Hoạt động ban hành văn bản quy phạm pháp luật của chính quyền địa phương qua ví dụ thành phố Hà Nội - Pdf 25



ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC

NGÔ THỊ LAN



ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
NGÔ THỊ LAN
HOẠT ĐỘNG BAN HÀNH VĂN BẢN QUY PHẠM
PHÁP LUẬT CỦA CHÍNH QUYỀN DỊA PHƯƠNG
1
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 3
Chương 1 10
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ VĂN BẢN QUY PHẠM 10
PHÁP LUẬT VÀ HOẠT ĐỘNG BAN HÀNH VĂN BẢN QUY
PHẠM 10
PHÁP LUẬT CỦA HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN, ỦY BAN NHÂN
DÂN 10
1.1. Khái niệm văn bản quy phạm pháp luật 10
Theo quy định tại Điều 1 Luật Ban hành văn bản quy phạm
pháp luật năm 1996, được sửa đổi, bổ sung năm 2002 (gọi tắt
là Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Trung ương)
[16, tr. 40] "Văn bản quy phạm pháp luật là văn bản do cơ quan
nhà nước có thẩm quyền ban hành theo thủ tục, trình tự luật định,
trong đó có quy tắc xử sự chung, được Nhà nước bảo đảm thực
hiện nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội theo định hướng xã hội
chủ nghĩa”. 10
1.2. Cơ sơ pháp lý của hoạt động ban hành văn bản quy phạm
pháp luật của Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân 13
1.2.1. Thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật .13
1.2.2. Hình thức văn bản quy phạm pháp luật 18
1.2.3. Thể thức văn bản quy phạm pháp luật 20
1.2.4. Trình tự, thủ tục ban hành văn bản quy phạm pháp
luật 21

khoa học 69
2.3.4. Công tác xây dựng Chương trình và soạn thảo văn bản
quy phạm pháp luật chưa nhận được sự quan tâm đúng mức
của lãnh đạo Thành phố 70
2.3.5. Trình độ pháp lý của cán bộ tham gia soạn thảo văn bản
còn hạn chế 71
Chương 3 72
MỘT SỐ GIẢI PHÁP VÀ KIẾN NGHỊ NÂNG CAO CHẤT
LƯỢNG 72
SOẠN THẢO, BAN HÀNH VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP
LUẬT 72
TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HÀ NỘI 72
3.1. Một số giải pháp cơ bản 72
3.1.1. Thực hiện đúng trình tự, thủ tục soạn thảo văn bản 72
3.1.2. Thường xuyên thực hiện rà soát, hệ thống hoá văn bản
quy phạm pháp luật đã được ban hành 76 3
3.1.3. Tổ chức tốt việc thực hiện văn bản quy phạm pháp luật
77
3.2. Một số kiến nghị cụ thể 79
3.2.1. Đối với các cơ quan nhà nước ở Trung ương 79
3.2.2. Đối với các cơ quan nhà nước ở địa phương 88
KẾT LUẬN 93
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 95
MỞ ĐẦU

- Văn bản được ban hành chất lượng chưa cao;
- Chưa có sự tham gia tích cực của người dân vào quy trình soạn thảo,
ban hành văn bản quy phạm pháp luật; chưa thực sự coi trọng việc tổ chức lấy
ý kiến của tổ chức, cá nhân; không tiến hành đánh giá tác động kinh tế - xã
hội của văn bản trước và sau khi ban hành; dẫn đến tình trạng văn bản hoặc
không phù hợp với thực tế, hoặc thiếu nguồn lực (tài chính, con người) để
thực hiện, hoặc vừa mới ban hành đã phải sửa đổi, bổ sung;
- Chất lượng góp ý, thẩm định dự thảo văn bản quy phạm pháp luật
chưa cao do hình thức phối hợp, công tác tổ chức góp ý, thẩm định chưa tốt
nên ảnh hưởng tới chất lượng của hoạt động góp ý, thẩm định dự thảo văn bản
quy phạm pháp luật;
- Hệ thống văn bản chồng chéo, văn bản của cơ quan cấp dưới sao chép
văn bản của cơ quan cấp trên, nội dung văn bản mâu thuẫn; nhiều tầng nấc,
nhiều chủ thể ban hành, nhiều hình thức văn bản dẫn đến việc áp dụng văn
bản khó khăn 5
Tình hình thực tế cho thấy tính cấp thiết của việc phải nghiên cứu một
cách cơ bản, toàn diện về hoạt động ban hành văn bản quy phạm pháp luật
của chính quyền địa phương. Việc nghiên cứu để làm rõ các vấn đề lý luận về
văn bản quy phạm pháp luật của chính quyền địa phương, xây dựng cơ sở
khoa học cho việc đánh giá thực trạng hiệu quả pháp luật của chính quyền địa
phương và tìm ra những giải pháp đúng đắn, phù hợp để từng bước nâng cao
hiệu quả pháp luật trong những điều kiện, hoàn cảnh cụ thể hiện nay, góp
phần vào việc thực hiện thắng lợi mục tiêu ổn định và phát triển đất nước mà
Đảng, nhà nước ta đã đề ra trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã
hội chủ nghĩa không những có ý nghĩa về mặt khoa học mà còn có ý nghĩa về
mặt thực tiễn. Vì lẽ đó, vấn đề hoạt động ban hành văn bản quy phạm pháp
luật của chính quyền địa phương qua ví dụ thành phố Hà Nội được chọn làm

dựng văn bản quy phạm pháp luật nói chung, cho dù cũng đã có sự tổng kết,
đánh giá về việc xây dựng, thực hiện các văn bản trong thực tiễn, trên cơ sở
đó đề xuất những biện pháp khắc phục, nhưng cũng mới nêu lên một số nét
lớn, mang tính định hướng ở tầm vĩ mô toàn quốc mà chưa đi sâu vào giải
quyết những vướng mắc xuất phát từ đặc thù của chính quyền địa phương,
đặc biệt là ở các đô thị lớn như Thủ đô Hà Nội.
Tiếp thu có chọn lọc, luận văn này nghiên cứu một cách có hệ thống
hoạt động ban hành văn bản quy phạm pháp luật của chính quyền địa phương
qua ví dụ Thành phố Hà Nội.
3. Mục đích, nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu
Mục đích:
Luận văn có mục đích làm sáng tỏ những vấn đề lý luận cơ bản về văn
bản quy phạm pháp luật và hoạt động xây dựng, ban hành văn bản quy phạm 7
pháp luật của chính quyền địa phương, từ đó xây dựng cơ sở khoa học cho
việc đánh giá thực trạng, xác định phương hướng và đề xuất các giải pháp
nhằm nâng cao chất lượng hoạt động xây dựng, ban hành văn bản quy phạm
pháp luật của chính quyền địa phương, cụ thể là của Hội đồng nhân dân, Uỷ
ban nhân dân Thành phố Hà Nội trong giai đoạn hiện nay.
Nhiệm vụ:
Để thực hiện mục đích đã nêu trên, luận văn có những nhiệm vụ sau đây:
* Phân tích cơ sở lý luận và thực tiễn về hoạt động xây dựng, ban hành văn
bản quy phạm pháp luật của chính quyền địa phương từ khi Luật Ban hành văn bản
quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân có hiệu lực (01/4/2005);
* Nghiên cứu tổng quan về hoạt động xây dựng, ban hành văn bản quy
phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân Thành phố Hà Nội
trong giai đoạn hiện nay để khẳng định những bước phát triển, những ưu điểm
cần phát huy, đồng thời tìm ra những hạn chế, nhược điểm và nguyên nhân

luật của chính quyền địa phương và xác định những phương hướng, giải pháp
cơ bản để hoàn thiện công tác này ở một địa bàn cụ thể - Thành phố Hà Nội.
Từ đó nâng cao nhận thức, trách nhiệm chỉ đạo của các cơ quan Đảng, Nhà
nước và các tổ chức chính trị - xã hội đối với hoạt động này, góp phần đưa
công tác xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật nói chung và công
tác xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật của chính quyền địa
phương nói riêng vào nề nếp.
- Luận văn có thể làm tài liệu tham khảo trong công tác chỉ đạo hoạt
động xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật của chính quyền địa
phương khác có điều kiện kinh tế - xã hội tương tự như Thành phố Hà Nội.
6. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn
gồm 3 chương:
Chương 1: Một số vấn đề lý luận về văn bản quy phạm pháp luật và
hoạt động ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Uỷ
ban nhân dân.
Chương 2: Thực trạng công tác soạn thảo, ban hành văn bản quy phạm
pháp luật của Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân Thành phố Hà Nội.
Chương 3: Một số giải pháp và kiến nghị nâng cao chất lượng soạn
thảo, ban hành văn bản quy phạm pháp luật trên địa bàn Thành phố Hà Nội.
10

Chương 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ VĂN BẢN QUY PHẠM
PHÁP LUẬT VÀ HOẠT ĐỘNG BAN HÀNH VĂN BẢN QUY PHẠM
PHÁP LUẬT CỦA HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN, ỦY BAN NHÂN DÂN
1.1. Khái niệm văn bản quy phạm pháp luật

liên tịch giữa một cơ quan nhà nước với một tổ chức chính trị - xã hội, như:
Mặt trận Tổ quốc, Đoàn thanh niên hoặc Trung ương Hội phụ nữ Việt Nam).
Mặt khác, không phải bất kỳ cơ quan nhà nước nào cũng có thẩm
quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật mà chỉ các cơ quan nhà nước
được luật quy định mới có quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật. ở
Việt Nam, hệ thống cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành các văn bản
quy phạm pháp luật được quy định cụ thể trong Luật Ban hành văn bản quy
phạm pháp luật. Trong đó, Luật quy định rõ cơ quan nào có thẩm quyền ban
hành văn bản quy phạm pháp luật và ban hành văn bản dưới tên gọi như thế
nào. ở mỗi giai đoạn khác nhau, Nhà nước có thể quy định khác nhau về các
cơ quan được phép ban hành văn bản quy phạm pháp luật. Luật Ban hành văn
bản quy phạm pháp luật ở nước ta được ban hành lần đầu tiên vào năm 1996
và được sửa đổi, bổ sung năm 2002. Khác với Luật năm 1996, Luật năm 2002
không quy định thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật cho các cơ
quan trực thuộc Chính phủ.
- Văn bản quy phạm pháp luật có chứa đựng các quy tắc xử sự
chung
Khác với quyết định hành chính hay bản án đơn lẻ, văn bản quy phạm
pháp luật phải là văn bản có chứa đựng các quy tắc áp dụng cho nhiều chủ 12
thể. Mặc dù, mỗi văn bản quy phạm pháp luật có giới hạn chủ thể riêng nhưng
chủ thể phải thực hiện văn bản quy phạm pháp luật là chủ thể không xác định,
không cụ thể, rõ ràng mà rất trừu tượng. Khi có sự kiện pháp lý xảy ra mới
xác định chủ thể. Các văn bản áp dụng pháp luật, mặc dù cũng chứa đựng các
quy tắc xử sự nhưng không phải là văn bản quy phạm pháp luật vì đó là các
quy tắc xử sự cá biệt cho từng chủ thể xác định (ví dụ: Bản án của Tòa án nhân
dân). Các văn bản do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành nhưng không
chứa đựng các quy phạm pháp luật thì không phải là văn bản quy phạm pháp

pháp luật của Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân
1.2.1. Thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật
Trong những năm gần đây, hoạt động quản lý của các cơ quan chính
quyền địa phương đã được tăng cường đáng kể và được phân định khá rõ
ràng. Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân (các cấp) năm
2003 quy định cụ thể về thẩm quyền quản lý của các cấp chính quyền địa
phương. Cùng với đó là xu hướng cải cách hành chính đang được thực hiện,
trong đó có nội dung phân định rõ mối quan hệ giữa Trung ương và địa
phương, tăng quyền tự chủ cho địa phương, thực hiện dân chủ ở cơ sở.
Nhu cầu quản lý tất yếu sẽ dẫn đến nhu cầu ban hành văn bản để quản
lý. Các văn bản pháp luật được ban hành nhiều hơn nhằm đạt được mục đích
mà các chủ thể quản lý đặt ra, bởi vì có nhiều lĩnh vực ở địa phương cần phải
điều chỉnh bằng văn bản pháp luật.
Theo quy định tại Điều 1 và 2 Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và Uỷ
ban nhân dân năm 2003 thì: “Hội đồng nhân dân là cơ quan quyền lực nhà
nước ở địa phương, đại diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của 14
nhân dân, do nhân dân địa phương bầu ra, chịu trách nhiệm trước nhân dân
địa phương và cơ quan nhà nước cấp trên”; “Uỷ ban nhân dân do Hội đồng
nhân dân bầu ra là cơ quan chấp hành của Hội đồng nhân dân, cơ quan hành
chính nhà nước ở địa phương, chịu trách nhiệm trước Hội đồng nhân dân
cùng cấp và cơ quan nhà nước cấp trên. Uỷ ban nhân dân chịu trách nhiệm
chấp hành Hiến pháp, Luật, các văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên và
Nghị quyết của Hội đồng nhân dân cùng cấp ” [2, tr. 5, 6]
Quyền lực của Hội đồng nhân dân được giới hạn trong phạm vi đơn vị
hành chính - lãnh thổ. Hội đồng nhân dân ban hành các Nghị quyết về các
biện pháp bảo đảm thi hành nghiêm chỉnh Hiến pháp và pháp luật ở địa
phương. Hội đồng nhân dân có quyền chủ động quyết nghị về các vấn đề trong

thành phố trực thuộc trung ương chia thành quận, huyện và thị xã; huyện chia
thành xã và thị trấn; thành phố trực thuộc tỉnh, thị xã chia thành phường và
xã; quận chia thành phường. Ba cấp tỉnh, huyện, xã hoặc thành phố, quận,
phường cùng tồn tại trên cùng một địa bàn. Vấn đề đặt ra cho các nhà làm
luật, các nhà quản lý: phải quy định một cách cụ thể, rõ ràng nhiệm vụ của
từng cấp địa phương để từng cấp biết cụ thể về một lĩnh vực nào đó mình
phải làm gì và được làm gì.
Cụ thể hoá Hiến pháp, Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và Uỷ ban
nhân dân năm 2003 đã quy định đầy đủ về nhiệm vụ, quyền hạn của Hội đồng
nhân dân và Uỷ ban nhân dân ở cả ba cấp; tuy nhiên, nhìn chung các quy định
này chưa phân biệt rành mạch chức năng của từng cấp địa phương trên cùng
lĩnh vực và trên từng địa bàn đặc biệt là trong lĩnh vực ban hành văn bản quy
phạm pháp luật. Việc ban hành văn bản quy phạm pháp luật phải qua nhiều
tầng nấc trung gian. Thực tế, nếu Nhà nước ban hành một văn bản quy phạm 16
pháp luật nào đó thì thông thường các văn bản đó chưa được địa phương áp
dụng nếu chưa có văn bản hướng dẫn của chính địa phương đó, hoặc cấp trên
trực tiếp. Điều này dẫn đến tâm lý chờ đợi, chậm thực hiện văn bản
[24, tr. 82]. Hơn nữa, nhiều khi cùng một vấn đề mà cả ba cấp đều cùng ban
hành văn bản để quy định sẽ dễ tạo ra mâu thuẫn, chồng chéo, gây lúng túng
cho cả cơ quan ban hành và người thực hiện.

Hình thức văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Uỷ ban
nhân dân:

Nội dung văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Uỷ ban
nhân dân:


của
HĐND

Quyết
định,
Chỉ thị
của
UBND

Nghị
quyết
của
HĐND

Quyết
định,
Chỉ thị
của
UBND

7 vấn đề quy
14 vấn đề quy
7 vấn đề quy
11 vấn đề quy
6 vấn đề quy
7 vấn đề quy 17


quyết các vấn đề thường gặp trong cuộc sống, thì những nhiệm vụ nào giao
cho cấp này là phù hợp và hiệu quả nhất? Và phương thức nào để các địa
phương hoàn thành nhiệm vụ của mình một cách hoàn hảo nhất?
Thực tế, việc phân công, phân cấp cho chính quyền địa phương đã được
quy định trong một số luật, pháp lệnh chuyên ngành. Tuy nhiên, đây là cách
quy định còn mang tính phân tán, thiếu đồng bộ, do các cơ quan khác nhau chuẩn
bị cho nên thường không có sự nhất quán, nhiều khi còn mâu thuẫn với nhau.
Theo quy định của pháp luật hiện hành, thẩm quyền ban hành văn bản
quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân các cấp được
trao cho cả ba cấp tỉnh, huyện và xã theo nguyên tắc tập thể ban hành.
1.2.2. Hình thức văn bản quy phạm pháp luật
Hình thức văn bản quy phạm pháp luật là sự thể hiện bên ngoài nội
dung của văn bản quy phạm pháp luật đó. Trong khái niệm văn bản quy phạm
pháp luật, hình thức văn bản được xem như một yếu tố, một dấu hiệu và đặc
trưng không thể thiếu của loại văn bản này. Khi điều chỉnh một vấn đề pháp
lý, cơ quan có thẩm quyền phải sử dụng đúng hình thức văn bản mà mình
được phép ban hành. Nếu không, văn bản đó bị coi là vi phạm thẩm quyền về
mặt hình thức và sẽ bị xử lý theo quy định về xử lý văn bản quy phạm pháp
luật. Như vậy, việc tuân thủ quy định về hình thức là một điều kiện khẳng
định tính chất của văn bản quy phạm pháp luật, là một yếu tố chứng minh tính
hợp pháp của văn bản quy phạm pháp luật. Việc tuân thủ hình thức văn bản
còn là minh chứng cho kỷ luật và kỷ cương hành chính, thể hiện tính pháp chế
trong hoạt động quản lý nhà nước [13, tr. 19] 19
Mỗi cơ quan quản lý nhà nước theo thẩm quyền luật định được ban
hành một số hình thức văn bản nhất định. Các văn bản đó có tên gọi và được
trình bày theo một cơ cấu do pháp luật quy định. Nếu cần đặt ra các quy phạm
pháp luật để thực hiện chức năng quản lý nhà nước mà pháp luật giao, cơ

văn bản nhất định theo quy định tại Nghị định số 110/2004/NĐ-CP ngày
08/4/2004 của Chính phủ về công tác văn thư và Thông tư liên tịch số
55/2005/TTLT-BNV-VPCP ngày 06/5/2005 của liên bộ: Bộ Nội vụ và Văn
phòng Chính phủ. Một văn bản quy phạm pháp luật được trình bày đúng thể
thức phải có đủ các thành phần sau [7]:
+ Quốc hiệu: Quốc hiệu (tên nước và chế độ chính trị) gồm 2 dòng chữ:
"Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam" và "Độc lập - Tự do - Hạnh phúc"
phải được viết trên cùng, bên góc phải văn bản;
+ Tên cơ quan, tổ chức ban hành văn bản (tác giả văn bản): Bao gồm
tên của cơ quan, tổ chức ban hành văn bản và phải được ghi đầy đủ theo tên
gọi chính thức và được viết ngang hàng với quốc hiệu, bên góc trái văn bản;
+ Số, ký hiệu của văn bản: Số, ký hiệu của văn bản bao gồm số thứ tự
được đánh theo từng loại văn bản do cơ quan ban hành trong một năm; năm
ban hành văn bản đó; chữ viết tắt của mỗi loại văn bản và tên cơ quan ban
hành văn bản đó; được ghi ngay dưới tên cơ quan ban hành văn bản;
+ Địa danh và ngày, tháng, năm ban hành văn bản: Được ghi ngay
dưới quốc hiệu, hơi lệch về phía bên phải văn bản; 21
+ Tên loại văn bản: Tên loại văn bản là tên của từng loại văn bản do cơ
quan, tổ chức ban hành. Khi ban hành văn bản quy phạm pháp luật và văn bản
hành chính đều phải ghi tên loại, trừ công văn;
+ Nội dung văn bản: Nội dung văn bản là thành phần chủ yếu của một
văn bản, được trình bày tuỳ thuộc vào từng loại văn bản và từng nội dung cụ
thể. Trong kết cấu và bố cục của nội dung, tuỳ theo đối tượng điều chỉnh,
phạm vi điều chỉnh và giá trị pháp lý của văn bản có thể chia ra thành thứ tự
như sau: Chương - mục - điều - khoản - điểm - tiết;
+ Chức vụ, họ tên và chữ ký của người có thẩm quyền: Được trình bày
dưới phần nội dung, phía bên phải văn bản. Người có thẩm quyền ký không

tính đúng đắn cũng như hiệu quả của văn bản quy phạm pháp luật; góp phần
làm nhẹ đi rất nhiều việc kiểm tra sau đối với văn bản quy phạm pháp luật mà
hậu quả của nó là văn bản bị ngưng hiệu lực, đình chỉ việc thi hành hoặc bị
bãi bỏ, huỷ bỏ bởi cơ quan có thẩm quyền.
Việc kiểm tra trước phải trở thành một công đoạn cần thiết của quá
trình xây dựng và ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân
dân, Uỷ ban nhân dân. Điều này xuất phát từ những yêu cầu thực tiễn của quy
trình soạn thảo văn bản, có thể là do người soạn thảo khó có thể đảm đương
được một lúc nhiều công việc: Kỹ thuật, cách thức trình bày và đề xuất các
chính sách pháp lý. Hơn nữa, cũng cần chú ý tới xu hướng cục bộ ngành, lĩnh
vực không đáp ứng được nhu cầu đối với chất lượng của văn bản quy phạm
pháp luật. 23
Giai đoạn trình văn bản lên cơ quan có thẩm quyền: Đây là giai đoạn
chuyển tiếp trước khi thảo luận, thông qua. Hồ sơ và thủ tục trình bảo đảm
đúng yêu cầu sẽ quyết định tới tiến độ, chất lượng của văn bản. Trong giai
đoạn này, cơ quan chủ trì soạn thảo hoàn thiện dự thảo và các tài liệu liên
quan lập thành hồ sơ trình cơ quan có thẩm quyền. Hồ sơ trình phải đảm bảo
đầy đủ ý kiến của các cơ quan có liên quan, ý kiến của cơ quan tư pháp, tờ
trình, các tài liệu cần thiết khác và phải trình đúng thời hạn trình. Thông
thường đây là giai đoạn chuyển tiếp diễn ra rất nhanh trong giai đoạn chuẩn bị
dự thảo, nhưng thời hạn trình phải bảo đảm để cơ quan có thẩm quyền ban
hành có đủ thời gian đọc và thảo luận các khía cạnh của chính sách và ảnh
hưởng đa chiều của chúng trước khi thông qua tại phiên họp của Uỷ ban
nhân dân.
Giai đoạn thảo luận, thông qua dự thảo văn bản: Hồ sơ sau khi trình
sẽ được chuyển đến các bộ phận chuyên môn có liên quan xem xét và quyết
định trình cơ quan có thẩm quyền thông qua. Văn bản của Hội đồng nhân dân,


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status