BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ TƯ PHÁP
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
HOÀNG THỊ MINH TUYÊN
ĐỀ TÀI
NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG VĂN BẢN QUY PHẠM
PHÁP LUẬT CỦA CHÍNH QUYỀN ĐỊA PHƯƠNG
TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Chuyên ngành: Luật Hiến Pháp và Luật Hành Chính
Mã số: 60380102
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: PGS.TS. Bùi Thị Đào
HÀ NỘI - 2017
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học độc lập của
riêng tôi.
Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công
trình nào khác. Các số liệu trong luận văn là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng,
được trích dẫn đúng theo quy định.
Tôi xin chịu trách nhiệm về tính chính xác và trung thực của Luận văn này.
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ................................................................................................... 1
1. Tính cấp thiết của đề tài ................................................................................ 1
2. Tình hình nghiên cứu đề tài .......................................................................... 2
3. Đối tượng nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu của đề tài ................................. 4
4. Mục đích và nhiệm vụ của việc nghiên cứu đề tài ........................................ 4
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu đề tài.......................................... 5
6. Những đóng góp của luận văn ...................................................................... 5
7. Kết cấu của Luận văn .................................................................................... 6
CHƢƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÍ LUẬN VỀ CHẤT LƢỢNG VĂN
BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT DO CHÍNH QUYỀN ĐỊA PHƢƠNG
BAN HÀNH .............................................................................................. 7
1.1. Khái niệm, đặc điểm văn bản quy phạm pháp luật do chính quyền địa
phương ban hành ............................................................................................... 7
1.1.1. Khái niệm chính quyền địa phương ........................................................ 7
1.1.2. Khái niệm văn bản quy phạm pháp luật do chính quyền địa phương ban
hành ................................................................................................................... 9
1.1.3. Đặc điểm của văn bản quy phạm pháp luật do chính quyền địa phương
ban hành .......................................................................................................... 11
1.1.4. Thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật của chính quyền địa
phương ............................................................................................................. 14
1.2. Chất lượng của văn bản quy phạm pháp luật do chính quyền địa phương
ban hành .......................................................................................................... 18
1.2.1. Quan niệm chất lượng của văn bản quy phạm pháp luật do chính quyền
địa phương ban hành ....................................................................................... 18
1.2.2. Tiêu chí đánh giá chất lượng của văn bản quy phạm pháp luật của chính
quyền địa phương ............................................................................................ 21
1.3. Tính cấp thiết và yêu cầu của việc nâng cao chất lượng văn bản quy phạm
pháp luật do chính quyền địa phương ban hành ............................................. 30
1.3.1. Tính cấp thiết của việc nâng cao chất lượng văn bản quy phạm pháp
BAN HÀNH TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY ................................... 66
3.1. Hoàn thiện hệ thống pháp luật về xây dựng, ban hành văn bản quy phạm
pháp luật của chính quyền địa phương ........................................................... 66
3.2. Đổi mới quy trình soạn thảo và ban hành văn bản quy phạm pháp luật của
chính quyền địa phương .................................................................................. 69
3.3. Nâng cao năng lực, trách nhiệm của đội ngũ làm công tác soạn thảo văn
bản quy phạm pháp luật của chính quyền địa phương .................................... 75
3.4. Tăng mức đầu tư kinh phí cho công tác văn bản quy phạm pháp luật của
chính quyền địa phương .................................................................................. 78
3.5. Cần có một hệ tiêu chí đánh giá chất lượng văn bản quy phạm pháp luật
nói chung, văn bản quy phạm pháp luật của chính quyền địa phươngnói riêng
làm cơ sở đánh giá chất lượng văn bản quy phạm pháp luật do chính quyền
địa phương ban hành ....................................................................................... 79
KẾT LUẬN CHƢƠNG 3 ....................................................................... 81
KẾT LUẬN ............................................................................................. 82
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO................................................ 84
1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã
hội (bổ sung, phát triển năm 2011) và Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội
giai đoạn 2011 - 2020 được thông qua tại Đại hội lần thứ XI của Đảng, đồng
thời đáp ứng yêu cầu của Nghị quyết số 49-NQ/TW của Bộ Chính trị về
Chiến lược Cải cách Tư pháp đến năm 2020 đã đưa ra mục tiêu:“đẩy mạnh
công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước gắn với phát triển kinh tế tri thức,
Đảng, nhà nước và là cầu nối giữa nhà nước với nhân dân.
Trong những năm qua hoạt động ban hành VBQPPL của CQĐP đã có
những đổi mới và có nhiều tiến bộ, từng bước nâng cao hiệu lực, hiệu quả
quản lý nhà nước. Tuy nhiên hoạt động ban hành VBQPPL của CQĐP cũng
còn bộc lộ nhiều bất cập so với yêu cầu lý luận và thực tiễn. Những hạn chế
này đã và đang dẫn đến nhiều hệ quả tiêu cực như: hiện tượng coi thường
pháp luật, tội phạm và vi phạm pháp luật ở các địa phương có chiều hướng
gia tăng. Đặc biệt, nạn quan liêu, tham nhũng suy thoái đạo đức, lối sống của
một bộ phận không nhỏ cán bộ, công chức CQĐP làm giảm sút lòng tin của
nhân dân vào đảng, vào chính quyền. Thực trạng trên chính là một hồi
chuông báo động về việc ban hành VBQPPL của CQĐP chưa thực sự đạt
được chất lượng tốt. Từ đó, đặt ra nhiệm vụ nghiên cứu về mặt lý luận và thực
tiễn các vấn đề có liên quan đến chất lượng của hoạt động ban hành VBQPPL
của CQĐP. Từ đó có những phân tích, đánh giá về tình hình ban hành và chất
lượng của những VBQPPL của CQĐP, đề xuất những giải pháp góp phần
nâng cao chất lượng ban hành VBQPPL của CQĐP. Xuất phát từ lý do như
vậy, tác giả chọn đề tài: “Nâng cao chất lượng VBQPPL của CQĐP trong
giai đoạn hiện nay” làm đề tài luận văn tốt nghiệp cao học của mình trong bối
cảnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, hội nhập quốc tế hiện nay.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Liên quan đến nhu cầu nâng cao chất lượng ban hành VBQPPL của
CQĐP đã có từ lâu và càng trở lên bức thiết trong những năm gần đây. Trong
thực tế đã có nhiều công trình nghiên cứu liên quan đến hoạt động ban hành
VBQPPL của CQĐP nói chung chất lượng ban hành VBQPPL của CQĐP nói
riêng. Tiêu biểu như:
Một số nghiên cứu về hoạt đồng ban hành VBQPPL của HDND,
UBND có thể kể đến: Viện khoa học pháp lý - Bộ Tư pháp (2012): Hội thảo
khoa học cấp bộ “Hoàn thiện pháp luật về ban hành VBQPPL của CQĐP
định của pháp luật và thực tiễn ban hành, trên cơ sở đó đề xuất các giải pháp
4
nâng cao chất lượng hoạt động ban hành VBQPPL của CQĐP hoặc của một
tỉnh, thành phố. Tuy nhiên, đến nay chưa có công trình nghiên cứu nào phân
tích, đánh giá chi tiết về chất lượng VBQPPL do CQĐP ban hành, trên cơ sở
đó đề xuất những kiến nghị để nâng cao chất lượng ban hành VBQPPL của
CQĐP. Đặc biệt trong bối cảnh Luật ban hành VBQPPL năm 2015, Luật Tổ
chức CQĐP năm 2015 mới có hiệu lực. Do đó, đề tài: “Nâng cao chất lượng
VBQPPL của CQĐP trong giai đoạn hiện nay” lần đầu tiên được nghiên cứu
ở cấp độ luận văn thạc sĩ một cách chuyên sâu, toàn diện, hệ thống và logic;
bảo đảm không bị trùng lặp với các công trình nghiên cứu đã được công bố.
3. Đối tƣợng nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu của đề tài
Chất lượng VBQPPL của CQĐP là một phạm trù rộng. Để đánh giá
chất lượng VBQPPL do CQĐP ban hành cần dựa trên các tiêu chí: chính trị,
pháp lý và khoa học. Đề tài tập trung nghiên cứu sâu về tình hình ban hành
VBQPPL do HĐND, UBND các cấp ban hành dựa trên những tiêu chí đánh
giá chất lượng như trên, từ đó đánh giá thành quả đạt được, những mặt hạn
chế và tìm ra những phương hướng, biện pháp thích hợp nhằm nâng cao hiệu
quả của hoạt động này trong giai đoạn hiện nay.
4. Mục đích và nhiệm vụ của việc nghiên cứu đề tài
Việc nghiên cứu đề tài này nhằm mục đích làm sáng tỏ các tiêu chí để
đánh giá chất lượng của VBQPPL nói chung, tiêu chí đánh giá chất lượng
VBQPPL do CQĐP ban hành nói riêng. Đánh giá tình hình ban hành
VBQPPL của CQĐP chỉ ra những tồn tại, bất cập trong quy định của pháp
luật cũng như trong thực tiễn thi hành các quy định pháp luật này trên cơ sở
các tiêu chí được đưa ra nhằm đánh giá chất lượng của một VBQPPL. Trên cơ
sở đó đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng ban hành VBQPPL
nghiên cứu, ứng dụng vào thực tiễn.
Một số kiến nghị của đề tài có giá trị tham khảo cho các cơ quan nhà
nước trong quá trình vận dụng thực thi pháp luật, xây dựng và hoàn thiện hệ
thống luật khung, các quy phạm điều chỉnh công tác ban hành văn bản, nhất là
công tác nâng cao chất lượng ban hành VBQPPL của CQĐP trên cả nước
trong điều kiện đổi mới và hội nhập.
6
7. Kết cấu của Luận văn
Ngoài lời mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung
Luận văn gồm 3 chương, cụ thể:
Chương 1: Những vấn đề lí luận về chất lượng văn bản quy phạm pháp
luật do chính quyền địa phương ban hành.
Chương 2: Thực trạng chất lượng văn bản quy phạm pháp luật do chính
quyền địa phương ban hành.
Chương 3: Một số giải pháp nâng cao chất lượng văn bản quy phạm
pháp luật do chính quyền địa phương ban hành trong giai đoạn hiện nay.
7
Chƣơng 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÍ LUẬN VỀ CHẤT LƢỢNG VĂN BẢN QUY
PHẠM PHÁP LUẬT DO CHÍNH QUYỀN ĐỊA PHƢƠNG BAN HÀNH
1.1. Khái niệm, đặc điểm văn bản quy phạm pháp luật do chính
quyền địa phƣơng ban hành
1.1.1. Khái niệm chính quyền địa phương
Tổ chức quyền lực nhà nước là một vấn đề hết sức phức tạp. Tổ chức
điển Tiếng Việt thông dụng, chính quyền được hiểu là: “1. Bộ máy điều hành,
quản lý công việc nhà nước ở các cấp; 2. Quyền quản lý, điều khiển bộ máy
nhà nước ở các cấp”. Chính quyền theo nghĩa này gắn với từ “địa phương”, để
thực hiện quyền lực nhà nước trên lãnh thổ đó, nhà nước thành lập cơ quan
tương ứng quản lý. Bộ máy quản lý, điều hành trên các đơn vị hành chính lãnh thổ được gọi là CQĐP.
Trong khoa học pháp lý, khái niệm (thuật ngữ) chính quyền địa phương
(Local Authority) được nghiên cứu theo cả nghĩa rộng và nghĩa hẹp. Theo
nghĩa rộng, khái niệm CQĐP bao gồm tất cả các cơ quan nhà nước đóng trên
địa bàn địa phương với phạm vi hoạt động và thẩm quyền giới hạn trong địa
phương đó. Ở góc độ nghiên cứu này, khái niệm CQĐP đồng nhất với khái
niệm “hệ thống cơ quan nhà nước ở địa phương”, tức là bao gồm: cơ quan
quyền lực nhà nước, cơ quan hành chính nhà nước, các cơ quan tư pháp hoạt
động trong vùng lãnh thổ địa phương đó (trong đó có cả: Tòa án nhân dân,
Viện kiểm sát nhân dân, cơ quan của các Bộ, ngành trung ương đóng ở địa
phương…). Theo nghĩa hẹp, CQĐP được hiểu là các cơ quan này do nhân dân
địa phương trực tiếp bầu ra, hoặc được thành lập trên cơ sở của các cơ quan
đại diện của nhân dân ở địa phương theo quy định của pháp luật chỉ gồm cơ
quan quyền lực nhà nước và cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương tức
là HĐND và UBND các cấp. Tùy vào mục đích nghiên cứu, cách thức giải
quyết vấn đề lý luận hoặc thực tiễn mà khái niệm CQĐP được sử dụng theo
nghĩa rộng hoặc nghĩa hẹp. Tuy nhiên, khái niệm CQĐP được hiểu theo nghĩa
hẹp tức là chỉ bao gồm HĐND và UBND được các nhà nghiên cứu, các nhà
quản lý và những người làm công tác thực tiễn đồng thuận cao. Đây cũng là
cách hiểu phổ biến trong các văn kiện của Đảng, trong các văn bản pháp luật
và đang được áp dụng trong thực tế cuộc sống hiện nay. Trong phạm vi Luận
văn này, tôi tiếp cận khái niệm CQĐP theo nghĩa hẹp, tức là chỉ bao gồm hai
cơ quan HĐND và UBND.
9
10
Trong lịch sử lập pháp của nước ta, khái niệm VBQPPL đã nhiều lần được đề
cập trong xác Luật ban hành VBQPPL năm 1996. Tiếp theo đó là khái niệm
VBQPPL được đưa ra hoàn thiện hơn trong Luật ban hành VBQPPL năm
2008 và nay là Luật ban hành VBQPPL năm 2015.
So với khái niệm VBQPPL tại điều 1 năm 2008 thì khái niệm VBQPPL
trong Luật năm 2015 đã bổ sung ba tiêu chí về tần suất áp dụng: “được áp
dụng lặp đi, lặp lại nhiều lần”, đối tượng áp dụng: “đối với cơ quan, tổ chức,
cá nhân” và không gian áp dụng: “trong phạm vi cả nước hoặc đơn vị hành
chính nhất định” để xác định quy phạm pháp luật. Cụ thể:
Theo quy định của pháp luật hiện hành, văn bản quy phạm pháp luật
được định nghĩa tại Điều 2 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm
2015: “VBQPPL là văn bản có chứa quy phạm pháp luật, được ban hành theo
đúng thẩm quyền, hình thức, trình tự, thủ tục quy định trong Luật này”.
Điều 3 Luật ban hành VBQPPL năm 2015 quy định: “quy phạm pháp
luật là quy tắc xử sự chung, có hiệu lực bắt buộc chung, được áp dụng lặp đi
lặp lại nhiều lần đối với cơ quan, tổ chức, cá nhân trong phạm vi cả nước hoặc
đơn vị hành chính nhất định, do cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền quy
định trong Luật này ban hành và được Nhà nước bảo đảm thực hiện”.
Theo đó, ta có thể hiểu VBQPPL là văn bản chứa đựng quy tắc xử sự
chung, có hiệu lực bắt buộc chung, được áp dụng nhiều lần đối với cơ quan,
tổ chức, cá nhân trong phạm vi cả nước hoặc đơn vị hành chính nhất định,
do cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền ban hành theo đúng thẩm quyền,
hình thức, trình tự, thủ tục và được nhà nước bảo đảm thực hiện.
Từ định nghĩa ở trên cho thấy dưới góc độ lí luận VBQPPL là văn bản
hội tụ đủ những dấu hiệu sau đây: Do các chủ thể có thẩm quyền ban hành; có
nội dung chứa đựng các quy phạm pháp luật, có tính bắt buộc chung, được
Thứ nhất, văn bản quy phạm pháp luật do chính quyền địa phương ban
hành là văn bản do hội đồng nhân dân và ủy ban nhân dân các cấpban hành.
Pháp luật xác định cụ thể những chủ thể có thẩm quyền ban hành
VBQPPL và chỉ những chủ thể này mới được phép tiến hành hoạt động ban
hành VBQPPL. Trên cơ sở quy định của Hiến pháp năm 2013, Luật Tổ chức
CQĐP năm 2015. Luật ban hành VBQPPL năm 2015 quy định chủ thể ban
hành VBQPPLcủa CQĐP là HĐND và UBND các cấp. HĐND có thẩm
quyền ban hành nghị quyết, UBND có thẩm quyền ban hành quyết định.
Thẩm quyền của các chủ thể ban hành VBQPPL quyết định nội dung điều
chỉnh, phạm vi điều chỉnh và mức độ điều chỉnh của VBQPPL đó. Thêm vào
12
đó, cơ chế phân công và phối hợp, phân cấp thẩm quyền cũng như các nguyên
tắc tập trung dân chủ và pháp chế trong tổ chức, hoạt động của cơ quan nhà
nước là yếu tố quyết định sự hình thành một trật tự nghiêm ngặt về hiệu lực
pháp lý của các văn bản.
Thứ hai, văn bản quy phạm pháp luật do chính quyền địa phương ban
hànhcó nội dung chứa đựng các quy phạm pháp luật mang tính bắt buộc
chung và nhà nước bảo đảm thực hiện.
Đây là dấu hiệu cơ bản và quan trọng nhất để xác định một văn bản là
VBQPPL; là tiêu chí chủ yếu để phân biệt VBQPPL với các dạng văn bản
khác của nhà nước như văn bản áp dụng pháp luật, các loại văn bản hành
chính. Quy phạm pháp luật là những quy tắc xử sự chung, có hiệu lực bắt
buộc chung và được nhà nước thực hiện bằng nhiều biện pháp khác nhau.
VBQPPL có thể được nhà nước bảo đảm thi hành bằng các biện pháp như
tuyên truyền, giáo dục thuyết phục, các biện pháp về tổ chức hành chính, kinh
tế, các biện pháp cưỡng chế... Trong trường hợp cần thiết, nhà nước áp dụng
các biện pháp cưỡng chế bắt buộc các đối tượng có liên quan phải thi
hành để cụ thể hóa các quy định của pháp luật và văn bản của cơ quan nhà
nước cấp trên.
Đây là đặc điểm phù hợp với tình hình thực tiễn quản lý nhà nước. Nhu
cầu cần thiết phải có các VBQPPL điều chỉnh các quan hệ xã hội phù hợp với
mỗi địa phương, đáp ứng kịp thời các yêu cầu quản lý tại địa phương là nhu
cầu khách quan. Các cơ quan có thẩm quyền ở trung ương và cấp trên khó có
khả năng ban hành VBQPPL bao quát được toàn bộ những đặc điểm, điều
kiện đặc thù của địa bàn từng địa phương. Vì vậy việc trao cho các cấp CQĐP
thẩm quyền được ban hành các VBQPPL để cụ thể hóa các quy định của pháp
luật của các cơ quan nhà nước ở trung ương và cấp trên là phù hợp với hoàn
cảnh, điều kiện địa phương mình là hợp lý, đúng đòi hỏi, yêu cầu của thực
tiễn. Việc trao thẩm quyền này làm cho pháp luật trở nên gần và sát dân, với
cơ sở, từng bước ổn định, điều chỉnh hiệu quả các quan hệ xã hội nảy sinh
trong thực tiễn quản lý ở địa bàn địa phương.
Thứ hai, văn bản quy phạm pháp luật của chính quyền địa phương chỉ
có hiệu lực trên phạm vi địa giới của địa phương
Chính quyền địa phương các cấp là chủ thể của quản lý nhà nước ở địa
phương đó. Trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ, địa bàn quản lý được pháp
luật giao cho, CQĐP phải có trách nhiệm áp dụng các biện pháp đảm bảo cho
14
Hiến pháp, pháp luật được thực thi tại địa phương và hoạt động ban hành
VBQPPL của CQĐP luôn luôn gắn với hoạt động quản lý các lĩnh vực đời
sống xã hội thuộc địa bàn của mình. CQĐP ngoài việc triển khai, bảo đảm
cho các cơ quan, tổ chức và cá nhân trên địa bàn mình thực hiện đúng quy
định của pháp luật; bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức
và cá nhân, ban hành các quy định, chính sách phù hợp để thúc đẩy phát triển
kinh tế - xã hội, đời sống của nhân dân trên địa bàn còn có trách nhiệm bảo
hành văn bản theo đúng hình thức đã được quy định tại Điều 4 Luật ban hành
VBQPPL 2015. Theo quy định tại điều 4 của Luật năm 2015 thì hình thức
VBQPPL do HĐND ban hành là nghị quyết, UBND ban hành là quyết định.
Điều này nhằm hạn chế các cơ quan hành chính ở địa phương ban hành các
loại văn bản như: công văn, thông báo, bản kế hoạch… để đặt ra các quy
phạm điều chỉnh các quan hệ giữa công dân với nhà nước, trong khi đã có văn
bản của cơ quan nhà nước, cá nhân có thẩm quyền cấp trên ban hành và bảo
đảm tính thống nhất của VBQPPL. Việc quy định rõ hình thức VBQPPL của
CQĐP ban hành cũng góp phần thể hiện tính công khai, minh bạch của hệ
thống pháp luật. Việc tuân thủ hình thức của văn bản cũng là một yếu tố
chứng minh tính hợp pháp của văn bản. “Dưới góc độ quản lý nhà nước, việc
tuân thủ hình thức văn bản còn là minh chứng cho kỷ luật và kỷ cương hành
chính, thể hiện tính pháp chế trong hoạt động quản lý nhà nước”[1].
Cùng với việc quy định chủ thể mới là đơn vị hành chính - kinh tế đặc
biệt. Luật năm 2015 bổ sung văn bản quy phạm pháp luật của chính quyền
địa phương tại đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt.
Việc quy định về đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt tạo điều kiện để
địa phương lựa chọn phát triển thế mạnh ri êng có, nhằm khai thác tối đa tiềm
năng, lợi thế so sánh, tạo động lực phát triển mới, bảo đảm phân bổ nguồn lực
theo vùng, tạo hiệu ứng lan tỏa trên phạm vi cả nước.
Với tư cách là một đơn vị hành chính trong hệ thống bộ máy nhà nước,
Luật năm 2015 trao thẩm quyền ban hành VBQPPL cho đơn vị hành chính kinh tế đặc biệt. Tương tự hình thức VBQPPL của HĐND và UBND các cấp
được tổ chức tại các đơn vị hành chính bình thường, theo quy định tại Điều 29
Luật năm 2015, HĐND tại đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt ban hành nghị
quyết, UBND đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt ban hành quyết định. Mỗi
1. Bộ Tư pháp (2007), Sổ tay nghiệp vụ soạn thảo, ban hành VBQPPL của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân
dân các cấp, NXB Tư pháp, Hà Nội, tr.130.
16
được ban hành văn bản vượt quá thẩm quyền. Quy định này nhằm bảo đảm
việc thực thi pháp luật ở địa phương, tránh việc các chủ thể lạm quyền, tùy
17
tiện đưa ra các quy định gây ảnh hưởng đến hiệu lực của VBQPPL và bảo
đảm tính thống nhất của VBQPPL.
Theo khoa học pháp lí, thẩm quyền nội dung là giới hạn quyền lực mà
pháp luật cho phép các chủ thể ban hành VBQPPL để quy định những vấn đề
thuộc chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình. Với từng hình thức văn bản
được ban hành thì sẽ có những quy định tương ứng về nội dung được thể hiện
trong văn bản đó. Nội dung VBQPPL do CQĐP ban hành là phương tiện cơ
bản của nhà nước nên VBQPPL của CQĐP được sử dụng để giải quyết những
công việc phát sinh trong đời sống xã hội.
Luật Tổ chức CQĐP năm 2015, Luật ban hành VBQPPL năm 2015 đã
quy định cụ thể nội dung của VBQPPL do từng cơ quan, từng cấp ban hành.
Theo đó, HĐND cấp tỉnh ban hành nghị quyết để quy định: Chi tiết điều,
khoản, điểm được giao trong VBQPPL của cơ quan nhà nước cấp trên; chính
sách, biện pháp nhằm bảo đảm thi hành Hiến pháp, luật, VBQPPL của cơ
quan nhà nước cấp trên; biện pháp nhằm phát triển kinh tế - xã hội, ngân sách,
quốc phòng, an ninh ở địa phương; biện pháp có tính chất đặc thù phù hợp với
điều kiện phát triển kinh tế - xã hội của địa phương (Điều 27). UBND cấp tỉnh
ban hành quyết định để quy định: Chi tiết điều, khoản, điểm được giao trong
VBQPPL của cơ quan nhà nước cấp trên; biện pháp thi hành Hiến pháp, luật,
văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên, nghị quyết của HĐND cùng cấp về
phát triển kinh tế - xã hội, ngân sách, quốc phòng, an ninh ở địa phương; biện
pháp thực hiện chức năng quản lý nhà nước ở địa phương (Điều 28). Hội
đồng nhân dân ở đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt ban hành nghị quyết, Ủy
ban nhân dân ở đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt ban hành quyết định theo
cũng như khả năng đáp ứng nhu cầu của đời sống xã hội trong từng thời kỳ
của văn bản đó.
Việc ban hành VBQPPL của HĐND, UBND có vai trò hết sức quan
trọng trong điều chỉnh, quản lý các quan hệ xã hội, bảo đảm hài hòa lợi ích
chung. Một VBQPPL có chất lượng thì phải đáp ứng được nhu cầu quản lý xã
hội và tạo động lực cho sự phát triển xã hội. Nó điều tiết được các vấn đề xã
hội, thiết lập môi trường pháp lý để thúc đẩy mọi tổ chức, cá nhân hành động
vì lợi ích chung, thúc đẩy nỗ lực của các cơ quan quản lý nhà nước và các
thành viên khác trong xã hội. VBQPPL có chất lượng tốt có khả năng làm
thay đổi các hành vi xử sự không mong muốn và thiết lập hành vi xử xự phù
hợp, đưa ra các biện pháp để các tổ chức, cá nhân trong xã hội thực thi pháp
luật từ đó góp phần làm ổn định trật tự xã hội, tạo cơ hội quản lý và phát triển.
19
VBQPPL của CQĐP thể chế hóa và bảo đảm thực hiện các chính sách, quy
định của cơ quan nhà nước cấp trên được thực thi hiệu quả tại địa phương.
VBQPPL là biểu hiện hoạt động của quản lý. VBQPPL được ban hành tạo ra
hành lang pháp lý mà trong phạm vi đó từng cá nhân, cơ quan, tổ chức tuân
theo. Điều đó sẽ giúp đem lại công bằng xã hội, giảm đói nghèo, tạo ra động
lực cho xã hội phát triển. Thông qua các VBQPPL, địa phương đưa ra các
biện pháp để quản lý tốt địa phương mình về kinh tế, xã hội, thu hút đầu tư,
khuyến khích sự phát triển của các doanh nghiệp trong và ngoài nước…
Nhu cầu của xã hội luôn luôn biến động nên chất lượng VBQPPL của
CQĐP cũng sẽ có những biến động theo thời gian và không gian, có thể ở thời
điểm này các quy định như vậy là phù hợp nhưng ở thời điểm khác nó đã
không còn phù hợp nữa. Cũng như mỗi địa phương có những đặc điểm khác
nhau về điều kiện tự nhiên, điều kiện kinh tế xã hội, có những thế mạnh riêng
để phát triển. Thông qua VBQPPL, CQĐP phân bổ các nguồn lực cho từng khu