một số học giả trong nước bàn về vấn đề này.
Các công trình nói trên đều nghiên cứu khá sâu về tổ chức, hoạt động
của chính quyền đô thị và đã có nhiều đề xuất, kiến nghị, giải pháp mô hình tổ
chức và hoạt động được đưa ra. Tuy nhiên, với sự phát triển nhanh chóng của
đô thị Việt Nam, thực tiễn đã đặt ra nhiều vấn đề mới mà công trình này chưa
đề cập hoặc chưa bao quát hết được, hơn nữa hầu hết các công trình nghiên

6. Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục,
nội dung của luận văn bao gồm 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề chung nhất về chính quyền đô thị
Chương 2: Thực trạng tổ chức của chính quyền đô thị Hà Nội
Chương 3: Phương hướng, giải pháp hoàn thiện bộ máy chính quyền đô
thị Hà Nội.
Mặc dù tác giả đã tập trung công sức nghiên cứu đề tài nhưng luận văn
không tránh khỏi thiếu sót. Kính mong các thầy cô, bạn bè và đồng nghiệp
cho ý kiến đóng góp để đề tài có thể tiếp tục phát triển hơn nữa.

5
CHƢƠNG 1
NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG NHẤT VỀ CHÍNH QUYỀN ĐÔ THỊ

1.1.Khái niệm chính quyền địa phƣơng
Hiện nay, trên thế giới theo các tiêu chí khác nhau, chính quyền địa
phương được nhận thức dưới nhiều góc độ:
Quan điểm truyền thống và được nhiều người thừa nhận là chính quyền
địa phương được xây dựng gắn liền với đơn vị hành chính lãnh thổ.
Theo Micheal P Barber, chính quyền địa phương có thẩm quyền quyết
định và thực thi các vấn đề trong một giới hạn lãnh thổ và có thẩm quyền thấp
hơn thẩm quyền chung của cả nước (Local government means authority to
determine and to excute matters with-in a restricted area inside and smaller
than the whole state) [42,1]
Quan điểm khác lại cho rằng, việc xác định chính quyền địa phương
không dựa trên cơ sở lãnh thổ mà dựa vào mức độ cung cấp dịch vụ: “Chính

nước Trung ương tới cơ sở, thì cơ quan chính quyền ở đơn vị hành chính cơ
sở phải thể hiện lợi ích của dân cư nhiều hơn (mang tính tự quản).
+ Đơn vị lãnh thổ hành chính nhân tạo, là đơn vị được Nhà nước
Trung ương chia lãnh thổ thành các đơn vị hành chính trực thuộc theo nhu cầu
quản lý hay nhu cầu “cai trị” của Trung ương.
Việc tổ chức và hoạt động của các cơ quan nhà nước ở cấp chính quyền
này chủ yếu để thực hiện chức năng quản lý, đảm bảo lợi ích của Nhà nước,
tổ chức thực hiện chính sách, pháp luật của Nhà nước. Ở đây chức năng quản
lý lãnh thổ về cơ bản do cơ quan hành chính nhà nước thực hiện, cơ quan đại
diện (nếu có) chỉ đóng vai trò tư vấn.
Việc tổ chức và hoạt động của chính quyền địa phương trên các lãnh thổ
nhân tạo không cần phải tính đến các đặc điểm, đặc thù một cách nặng nề như 7
ở các đơn vị hành chính tự nhiên mà thiên về việc đáp ứng nhu cầu của các cơ
quan quản lý nhà nước cấp trên.
Ở Việt Nam từ trước đến nay thuật ngữ “chính quyền địa phương” được
sử dụng tương đối rộng rãi và phổ biến trong các văn kiện của Đảng, các văn
bản pháp luật của Nhà nước, các sách báo chính trị pháp lý, cũng như trong các
bài phát biểu của lãnh đạo Đảng và Nhà nước ở Trung ương và địa phương.
Nhưng quan niệm thế nào là chính quyền địa phương? Trong cơ cấu tổ
chức của chính quyền địa phương gồm những cơ quan nào? Có phải chính
quyền địa phương gồm cả HĐND và UBND đang là những vấn đề cần phải
được làm rõ cả trên góc độ lý luận và thực tiễn.
Sở dĩ có những quan niệm khác nhau về khái niệm chính quyền địa
phương ở nước ta như trên, theo chúng tôi là vì mặc dù các văn bản pháp luật
sử dụng thuật ngữ này, nhưng không có một văn bản pháp luật hiện hành nào
giải thích rõ và đầy đủ về khái niệm “chính quyền địa phương”.
Mặt khác, tuy thuật ngữ “chính quyền địa phương” được sử dụng rộng

khác nhau về mặt nguyên tắc.
Vì khái niệm “quản lý địa phương” ở các nước TBCN được hiểu là một
dạng hoạt động hành chính được thực hiện bởi các cơ quan nhà nước do chính
quyền cấp trên (Chính phủ) bổ nhiệm và các cơ quan tự quản địa phương do
dân chúng địa phương bầu ra .
Các cơ quan tự quản địa phương ở các nước TBCN bao gồm các cơ
quan dân cử (Hội đồng tự quản) và các cơ quan chấp hành của nó. Trong khoa
học pháp lý và thực tiễn pháp luật ở những nước này, các cơ quan tự quản địa
phương không được coi là các cơ quan nhà nước, không nằm trong hệ thống
các cơ quan quyền lực nhà nước của Nhà nước tư sản. Những người làm việc
trong các cơ quan tự quản địa phương không được xếp vào đội ngũ công chức
của Nhà nước. Ví dụ: Sau khi Liên Xô tan rã, chế độ nhà nước XHCN Xô viết 9
sụp đổ, Cộng hòa Liên bang Nga và các nước cộng hòa cũ của Liên Xô đã
phá vỡ chế độ Xô viết địa phương, thay vào đó là chế độ tự quản địa phương.
Và mặc dù trong khoa học pháp lý ở Nga đã có sự phê phán quan điểm “phi
nhà nước của tự quản địa phương” mà chính quyền En-xin đưa ra, phê phán
việc tước bỏ tính quyền lực nhà nước của các Xô viết địa phương do dân bầu,
cho đây là quan điểm chính trị pháp lý đã lỗi thời của phương Tây, nhưng cả Hiến
pháp năm 1993 và cả Luật về tự quản địa phương năm 1995 (được sửa đổi, bổ sung
năm 1996 và năm 1997) của CHLB Nga đều khẳng định “tính phi nhà nước” của
các cơ quan tự quản địa phương. Điều 12 Hiến pháp năm 1993 của CHLB Nga qui
định: “Các cơ quan tự quản địa phương không nằm trong hệ thống các cơ quan
quyền lực nhà nước”. Theo Luật về tự quản địa phương của CHLB Nga năm 1995,
các cơ quan tự quản địa phương gồm: Các cơ quan dân cử địa phương và các cơ
quan chấp hành do các cơ quan dân cử ở địa phương bầu ra, hoặc do cử tri ở địa
phương trực tiếp bầu ra. Nhưng Điều 1 của Luật này qui định rõ: Các cơ quan của
tự quản địa phương này… không nằm trong hệ thống các cơ quan quyền lực nhà

thẩm quyền và trách nhiệm của chính quyền địa phương trong việc quyết định các
biện pháp nhằm xây dựng và phát triển kinh tế - xã hội ở địa phương nói chung,
trong việc bảo đảm thi hành Hiến pháp và pháp luật ở địa phương nói riêng. Đặc
biệt là giá trị pháp lý của các văn bản do chính quyền địa phương ban hành và
thẩm quyền của các cơ quan chính quyền địa phương trong việc kiểm tra, giám sát
việc chấp hành Hiến pháp và pháp luật đối với tất cả các cơ quan nhà nước khác,
các tổ chức xã hội, tổ chức kinh tế và công dân ở địa phương được qui định bởi
tính quyền lực nhà nước của các cơ quan chính quyền địa phương.
Hai là, không phải các cơ quan nhà nước được tổ chức và hoạt động ở
địa phương, giải quyết các vấn đề phát sinh ở địa phương đều nằm trong cơ
cấu tổ chức của chính quyền địa phương. Điều này không có nghĩa chỉ trừ có 11
các cơ quan bảo vệ pháp luật ở địa phương (TAND và VKSND), mà còn bao
gồm cả các cơ quan của các Bộ, ngành Trung ương đóng ở địa phương, ví dụ:
Cục Hải quan, Cục Thuế, .v.v. Vì những cơ quan này không do nhân dân địa
phương thành lập ra dù trực tiếp hay gián tiếp, mà do các cơ quan nhà nước ở
Trung ương thành lập và chỉ đạo hoạt động của chúng.
Ba là, các cơ quan chính quyền địa phương về nguyên tắc phải do nhân
dân địa phương trực tiếp bầu ra, hoặc được thành lập trên cơ sở của các cơ
quan đại diện của nhân dân ở địa phương theo qui định của pháp luật. Quan
niệm phổ biến ở nước ta cho rằng khái niệm chính quyền địa phương chỉ gồm
có HĐND và UBND, hoặc ngoài HĐND và UBND còn có thêm các cơ quan
chuyên môn thuộc UBND.
Quan niệm này, theo chúng tôi bắt nguồn từ thực tiễn pháp luật về tổ
chức và hoạt động của chính quyền địa phương ở nước ta trong những năm
đầu sau Cách mạng tháng Tám năm 1945. Điều 1 Sắc lệnh số 63 ngày 22
tháng 11 năm 1945 về tổ chức HĐND và UBHC xã, huyện, tỉnh, kỳ qui định:
“Để thực hiện chính quyền nhân dân địa phương trong nước Việt Nam, sẽ đặt

HĐND cũng như Chủ tịch, Phó Chủ tịch HĐND cấp xã trong khoa học pháp
lý thường được gọi là các cơ quan nội tại, hay các tổ chức bên trong của các
cơ quan dân cử ở địa phương, là hình thức hoạt động của các cơ quan này,
chúng không là cơ quan nhà nước theo đúng nghĩa của nó, vì không có thẩm
quyền mang tính quyền lực nhà nước, không có quyền đơn phương quyết định
có tính bắt buộc thi hành… Nhưng các Ban của HĐND các cấp có vai trò
quan trọng trong việc giúp HĐND thẩm tra báo cáo, đề án sẽ trình ra kỳ họp
của HĐND, giúp HĐND kiểm tra, giám sát việc thi hành Hiến pháp, pháp
luật và Nghị quyết của HĐND ở địa phương, kiến nghị với HĐND về những
vấn đề thuộc phạm vi lĩnh vực hoạt động của mình. Thường trực HĐND
(hoặc Chủ tịch, Phó Chủ tịch HĐND xã, phường, thị trấn) được thành lập từ 13
cuối những năm 1980 ở nước ta là nhằm bảo đảm hoạt động công tác của
HĐND; điều hòa, phối hợp hoạt động của các Ban của HĐND; đôn đốc, kiểm
tra UBND và các cơ quan nhà nước khác ở địa phương thực hiện các nghị
quyết của HĐND; đôn đốc, kiểm tra và xem xét tình hình giải quyết các khiếu
nại, tố cáo và kiến nghị của công dân…. Về cơ sở lý luận, pháp lý và thực tiễn
của sự cần thiết phải thành lập cơ quan thường trực của HĐND cũng đã được
nhiều nhà khoa học và thực tiễn đề cập trước khi Quốc hội thông qua Nghị
quyết ngày 30 tháng 6 năm 1989 về sửa đổi một số điều của Hiến pháp năm
1980 và Luật Tổ chức HĐND và UBND năm 1989 liên quan đến thành lập cơ
quan này.
Thực tế hoạt động của các Ban của HĐND, của Thường trực HĐND ở
các địa phương những năm qua đã góp phần quan trọng trong việc nâng cao
hiệu quả hoạt động của HĐND, nhất là hiệu quả và hiệu lực kiểm tra, giám sát
của HĐND đối với các cơ quan nhà nước, các tổ chức xã hội, tổ chức kinh tế
trong việc chấp hành Hiến pháp và pháp luật ở địa phương.
Vì vậy, nếu khái niệm chính quyền địa phương vẫn quan niệm chỉ bao gồm

thậm chí ngay trong một quốc gia, định nghĩa đô thị cũng có thể thay đổi tuỳ
từng thời kỳ. Thậm chí có những quốc gia không cần định nghĩa đô thị mà ấn
định luôn một số thành phố của mình là đô thị [36,98-102].
Ở đây, đô thị được hiểu theo nghĩa là một đơn vị hành chính - lãnh thổ,
do đó, định nghĩa đô thị sẽ chủ yếu dựa trên nền các qui định của pháp luật,
nói cách khác là các định nghĩa có giá trị pháp lí.
Vì đô thị và đô thị hoá hiện nay đã trở thành một hiện tượng toàn cầu,
nên các quốc gia đã đạt được một số điểm chung nhất định trong việc xác
định đâu là đô thị. Những điểm chung đó là: 15
Thứ nhất, việc định nghĩa đô thị gần như bắt buộc phải dựa vào qui mô
dân số của một đơn vị hành chính lãnh thổ. Số dân phải đạt được một ngưỡng
nào đó mới được coi là đô thị;
Thứ hai là tính chất của nền kinh tế tại địa phương. Nhìn chung, các
quốc gia đều thống nhất rằng nền sản xuất của một địa phương phải độc lập
tương đối từ việc khai thác trực tiếp đất đai thì mới coi là đô thị. Từ đó, thuật
ngữ “sản xuất phi nông nghiệp” (non-agricultural production) đã được sử
dụng để làm tiêu chí xác định đô thị. Nền sản xuất tại địa phương phải đạt đến
một tỉ lệ nào đó của sản xuất phi nông nghiệp thì mới có thể coi là đô thị;
Thứ ba, sự tích tụ dân số, hay nói cách khác, mật độ dân số trên một đơn vị
diện tích cũng thường được sử dụng để xác định đô thị. Một địa phương có thể có
dân số rất đông, nhưng phân bố dân cư quá thưa thì không thể gọi là đô thị được.
Một số quốc gia còn cho rằng đô thị phải là trung tâm hành chính, kinh
tế, văn hoá của vùng, của khu vực, hoặc đưa ra một vài tiêu chí khác nữa
như khoảng cách tối đa giữa hai khu nhà/toà nhà; tính chất của cơ sở hạ tầng -
vật chất , nhưng ba tiêu chí nói trên vẫn là cơ bản nhất.
Có một điểm mà các quốc gia thống nhất khá cao, đó là: Lãnh thổ quốc
gia = khu vực đô thị + khu vực nông thôn. Điều này có nghĩa là cứ ra khỏi

thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của cả nước hoặc một vùng lãnh thổ nhất
định;
- Tỉ lệ lao động phi nông nghiệp trong tổng số lao động tối thiểu là 65%;
- Có cơ sở hạ tầng phục vụ các hoạt động của dân cư tối thiểu phải đạt
70% mức tiêu chuẩn, qui chuẩn qui định đối với từng loại đô thị;
- Qui mô dân số ít nhất là 4.000 người;
- Mật độ dân số phù hợp với qui mô, tính chất và đặc điểm của từng loại đô thị. 17
Tuỳ theo chức năng, qui mô của từng đô thị, Nghị định 72/2001/NĐ-
CP ngày 05 tháng 10 năm 2001 của Chính phủ còn qui định tiêu chuẩn cụ thể
của từng loại đô thị, tổng cộng có 6 loại đô thị, từ đô thị loại đặc biệt đến đô
thị loại V.
1.2.2. Đặc trưng của đô thị so với nông thôn ở Việt Nam
Như phân tích ở mục trên, ý chí của chính quyền có tác động rất lớn
đến việc xác định đâu là đô thị, đâu là nông thôn. Đôi khi chỉ cần thay đổi con
số ở một hoặc một vài tiêu chí, là bản đồ đô thị sẽ phải vẽ lại, rộng lớn hơn
hoặc thu hẹp đi.
Tuy nhiên, cách xác định đô thị của chính quyền hầu như thuần tuý
mang tính pháp lí - hành chính. Nó được xây dựng để tạo ra một cơ sở pháp lí
chặt chẽ, rõ ràng cho việc xác định các biện pháp quản lí đô thị, với kết quả là
các đơn vị hành chính - lãnh thổ cụ thể trên bản đồ, mà trong thực tế, chưa
chắc đã phản ánh chính xác đâu là đô thị, đâu là nông thôn. Ví dụ, huyện là
khu vực nông thôn, nhưng thị trấn thuộc huyện đó lại là đô thị. Bản đồ hành
chính đô thị thường không phản ánh đúng qui mô của đời sống đô thị. Nhiều
trường hợp, cách xác định đô thị/nông thôn còn thể hiện định hướng, chiến
lược, và kế hoạch phát triển của chính quyền, chứ không phải là xác định hiện
trạng các đô thị.
Vì vậy, để có thể đưa ra những biện pháp quản lí phù hợp, đặc trưng

giữa đô thị, những vùng, những hoạt động nông nghiệp, không phải với tư cách
“vành đai xanh”. Đô thị tiêu biểu nhất ở Việt Nam là Thăng Long - Hà Nội, chỉ tính
từ khi trở thành quốc đô cho đến thế kỉ XIX, cũng đã có gần nghìn năm tồn tại và
phát triển thường xuyên liên tục, nhưng chỉ nhìn vào những tấm bản đồ đô thị hồi
thế kỉ XIX, cũng vẫn thấy còn vô số những kí hiệu ruộng lúa ở ngay giữa những
khu vực trung tâm.
19
Cũng thế và vì thế, nghĩa là cũng vì không có tỉ số 50% hoặc 70% cụ
thể, chúng ta ứng dụng tiêu chí “không chủ yếu sản xuất hoặc sinh sống bằng
nông nghiệp” cho các đô thị cổ ở Việt Nam. Đó là một tiêu chí với hai chữ
“chủ yếu”, có thể còn khá mơ hồ, nhưng không thể khác hơn. Bởi vì đây là
chuẩn mức rõ rệt nhất để chúng vừa tự biểu hiện mình, vừa phân biệt mình
với thực thể nông thôn vô vàn ở xung quanh.
Tuy nhiên, ở đây cũng vẫn còn một vấn đề phức tạp nữa. ấy là, lại cũng
có không ít địa điểm tụ cư ở Việt Nam ngày xưa, chẳng những dân cư “không
chủ yếu sản xuất hoặc sinh sống bằng nông nghiệp”, mà còn kha khá trường
hợp, gần như hoàn toàn không sản xuất hoặc sinh sống bằng nông nghiệp. Bát
Tràng chẳng hạn, đúng như tên gọi của nó, là một trung tâm cư dân, một địa
khu chuyên làm nghề gốm sứ, với mặt hàng chủ yếu là bát đĩa, mà đất đai,
ngoài thổ cư, không có vùng ruộng nào để làm nông nghiệp. Tương tự như thế,
còn có không ít những “làng nghề” (chuyên làm các nghề thủ công: gốm, dệt,
đúc, mộc ) và “làng buôn” (chuyên mua bán thuốc thang, vải vóc, tạp
phẩm ).

Thế nhưng, trong lịch sử và thực tế, những địa điểm tụ cư đông đúc và
chủ yếu sinh sống bằng những hoạt đông phi nông nghiệp như thế, chưa bao
giờ là, hoặc được coi là, đô thị. Chỉ với một vài cách nhìn và lí thuyết hiện

điểm lịch sử đó. Tuy nhiên, chúng cũng đã có những bước phát triển quan
trọng, từng bước tiến lên ngang tầm với những đô thị lớn của thế giới. Một số
nhà nghiên cứu đã bước đầu xác định được đặc trưng của đô thị ngày nay so
với nông thôn.
TS. Vũ Đức Đán, trên cơ sở nghiên cứu các thành phố trực thuộc Trung
ương của Việt Nam, đã tìm ra một số đặc trưng sau của đô thị trực thuộc
Trung ương: 21
- Là đơn vị hành chính lãnh thổ ngang cấp tỉnh, do Trung ương trực tiếp quản
lí ;
- Là một cấp kế hoạch, cấp ngân sách ;
- UBND thành phố chịu trách nhiệm trước Chính phủ quản lí toàn diện
các quá trình, lĩnh vực đời sống xã hội trên địa bàn thành phố ;
- Là nơi tập trung đông dân cư, mật độ dân số cao, nặng tính hợp cư
hơn là quần cư ở các vùng khác ;
- Dân số đông là thế mạnh của các thành phố, nhưng cũng gây nên
nhiều khó khăn cho hoạt động quản lí, tiềm ẩn nhiều vấn đề như tội phạm, tệ
nạn xã hội, ô nhiễm môi trường, ách tắc giao thông ;
- Là trung tâm chính trị - kinh tế - văn hoá - xã hội của cả nước hoặc
của một vùng lãnh thổ lớn ;
- Là trung tâm đào tạo, nghiên cứu, ứng dụng khoa học kĩ thuật của đất nước ;
- Trình độ dân trí ở các thành phố trực Thuộc trung ương cao hơn các nơi khác ;
- Là nơi tập trung các đầu mối giao thông quan trọng ;
- Bộ máy chính quyền các cấp gần nhau về địa lí ;
- Là trung tâm du lịch, dịch vụ, trung tâm thu hút vốn đầu tư nước ngoài [32, 42-52].
Nhìn chung, những đặc trưng nói trên phản ánh thế mạnh vốn có hoặc
định hướng phát triển của Nhà nước đối với các thành phố trực thuộc Trung
ương. Đây là những thế mạnh nổi trội về các mặt chính trị - kinh tế - văn hoá -


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status