Vận dụng tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh nhằm nâng cao chất lượng giáo dục đạo đức cho sinh viên trường Đại học Vinh trong giai đoạn hiện nay - Pdf 31

1


MỤC LỤC

Trang

A. MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Đạo đức là một hình thái ý thức xã hội có vai trò rất quan trọng đối
với quá trình hình thành nhân cách lối sống của con người. Giáo dục đạo
đức lối sống tốt đẹp theo các chuẩn mực đạo đức của Chủ tịch Hồ Chí Minh
vừa là yêu cầu cơ bản thường xuyên của sự nghiệp cách mạng, vừa là nhiệm
vụ cấp bách hiện nay, nhằm khơi dậy và phát huy các giá trị đạo đức truyền
thống tốt đẹp của dân tộc. Đồng thời khắc phục sự suy thoái về đạo đức lối
sống và các tệ nạn xã hội, hình thành và phát triển các giá trị đạo đức mới.
Từ đó từng bước xây dựng con người Việt Nam có nhân cách cao đẹp, có
bản lĩnh chính trị vững vàng, lối sống lành mạnh, quan hệ xã hội nhân văn,
tiến bộ.
Chủ tịch Hồ Chí Minh là tấm gương mẫu mực, sáng ngời, tiêu biểu
cho các giá trị đạo đức truyền thống dân tộc Việt Nam. Việc học tập và làm
theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh là rất cần thiết. Dù Người đã đi xa
nhưng để lại cho dân tộc ta di sản tinh thần to lớn, những tư tưởng vô giá và
giá trị nhân văn cao cả. Vì vậy, toàn đảng, toàn quân và toàn dân ta nguyện
suốt đời học tập đạo đức, tác phong và lối sống của Người.
Vào tháng 11/2006, Bộ Chính Trị quyết định mở cuộc vận động “ Học
tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” trong toàn Đảng, toàn
quân và toàn dân. Đây là đợt triển khai sâu rộng trong toàn xã hội mà trong
đó có tầng lớp học sinh, sinh viên về học tập và làm theo tấm gương đạo đức

2


Vì vậy mà tôi chọn đề tài “ Vận dụng tư tưởng đạo đức Hồ Chí
Minh nhằm nâng cao chất lượng giáo dục đạo đức cho sinh viên trường
đại học Vinh trong giai đoạn hiện nay”.
2. Lịch sử nghiên cứu
Đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về sự vận dụng tư tưởng đạo
đức Hồ Chí Minh vào công tác giáo dục đạo đức cho sinh viên như:
-

Thạc sĩ Thái Bình Dương: Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo

dục đạo đức cách mạng cho sinh viên ở trường đại học Vinh hiện nay (Đề tài
nghiên cứu Khoa học cấp bộ năm 2008).
-

Đoàn Nam Đàn: Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục và đào

tạo thanh niên ở nước ta hiện nay (Luận án tiến sĩ triết học, năm 2005, Học
viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh).
-

Thạc sĩ Thái Bình Dương: Chủ tịch Hồ Chí Minh với vấn đề giáo

dục đạo đức cách mạng cho thanh niên – Tạp chí giáo dục lý luận, Học viện
Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh – HVCT Khu vực 1số 9 (102) - 2005.
-

Thạc sĩ Bùi Thị Cần: Tư tưởng Hồ Chí Minh về bồi dưỡng thế hệ trẻ

và sự vận dụng vào công tác bồi dưỡng sinh viên ở đại học Vinh hiện nay


thanh niên”, Tạp chí Cộng sản, số 6, năm 2005.
Từ những cách tiếp cận khác nhau, các công trình nói trên đã phần nào
đề cập tới tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh về giáo dục đạo đức cho thế hệ trẻ
nói chung và giáo dục đạo đức cho sinh viên nói riêng. Trong đó, các tác giả
tập trung làm rõ tầm quan trọng và sự cần thiết của tư tưởng đạo đức Hồ Chí
Minh đối với việc giáo dục, bồi dưỡng đạo đức cho thế hệ trẻ, thế hệ cách
mạng cho đời sau.
Những kết quả nghiên cứu của các công trình là nguồn tư liệu quý và
quan trọng giúp tôi tiếp thu, tham khảo, làm định hướng cho đề tài nghiên
cứu của mình.
3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
- Mục đích:
Nghiên cứu những nội dung cơ bản của tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh
để làm cơ sở lý luận cho việc tìm hiểu thực trạng của quá trình giáo dục đạo
đức Hồ Chí Minh ở trường đại học Vinh. Từ đó đưa ra giải pháp nhằm nâng
cao hiệu quả giáo dục và xây dựng cho sinh viên trường đại học Vinh những
chuẩn mực đạo đức, lối sống trong sáng và bản lĩnh chính trị vững vàng,
kiên định.
- Nhiệm vụ:
+ Phân tích làm rõ sự cần thiết của việc giáo dục đạo đức Hồ Chí Minh cho
sinh viên trường đại học Vinh.
+ Khảo sát thực trạng đạo đức và công tác giáo dục đạo đức của sinh viên
trường đại học Vinh.

5


+ Bước đầu đề xuất một số giải pháp nhằm vận dụng tư tưởng đạo đức Hồ
Chí Minh để nâng cao chất lượng giáo dục đạo đức cho sinh viên trường đại


B. NỘI DUNG
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC VẬN
DỤNG TƯ TƯỞNG ĐẠO ĐỨC HỒ CHÍ MINH VÀO CÔNG TÁC
GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CHO SINH VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
1.1 Lý luận chung về đạo đức và tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh.
1.1.1 Khái niệm đạo đức
Trong đời sống xã hội, đòi hỏi tất yếu mỗi người phải ý thức được ý
nghĩa, mục đích hoạt động của mình trong quá khứ, hiện tại và tương lai.
Những hoạt động đó bao giờ cũng có sự chi phối của những quan hệ giữa
các cá nhân, cá nhân và xã hội. Những mối quan hệ đó qui định giới hạn
nhất định nhằm đảm bảo lợi ích của cộng đồng và xã hội. Những qui định
này tự giác tạo thành động lực cho phát triển xã hội. Đó là các qui tắc, chuẩn
mực hoàn toàn tự giác trong hành động của mỗi cá nhân trong tất cả các
quan hệ xã hội. Nói cách khác, đó chính là đạo đức của con người trong xã
hội. Đạo đức có thể định nghĩa theo các khía cạnh sau:

7


Đạo đức là một hình thái ý thức xã hội, là tổng hợp các qui tắc,
nguyên tắc, chuẩn mực xã hội nhờ nó con người tự giác điều chỉnh hành vi
của mình sao cho phù hợp với lợi ích và hạnh phúc của con người, với tiến
bộ xã hội trong quan hệ cá nhân.
Đạo đức là toàn bộ những qui tắc, chuẩn mực nhằm điều chỉnh và
đánh giá cách ứng xử của con người với nhau trong quan hệ xã hội và quan
hệ với tự nhiên.
Đạo đức là hệ thống các qui tắc, chuẩn mực biểu hiện sự tự giác trong
quan hệ con người với con người, con người với cộng đồng xã hội, với tự
nhiên và với cả bản thân mình.

Một mặt, con người quan hệ với tự nhiên, tác động vào tự nhiên để thỏa mãn
cuộc sống của mình. Tự nhiên không thỏa mãn con người, điều đó buộc con
người phải xông vào tự nhiên để thỏa mãn mình. Mặt khác, khi tác động vào
tự nhiên, con người không thể đơn độc, con người phải quan hệ với con
người để tác động vào tự nhiên. Sự tác động lẫn nhau giữa người và người là
hệ quả của hoạt động vật chất và hoạt động tinh thần mà cơ bản là hoạt động
thực tiễn và hoạt động nhận thức. Cho nên Mác và Ăngghen quan niệm: Đạo
đức là sản phẩm tổng hợp của các yếu tố khách quan và chủ quan, là sản
phẩm của hoạt động thực tiễn và nhận thức của con người. Những quan hệ
người – người, cá nhân - xã hội càng có ý thức, tự giác, ý nghĩa và hiệu quả
của chúng càng có tính chất xã hội rộng lớn thì hoạt động của con người
càng có đạo đức. Đạo đức “đã là một sản phẩm xã hội, và vẫn là như vậy
chừng nào con người còn tồn tại”.
1.1.2

Nguồn gốc hình thành tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh
Tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh là một bộ phận cấu thành tư tưởng Hồ

Chí Minh cho nên nguồn gốc hình thành nên tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh
cũng là nguồn gốc của tư tưởng Hồ Chí Minh. Tư tưởng đạo đức Hồ Chí
9


Minh bắt nguồn từ truyền thống đạo đức của dân tộc Việt Nam đã được hình
thành, phát triển trong suốt quá trình đấu tranh dựng nước và giữ nước; là sự
vận dụng và phát triển sáng tạo tư tưởng đạo đức cách mạng của chủ nghĩa
Mác - Lênin. Đó là sự tiếp thu có chọn lọc và phát triển những tinh hoa văn
hóa, đạo đức của nhân loại, cả phương Đông và phương Tây, mà Người đã
tiếp thu được trong quá trình hoạt động cách mạng đầy gian lao, thử thách và
vô cùng phong phú vì mục tiêu giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải

một vùng văn hóa dân tộc học đặc sắc. Bác sinh ra trong một gia đình nhà
Nho nghèo yêu nước ở làng Sen, xã Kim Liên, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ
An - một vùng quê giàu truyền thống văn hiến và cách mạng. Vùng quê ấy,
trong suốt chiều dài lịch sử dựng nước và giữ nước, thường xuyên đương
đầu với muôn vàn giặc giã, thiên tai, trong khổ đau vẫn gan góc, trong mất
mát vẫn kiên cường. Truyền thống yêu nước của gia đình, quê hương đã ảnh
hưởng to lớn và sâu sắc đến tuổi ấu thơ của Bác, đến việc hình thành nhân
cách, tư tưởng của Người. Bối cảnh văn hóa hoàn cảnh quê hương và gia
đình đã có nhiều tác động thiết thực đến nhân vật kiệt xuất Hồ Chí Minh.
Tính cách xứ Nghệ với các đặc điểm: Lý tưởng trong tâm hồn, trung kiên
trong bản chất, khắc khổ trong sinh hoạt, cứng cỏi trong giao lưu…đều là
những tính cách có ý nghĩa đạo đức. Đặc biệt là gương hy sinh vì độc lập tự
do của đất nước của những con người nơi đây. Những tấm gương gia đình
Nghệ Tĩnh và riêng gia đình Hồ Chí Minh đã có ảnh hưởng sâu sắc đến tâm
hồn, lý tưởng cậu bé Nguyễn Sinh Cung, của chàng trai Nguyễn Tất Thành.
Bản thân gia đình Hồ Chí Minh cũng là một gia đình văn hóa đạo đức,
vừa có chất Nho giáo, vừa chịu ảnh hưởng Duy Tân. Những người trong và
ngoài gia đình Hồ Chí Minh - là những nhân vật khá tiêu biểu, những hình
ảnh đẹp của thời đại. Những bạn bè của ông, rồi của cha như Hồ Sĩ Tạo,
Vương Thúc Mậu, Hà Văn Cận, Phan Bội Châu, bà ngoại Nguyễn Thị Kép,
ông ngoại Hoàng Xuân Đường có công lao tác thành cho Nguyễn Sinh Sắc.
Những vị quan có uy tín và thế lực lớn như Cao Xuân Dục, Đào Tấn đã dành
cho Nguyễn Sinh Sắc rất nhiều thiện cảm và cả những người bạn trong tuổi
11


trẻ Hồ Chí Minh như Diệp Văn Kỳ, Trần Đình Nam ở Huế, các con cháu của
Nguyễn Thông, của Hồ Bá Tang ở miền Nam và ở Phan Thiết. Môi trường
văn hóa mà Hồ Chí Minh tiếp cận từ lúc thiếu thời là một môi trường đặc
biệt có tác động sâu sắc đến tư tưởng đạo đức cách mạng Hồ Chí Minh. Chủ

Quốc học Huế thì Hồ Chí Minh đã làm quen với văn hoá Pháp. Người rất
muốn tìm hiểu cuộc đại Cách mạng Pháp năm 1789. Thực tiễn trong 30 năm
hoạt động Cách mạng ở nước ngoài Người chủ yếu sống ở Châu Âu. Do đó,
Người chịu ảnh hưởng rất sâu rộng về nền văn hoá dân chủ và các mạng ở
phương Tây. Người tiếp thu tư tưởng tự do, bình đẳng, bác ái của đại Cách
mạng Pháp (Khi học ở Vinh, ở Huế, người đã chủ tâm tìm hiểu những tư
tưởng này, sau này khi trở lại Pháp 1917, người tiếp thu tận gốc những
phương pháp này trong các tác phẩm của các nhà khai sáng Pháp: Mông
Teskiô, Rút xô, Vinte). Nghiên cứu Cách mạng Tư sản Mỹ 1776, người tiếp
thu tư tưởng tự do, nhân quyền.
Trong hành trình tìm đường cứu nước Hồ Chí Minh đã biết làm giàu
trí tuệ của mình bằng vốn trí tuệ của thời đại, trong đó có cả tư tưởng văn
hóa phương Đông và tư tưởng văn hóa phương Tây. Chủ nghĩa Mác-Lênin
là nhân tố ảnh hưởng và tác động quyết định đến quá trình hình thành và
phát triển của tư tưởng Hồ Chí Minh. Đó là cơ sở hình thành thế giới quan
và phương pháp luận khoa học của Hồ Chí Minh, nhờ đó mà Nguyễn ái
Quốc - Hồ Chí Minh đã có bước phát triển về chất từ một người yêu nước
trở thành một chiến sĩ cộng sản lỗi lạc, tìm ra con đường cứu nước đúng đắn.
Chính trên cơ sở của lý luận Mác-Lênin đã giúp Người tiếp thu và chuyển
hoá những nhân tố tích cực, những giá trị và tinh hoa văn hoá của dân tộc và
của nhân loại để tạo nên tư tưởng của mình phù hợp với xu thế vận động của
lịch sử. Vì vậy, trong quá trình hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh thì chủ
nghĩa Mác-Lênin có vai trò to lớn, là cơ sở, nguồn gốc chủ yếu nhất. Người
13


tiếp thu Chủ nghĩa Mác – Lênin là tiếp thu và nắm vững cái cốt lõi cái bản
chất và cái linh hồn sống của lý thuyết này, nắm vững phương pháp luận
khoa học và quan điểm lập trường cách mạng để giải quyết các vấn đề thực
tiễn của Cách mạng Việt Nam.

của Hồ Chí Minh trong sự nghiệp cách mạng.
Hồ Chí Minh quan niệm đạo đức là nền tảng và là sức mạnh của
người cách mạng, coi đó là cái gốc của cây, ngọn nguồn của sông nước.
Người cách mạng phải có đạo đức cách mạng làm nền tảng thì mới hoàn
thành được nhiệm vụ cách mạng vẻ vang vì sự nghiệp độc lập dân tộc và chủ
nghĩa xã hội. Người viết: “Cũng như sông thì có nguồn mới có nước, không
có nguồn thì sông cạn. Cây phải có gốc, không có gốc thì cây héo. Người
cách mạng phải có đạo đức, không có đạo đức thì dù tài giỏi mấy cũng
không lãnh đạo được nhân dân”[17, Tr. 252]. Người quan niệm đạo đức tạo
ra sức mạnh, nhân tố quyết định sự thắng lợi của mọi công việc: “Công việc
thành công hoặc thất bại, đều do cán bộ tốt hay kém”[17, Tr. 273]. Quan
niệm lấy đức làm gốc của Hồ Chí Minh không có nghĩa là tuyệt đối hoá mặt
đức, coi nhẹ mặt tài. Người mà không có tài thì làm việc gì cũng khó. Cho
nên, đức là gốc nhưng đức và tài phải kết hợp với nhau để hoàn thành nhiệm
vụ cách mạng.
Tại Đại hội IX (4-2001), Đảng ta có bước phát triển trong nhận thức
và tư duy lý luận khi khẳng định: “Tư tưởng Hồ Chí Minh là một hệ thống
quan điểm toàn diện và sâu sắc về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt
Nam, là kết quả của sự vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin
vào điều kiện cụ thể của nước ta, kế thừa và phát triển các giá trị truyền
thống tốt đẹp của dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại... Tư tưởng Hồ
Chí Minh soi đường cho cuộc đấu tranh của nhân dân ta giành thắng lợi, là
tài sản tinh thần to lớn của Đảng và dân tộc ta”[10, Tr. 83-84].
15


Tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh thể hiện rõ nhất ở cuộc đời hoạt động
cách mạng cống hiến cho đất nước, vì độc lập cho dân tộc và hạnh phúc của
nhân dân. Người nói: “ Tôi chỉ có một ham muốn, ham muốn tột bậc là làm
sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta hoàn toàn được tự do, đồng

bộ, đảng viên luôn luôn chú ý đến phẩm chất yêu thương con người.
Ba là: Cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư: Trong những phẩm chất
chung đó thì phẩm chất Cần, Kiệm, Liêm, Chính, Chí công vô tư được
Người đề cập nhiều nhất bởi phẩm chất này gắn liền với hoạt động hàng
ngày của mỗi người, gắn liền giữa lời nói và việc làm, giữa suy nghĩ và hành
động của mỗi cá nhân trong đời công cũng như trong đời tư, trong sinh hoạt
cũng như trong công tác. Vậy Cần, Kiệm, Liêm, Chính, Chí công vô tư là
gì? Chủ tịch Hồ Chí Minh đã giải thích ý nghĩa và mối liên quan của những
từ này một cách đơn giản, rõ ràng và rất dễ hiểu.
Cần tức là lao động cần cù, siêng năng, chăm chỉ, cố gắng, dẻo dai;
lao động với tinh thần tự lực cánh sinh, không lười biếng. Cần còn là làm
việc một cách thông minh, sáng tạo, có kế hoạch, khoa học. Theo Bác, con
người có đức Cần thì việc gì, dù khó khăn đến mấy, cũng làm được. Đúng
như câu tục ngữ kiến tha lâu cũng đầy tổ, nước chảy mãi đá cũng mòn. Bác
lưu ý, kẻ địch của chữ Cần là lười biếng. Bác cho rằng nếu có một người,
một địa phương, hoặc một ngành mà lười biếng thì khác nào toàn chuyến xe
đang chạy, mà có một bánh trật ra ngoài đường ray. Họ sẽ làm chậm trễ cả
một chuyến xe. Vì vậy, người lười biếng là có tội với đồng bào, với Tổ
quốc.
Kiệm tức là tiết kiệm sức lao động, tiết kiệm thời gian, tiết kiệm tiền
của của dân, của nước, của bản thân; phải tiết kiệm từ cái lớn đến cái nhỏ,
không phô trương hình thức, không xa xỉ, hoang phí. Cần và Kiệm phải đi
đôi với nhau như hai chân của con người. Cần mà không Kiệm thì như gió
18


vào nhà trống, như nước đổ vào cái thùng không đáy, làm chừng nào xào
chừng ấy, rốt cuộc không lại hoàn không. Kiệm mà không Cần thì không
tăng thêm và không phát triển được. Bác giải thích, tiết kiệm không phải là
bủn xỉn. Khi không đáng tiêu xài thì một hạt gạo, một đồng xu cũng không

sau thiên hạ. Thực chất của chí công vô tư ở đây chính là thể hiện mối quan
hệ giữa lợi ích cá nhân với lợi ích tập thể, thể hiện thái độ, trách nhiệm của
mỗi người đối với công việc được giao. Chí công vô tư còn là ham làm
những gì có lợi cho dân, cho nước, không ham địa vị, không màng công
danh, vinh hoa phú quý. Chí công vô tư thì lòng dạ thanh thản, đầu óc tỉnh
táo, sáng suốt. Đối lập với chí công vô tư là chủ nghĩa cá nhân. Chủ nghĩa cá
nhân là bệnh mẹ đẻ ra hàng trăm thứ bệnh con, hàng trăm thói hư, tật xấu.
Bác coi đó là thứ giặc ở trong lòng, tội cũng nặng như tội việt gian, mật
thám vậy. Thực hành chí công vô tư là kiên quyết quét sạch chủ nghĩa cá
nhân, nâng cao đạo đức cách mạng.
Bốn là, tinh thần quốc tế trong sáng: Đó là, tinh thần đoàn kết quốc tế
vô sản, mà Hồ Chí Minh đã nêu lên bằng mệnh đề "Bốn phương vô sản đều
là anh em"; là tinh thần đoàn kết với các dân tộc bị áp bức, với nhân dân lao
động các nước, mà Hồ Chí Minh đã dày công vun đắp bằng hoạt động cách
mạng thực tiễn của bản thân mình và bằng sự nghiệp cách mạng của cả dân
tộc; là tinh thần đoàn kết của nhân dân Việt Nam với tất cả những người tiến
bộ trên thế giới vì hoà bình, công lý và tiến bộ xã hội, vì những mục tiêu lớn
của thời đại là hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội, là độc
lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, là hợp tác và hữu nghị với tất cả các nước,
các dân tộc.
Có thể nói, chủ tịch Hồ Chí Minh đã dành nhiều bài viết, bài báo để
phân tích, giải thích sinh động, cụ thể và sâu sắc về các phẩm chất Cần,
Kiệm, Liêm, Chính, Chí công vô tư, đồng thời chỉ ra quan hệ giữa chúng với
20


nhau. Cần, Kiệm, Liêm, Chính sẽ dẫn đến Chí công vô tư; ngược lại, đã Chí
công vô tư, một lòng vì nước, vì dân, vì Đảng thì nhất định sẽ thực hiện
được Cần, Kiệm, Liêm, Chính và có được nhiều tính tốt khác. Tư tưởng của
Người về Cần, Kiệm, Liêm, Chính, Chí công vô tư là sự kế thừa những giá

Người nhắc nhở toàn Đảng, toàn dân phải luôn ghi nhớ rằng bồi dưỡng thế
hệ cách mạng cho đời sau là một việc rất quan trọng và rất cần thiết. Luận
điểm đó chứa đựng thế giới quan khoa học của một lãnh tụ cách mạng, phản
ánh tầm nhìn xa trông rộng của một nhà hiền triết, một nhà văn hóa lớn; nó
đã trở thành một chân lý của cách mạng.
Sự nghiệp đấu tranh cách mạng nhằm biến xã hội cũ xấu xa, bất công
và phi nhân tính thành một xã hội mới, tốt đẹp và công bằng cho tất cả mọi
người là một quá trình đầy cam go, thử thách. Trong “Nhà nước và cách
mạng”, khi đề cập đến tính chất phức tạp của những nhiệm vụ cách mạng,
chẳng hạn như vấn đề chính quyền, V.I.Lênin từng nói rằng, đấu tranh giành
chính quyền đã khó, nhưng giữ được chính quyền cách mạng còn khó hơn.
Chủ tịch Hồ Chí Minh từng khẳng định “có độc lập, tự do mà nhân dân vẫn
chết đói, chết rét thì độc lập, tự do cũng chẳng có ý nghĩa gì; nhân dân chỉ
hiểu rõ giá trị của độc lập, tự do khi họ được ăn no, mặc ấm...”[16, Tr. 56].
Chỉ có chủ nghĩa xã hội mới đem lại cho nhân dân tất thảy những quyền con
người hết sức tự nhiên và chân chính ấy. Nhưng, chủ nghĩa xã hội không
phải muốn là tức khắc có ngay, mà chỉ có thể là kết quả của cuộc đấu tranh
rất bền bỉ của con người. Nhắc lại những điều đó để thấy, sự nghiệp cách
mạng là một quá trình lâu dài, bao gồm nhiều nhiệm vụ, nhiều giai đoạn
khác nhau và do vậy, đòi hỏi sự hy sinh, cống hiến quên mình của nhiều thế
hệ cách mạng.
Thực vậy, trong tiến trình ấy, những lớp người hiện tại đã trực tiếp
giải quyết thành công nhiều nhiệm vụ, nhưng cũng có không ít công việc
22


còn dang dở; hơn nữa, thực tiễn cuộc sống luôn đặt ra những vấn đề mới đòi
hỏi phải tiếp tục giải quyết. Theo đó, nếu thiếu lực lượng kế cận xứng đáng
thì chẳng những sự nghiệp cách mạng sẽ gặp khó khăn, mà ngay cả Những
gì đã có cũng khó được gìn giữ, bảo tồn.

dưới chế độ mới, Người đã gửi thư khích lệ và động viên học sinh cả nước:
“Ngày nay chúng ta cần phải xây dựng lại cơ đồ mà tổ tiên đã để lại cho
chúng ta, làm sao cho chúng ta theo kịp các nước khác trên hoàn cầu. Trong
công cuộc kiến thiết đó, nước nhà trông mong chờ đợi ở các em rất nhiều.
Non sông Việt Nam có trở nên tươi đẹp hay không, dân tộc Việt Nam có
bước tới đài vinh quang để sánh vai với các cường quốc năm châu được hay
không, chính là nhờ một phần lớn ở công học tập của các em”[16, Tr. 33].
Đối với thanh niên, Người căn dặn “Trước hết phải yêu Tổ quốc, yêu nhân
dân, phải có tinh thần dân tộc vững chắc và tinh thần quốc tế đúng đắn, phải
yêu và trọng lao động. Phải quan tâm đến đời sống của nhân dân”[22, Tr.
106]; “Phải thấm nhuần đạo đức cách mạng tức là khiêm tốn, đoàn kết, thực
hành chủ nghĩa tập thể, thương yêu, giúp đỡ lẫn nhau, người tiên tiến thì
giúp đỡ người kém. Người kém phải cố gắng để tiến lên, ra sức cần kiệm để
xây dựng nước nhà”[22, Tr. 106].
Từ những phân tích trên, có thể khẳng định, như một lô-gíc tất yếu,
việc bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau là nhiệm vụ rất quan trọng và
rất cần thiết. Chủ tịch Hồ Chí Minh nhiều lần khẳng định, muốn xây dựng
chủ nghĩa xã hội, trước hết phải có những con người xã hội chủ nghĩa. Muốn
làm tròn trọng trách người chủ tương lai của đất nước, thế hệ trẻ phải được
giáo dục, bồi dưỡng một cách thường xuyên và toàn diện. Có như vậy, họ
mới hội đủ các phẩm chất, năng lực cần thiết, cả về trí tuệ lẫn bản lĩnh chính
trị, cả về nhân cách, đạo đức lẫn sức khỏe, để đáp ứng những yêu cầu của
công cuộc đấu tranh bảo vệ và xây dựng chủ nghĩa xã hội.
24


Hiện nay, trong sự nghiệp đổi mới toàn diện đất nước, trước xu thế
toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế, thế hệ trẻ Việt Nam luôn kiên định
lý tưởng xã hội chủ nghĩa mà Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh dày công vun
trồng. Họ đã và đang chứng tỏ bản lĩnh, sức trẻ, sự sáng tạo và tinh thần dám


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status