giáo dục đạo đức cho sinh viên trường đại học tây bắc qua dạy học môn tư tưởng hồ chí minh - Pdf 24

LỜI CẢM ƠN

Trước tiên, em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới các thầy giáo, cô giáo
Khoa Lý luận Chính trị - Giáo dục công dân, Khoa Triết học Trường Đại học
Sư phạm Hà Nội, quý thầy cô đã tận tình truyền đạt những tri thức quý báu,
giúp đỡ em hoàn thành tốt nhiệm vụ khóa học.
Đặc biệt, em xin chân thành cảm ơn cô giáo TS. Nguyễn Thị Phương
Thủy đã tận tình hướng dẫn, chỉ bảo giúp đỡ em trong quá trình nghiên cứu
khoa học, hoàn thành luận văn.
Tác giả cũng xin bày tỏ lòng biết ơn tới các phòng ban Trường Đại học
Sư phạm Hà Nội, Ban Giám hiệu Trường Đại học Tây Bắc, Ban chủ nhiệm
Khoa Lý luận Chính trị Trường Đại học Tây Bắc đã tạo điều kiện giúp đỡ
trong quá trình học tập và nghiên cứu.
Xin chân thành cảm ơn bạn bè, đồng nghiệp, gia đình đã động viên,
giúp đỡ, tạo điều kiện cho bản thân hoàn thành tốt nhiệm vụ khóa học.

Hà Nội, tháng 11 năm 2013
Tác giả Nguyễn Thị Hƣơng
DANH MỤC CÁC CỤM TỪ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN Cụm từ viết tắt
Diễn giải
CNXH
Chủ nghĩa xã hội
ĐC
Đối chứng
ĐNGV

Tiến sỹ

MỤC LỤC
Trang MỞ ĐẦU 1
1. Lí do chọn đề tài 1
2. Lịch sử nghiên cứu 3
3. Mục đích nghiên cứu của luận văn 7
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 7
5. Những luận điểm cơ bản và đóng góp mới của tác giả 7
6. Phương pháp nghiên cứu 8
7. Kết cấu của luận văn 8
Chƣơng 1: CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA VIỆC GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC
CHO SINH VIÊN TRƢỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC QUA DẠY HỌC
MÔN TƢ TƢỞNG HỒ CHÍ MINH 9
1.1. Cơ sở lí luận của việc giáo dục đạo đức cho sinh viên qua dạy học môn
Tư tưởng Hồ Chí Minh 9
1.1.1. Đạo đức và tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức 9
1.1.2. Quan điểm của Hồ Chí Minh về giáo dục đạo đức cho thanh niên 19
1.1.3. Vai trò của dạy học môn Tư tưởng Hồ Chí Minh với việc giáo dục đạo
đức cho sinh viên 22
1.2. Cơ sở thực tiễn của việc giáo dục đạo đức cho sinh viên Trường Đại học
Tây Bắc qua dạy học môn Tư tưởng Hồ Chí Minh 26
1.2.1. Khái quát về Trường Đại học Tây Bắc 26
1.2.2. Thực trạng và sự cần thiết giáo dục đạo đức cho sinh viên Trường Đại
học Tây Bắc qua dạy học môn Tư tưởng Hồ Chí Minh 28
1.2.3. Đổi mới phương pháp dạy học môn Tư tưởng Hồ Chí Minh nhằm nâng
cao hiệu quả giáo dục đạo đức cho sinh viên Trường Đại học Tây Bắc 32

3.3.1. Nâng cao nhận thức của Nhà trường, của ngành Giáo dục - Đào tạo và của
toàn xã hội đối với bộ môn TTHCM và việc giáo dục đạo đức 89
3.3.2. Nâng cao trình độ đội ngũ giảng viên dạy Tư tưởng Hồ Chí Minh và vai
trò của sinh viên 90
3.3.3. Tạo điều kiện về cơ sở vật chất cho quá trình dạy và học 91
3.3.4. Cần kết hợp với các tổ chức khác để giáo dục đạo đức cho sinh viên . 92
Kết luận chương 3 93
KẾT LUẬN 94
TÀI LIỆU THAM KHẢO 95
PHỤ LỤC 1
MỞ ĐẦU

1. Lí do chọn đề tài
Thanh niên là lực lượng đông đảo, chiếm trên 1/3 dân số và trên 1/2 lực
lượng lao động xã hội, có vai trò quan trọng trong sự nghiệp xây dựng và bảo
vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Chủ tịch Hồ Chí Minh, khi đánh giá về
vai trò của thanh niên đã nhấn mạnh: “Thanh niên là người chủ tương lai của nước
nhà. Thật vậy, nước nhà thịnh hay suy, yếu hay mạnh một phần lớn là do các
thanh niên” [32, 185]. Trong Di chúc thiêng liêng, một lần nữa Người căn dặn:
“Đảng cần phải chăm lo giáo dục đạo đức cách mạng cho họ, đào tạo họ thành
những người thừa kế xây dựng chủ nghĩa xã hội vừa “hồng” vừa “chuyên”. Bồi
dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau là một việc rất quan trọng và rất cần thiết”
[510, 39]. Kế thừa và vận dụng sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh, Đảng ta khẳng
định: Thanh niên là rường cột của nước nhà, chủ nhân tương lai của đất nước, là
lực lượng xung kích trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, một trong những nhân tố
quyết định sự thành bại của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước,
hội nhập quốc tế và xây dựng chủ nghĩa xã hội.

Hồ Chí Minh còn thiếu, đa phần là giảng viên trẻ nên chưa nhiều kinh
nghiệm, lại phải dạy quá nhiều giờ nên có ít thời gian nghiên cứu khoa học,
chuẩn bị kỹ bài giảng trước khi lên lớp. Thêm vào đó đội ngũ giảng viên đa
phần còn hạn chế về ngoại ngữ, nắm bắt các phương tiện giáo dục hiện đại…
nên ít áp dụng phương pháp mới mà chủ yếu là cách dạy truyền thống, giảng
viên đọc, sinh viên ghi, không nghiên cứu tài liệu trước.
Nội dung phần “Tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức” giáo trình trình
bày bố cục rất ngắn gọn, rõ ràng nhưng còn nặng về lý luận mà chưa gắn với
thực tiễn nên với cách dạy học truyền thống hiện đang được áp dụng thì
không kích thích được tính tích cực của sinh viên dẫn đến kết quả là sinh viên
chưa liên hệ được nhiều với cuộc sống của bản thân các em và tác dụng giáo
dục đạo đức cho sinh viên chưa cao.

3
Từ cơ sở lí luận và thực tiễn trên tôi nhận thấy việc nghiên cứu thực
trạng xây dựng quy trình, tìm ra biện pháp để nâng cao hiệu quả giáo dục đạo
đức cho sinh viên, nâng cao chất lượng dạy học môn TTHCM rất cần thiết,
nên tôi chọn đề tài “Giáo dục đạo đức cho sinh viên Trường Đại học Tây
Bắc qua dạy học môn Tư tưởng Hồ Chí Minh”, làm đề tài luận văn thạc sỹ.
2. Lịch sử nghiên cứu
Đạo đức và các biện pháp giáo dục đạo đức là những vấn đề luôn thu
hút được sự quan tâm của các nhà khoa học trong và ngoài nước, đã có rất
nhiều công trình, sách báo, bài viết nghiên cứu đề cập đến. Cách tiếp cận vấn
đề này cũng ở các góc độ khác nhau.
Trên thế giới: Nghiên cứu về đạo đức và giáo dục đạo đức đã được các
nhà sư phạm quan tâm từ rất sớm.
Khổng Tử (551-479 TCN), người sáng lập ra Nho giáo, nhà triết học,
nhà giáo dục vĩ đại của Trung Quốc cổ đại đã nghiên cứu về con người, về
đạo đức. Ông hướng triết học của mình vào mục đích tối thượng là GDĐĐ
cho con người: “cũng như viên ngọc dù nó là một sản vật quý hiếm nhưng

không thể là một người thầy” [9, 85].
A.X Makarenco (1888-1939) nhà giáo dục vĩ đại người Nga, trong tác
phẩm “Bài ca sư phạm” và các tác phẩm khác, ông đã đặc biệt nhấn mạnh vai
trò của giáo dục đạo đức, của biện pháp giáo dục đúng đắn. Ông nhấn mạnh
sự cần thiết của một nền giáo dục sớm đề cao uy quyền và dựa vào sự nêu
gương. Nguyên tắc giáo dục bằng tập thể và thông qua tập thể của ông được
nhiều nhà sư phạm trên thế giới trong nhiều thập kỷ qua chú ý và đã áp dụng
thành công trong công tác giáo dục của mình.
Trong nước: sinh thời Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt coi trọng đạo đức
và vấn đề giáo dục đạo đức. Bác đánh giá cao vai trò của giáo dục trong việc
hình thành nhân cách của con người:
“Hiền dữ phải đâu là tính sẵn
Phần nhiều do giáo dục mà nên”
Một số tác giả cũng nghiên cứu giáo dục đạo đức ở các góc độ khác nhau:

5
Nguyễn Minh Đức nghiên cứu và trình bày cơ sở tâm lí – giáo dục học
của giáo dục đạo đức.
Hà Thế Ngữ chú trọng đến vấn đề tổ chức quá trình giáo dục đạo đức
thông qua giảng dạy các bộ môn khoa học, nhất là các bộ môn khoa học xã
hội và nhân văn, rèn luyện phương pháp tư duy khoa học để trên cơ sở đó
giáo dục thế giới quan, nhân sinh quan, bồi dưỡng ý thức đạo đức.
Phạm Minh Hạc xuất phát từ đặc trưng tâm lí học để khảo sát hành vi
và hoạt động; nghiên cứu đạo đức, thực hiện giáo dục đạo đức trong quá trình
phát triển nhân cách, xem đó như mục tiêu quan trọng nhất để đạt được chất
lượng giáo dục.
Nguyễn Nghĩa Dân đã nghiên cứu và đánh giá cao phương pháp dạy
học môn Đạo đức và Giáo dục công dân bằng hành động, kết hợp giữa học
với hành, cũng như coi trọng việc tự học, trong cuốn: “Đổi mới phương pháp
dạy học môn Đạo đức và Giáo dục công dân”.

sinh trường THPT Ninh Giang - Hải Dương, thông qua dạy học phần
“công dân với đạo đức” môn Giáo dục công dân lớp 10” cho rằng: “Vận
dụng tư tưởng, tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh trong giảng dạy, giáo dục
cho học sinh học tập, làm theo tư tưởng, tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh
thực chất cũng là giáo dục những truyền thống tốt đẹp nhất của đạo đức dân
tộc Việt Nam” [12, 18]
Trần Sỹ Phán trong luận án Tiến sĩ Triết học đã nghiên cứu Giáo dục
đạo đức đối với sự hình thành và phát triển nhân cách sinh viên Việt Nam
trong giai đoạn hiện nay.
Tác giả Phạm Bá Lượng luận án tiến sĩ triết học đã nghiên cứu Giá trị
đạo đức truyền thống trong việc giáo dục đạo đức cho sinh viên công an nhân
dân Việt Nam hiện nay.
Có thể nói rằng, những bài viết, những công trình nghiên cứu trên chủ
yếu đề cập đến việc giáo dục đạo đức ở mức khái quát dưới góc độ tiếp cận là
khoa học giáo dục, khoa học đạo đức hoặc gợi ý cho việc giáo dục, rèn luyện
các phẩm chất, các mặt đạo đức, hoặc các biện pháp GDĐĐ cho học sinh

7
THCS, THPT, sinh viên. Việc giáo dục đạo đức cho sinh viên Đại học thông
qua dạy học, đặc biệt thông qua dạy học môn Tư tưởng Hồ Chí Minh thì chưa
được đề cập nhiều. Chính vì vậy, tôi đã lựa chọn đề tài: “Giáo dục đạo đức
cho sinh viên Trường Đại học Tây Bắc qua dạy học môn Tư tưởng Hồ Chí
Minh” để nghiên cứu và thực nghiệm tại Trường Đại học Tây Bắc.
Đây là đề tài khoa học mới mẻ gắn liền với các điều kiện về kinh tế - xã
hội, văn hóa có tính đặc thù, và cần có những công trình nghiên cứu một cách cơ
bản, hệ thống nhằm làm cho vấn đề được nghiên cứu ngày càng cụ thể hơn.
3. Mục đích nghiên cứu của luận văn
Qua việc nghiên cứu lý luận và khảo sát thực tiễn, luận văn đề xuất quy
trình và điều kiện tổ chức dạy học theo hướng đổi mới phương pháp dạy học
phần “Tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức” môn Tư tưởng Hồ Chí Minh nhằm

Về mặt thực tiễn, luận văn xây dựng quy trình và phương pháp vận
dụng phương pháp dạy học theo hướng đổi mới trong dạy học phần “Tư
tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức” môn Tư tưởng Hồ Chí Minh qua đó góp
phần nâng cao hiệu quả giáo dục đạo đức cho sinh viên, luận văn có thể hỗ trợ
cho các giảng viên và sinh viên học tập phần “Tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo
đức” môn Tư tưởng Hồ Chí Minh làm tài liệu tham khảo về phương pháp
nghiên cứu và học tập. Từ đó luận văn góp phần vào đổi mới phương pháp
dạy học hiện nay.
6. Phƣơng pháp nghiên cứu
Luận văn vận dụng phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện
chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, kết hợp phương pháp lịch sử và logic,
phân tích và tổng hợp. Ngoài ra, luận văn còn sử dụng các phương pháp cụ
thể như: so sánh, thống kê, điều tra xã hội học, thực nghiệm khoa học để thực
hiện mục đích đặt ra.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục các tài liệu tham khảo, mục lục,
phụ lục. Phần nội dung của luận văn gồm 3 chương, 8 tiết.

9
Chương 1
CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA VIỆC GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CHO SINH VIÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC QUA DẠY HỌC
MÔN TƢ TƢỞNG HỒ CHÍ MINH

1.1. Cơ sở lí luận của việc giáo dục đạo đức cho sinh viên qua dạy
học môn Tƣ tƣởng Hồ Chí Minh
1.1.1. Đạo đức và tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức
1.1.1.1. Đạo đức
Đạo đức hình thành và phát triển gắn liền với yêu cầu khách quan của
sự tồn tại và phát triển xã hội. Thuật ngữ đạo đức bắt nguồn từ cổ Hy lạp

là quy tắc của sinh hoạt chung trong xã hội và của hành vi của con người, quy
định những nghĩa vụ của người này đối với người khác và đối với xã hội, đạo
đức là một trong những hình thái của ý thức xã hội.
Trong tác phẩm Thuật ngữ đạo đức - giáo dục công dân (1999), NXB
Giáo dục do Phan Ngọc Liên (chủ biên) đã viết: "Đạo đức là toàn bộ những
tiêu chuẩn, nguyên tắc được dư luận xã hội thừa nhận, quy định hành vi, quan
hệ của con người với nhau và với xã hội" [52, 81].
Trong tác phẩm Một số vấn đề về lối sống, đạo đức, chuẩn giá trị xã
hội - GS.TSKH Huỳnh Khái Vinh (chủ biên) đã viết: "Đạo đức là một hình
thái ý thức xã hội bao gồm những nguyên tắc và chuẩn mực xã hội, nhờ đó
con người tự giác điều chỉnh hành vi cho phù hợp với lợi ích, hạnh phúc của
mình và sự tiến bộ xã hội trong mối quan hệ người - người” [69, 44].
Trong Giáo trình Đạo đức học - NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội do
GS. TS. Nguyễn Ngọc Long (chủ biên) đã viết: "Đạo đức là một hình thái ý
thức xã hội, là tập hợp những nguyên tắc, quy tắc, chuẩn mực xã hội, nhằm
điều chỉnh và đánh giá cách ứng xử của con người trong quan hệ với nhau và
quan hệ với xã hội, chúng được thực hiện bởi niềm tin cá nhân, bởi truyền
thống và sức mạnh của dư luận xã hội" [53, 8].

11
Mặc dù có nhiều cách định nghĩa khác nhau về đạo đức, nhưng các
định nghĩa đó đều có những điểm nhất quán với nhau: Đều thừa nhận đạo đức
là một hiện tượng xã hội nhằm điều chỉnh những quan hệ giữa người với người
trong xã hội, nhằm kết hợp những lợi ích cá nhân và những lợi ích xã hội. Để
làm được nhiệm vụ đó, một hệ thống những nguyên tắc, chuẩn mực và những
phạm trù (khái niệm) có tính chất định giá và tính chất "mệnh lệnh" đối với
hành vi của con người trong ứng xử, thể hiện bản chất xã hội của con người.
1.1.1.2. Tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức
HCM là một trong những nhà tư tưởng, một lãnh tụ cách mạng thế giới
đã bàn nhiều về vấn dề đạo đức và giáo dục đạo đức. Tư tưởng đạo đức HCM

mà trước hết là ở những giá trị đạo đức cao đẹp, ở phẩm chất của những
người cộng sản ưu tú, bằng tấm gương sống và hành động của mình, chiến
đấu cho lý tưởng đó trở thành hiện thực.
Hồ Chí Minh cho rằng, phong trào cộng sản công nhân quốc tế trở
thành lực lượng quyết định vận mệnh của loài người không chỉ do chiến lược
và sách lược thiên tài của cách mạng vô sản, mà còn do những phẩm chất đạo
đức cao quý làm cho chủ nghĩa cộng sản trở thành một sức mạnh vô địch.
Hồ Chí Minh đưa ra quan điểm của Người về những chuẩn mực đạo
đức cách mạng:
- Trung với nước, hiếu với dân
“Trung” và “hiếu” là những khái niệm cũ trong tư tưởng đạo đức
truyền thống Việt Nam và phương Đông phản ánh mối quan hệ lớn nhất và
cũng là phẩm chất đạo đức bao trùm nhất: “Trung với vua, hiếu với cha mẹ”.
Hồ Chí Minh đã mượn khái niệm “trung, hiếu” trong tư tưởng đạo đức
truyền thống dân tộc và đưa vào đó một nội dung mới: “Trung với nước, hiếu
với dân”, tạo nên một cuộc cách mạng trong quan niệm về đạo đức. Người nói:
“Đạo đức cũ như người đầu ngược xuống đất, chân chổng lên trời. Đạo đức mới
như người hai chân đứng vững được dưới đất, đầu ngửng lên trời” [33, 320-321].
Hồ Chí Minh cho rằng, trung với nước phải gắn liền hiếu với dân. Vì
nước là của dân còn dân lại là chủ nhân của nước; bao nhiêu quyền hành và

13
lực lượng đều ở nơi dân, bao nhiêu lợi ích đều vì dân, cán bộ là đầy tớ của
dân chứ không phải là “quan cách mạng”.
Trung với nước là sự trung thành, yêu quý, báo ân, báo đáp của mỗi
người với sự nghiệp dựng nước và giữ nước. Nước ở đây được hiểu ở ba cấp
độ: là đất và nước, lãnh thổ, tài nguyên, môi trường giới hạn bởi biên giới
quốc gia; là quốc vong, quốc túy, quốc hồn, tựu trung trong quốc thể, hình
thành từ những quan hệ đan xen giữa chính trị, kinh tế, văn hóa, ngôn ngữ,
tâm lý và truyền thống lịch sử; là bộ máy công quyền, hệ thống quyền lực

636], không phô trương hình thức, không liên hoan, chè chén lu bù.
Liêm là luôn tôn trọng của công và của dân. Phải “trong sạch, không
tham lam” [32, 640] tiền của, địa vị, danh tiếng.
Chính nghĩa là không tà, nghĩa là thẳng thắn, đứng đắn. Người đưa ra
một số yêu cầu
1. Mình đối với mình.
2. Mình đối với người.
3. Mình đối với việc.
Đối với mình
Chớ tự kiêu tự đại. Tự kiêu tự đại là khờ dại. Vì mình hay, còn nhiều
người hay hơn mình. Mình giỏi còn nhiều người giỏi hơn mình. Tự kiêu tự
đại tức là thoái bộ.
Luôn luôn cầu tiến bộ. Không tiến bộ thì là ngừng lại. Trong khi mình
ngừng lại thì người ta cứ tiến bộ. Kết quả là mình thoái bộ, lạc hậu. Tiến bộ
không giới hạn. Mình cố gắng tiến bộ, thì chắc tiến bộ mãi. Luôn luôn tự
kiểm điểm, tự phê bình những lời mình đã nói, những việc mình đã làm, để
phát triển điều hay của mình, sửa đổi khuyết điểm của mình. Đồng thời phải
hoan nghênh người khác phê bình mình.
Đối với người
Chớ nịnh hót người trên, chớ xem khinh người dưới. Thái độ phải chân
thành, khiêm tốn, phải thật thà đoàn kết. Phải học người và giúp người tiến
tới. Phải thực hành chữ Bác - Ái.

15
Đối với việc
Phải để công việc nước trên, trước việc tư, việc nhà. Đã phụ trách việc
gì, thì quyết làm cho kì được, cho đến nơi đến chốn, không sợ khó nhọc,
không sợ nguy hiểm. Bất kỳ việc to, việc nhỏ, phải có sáng kiến, phải có kế
hoạch, phải cẩn thận, phải quyết làm thành công. Việc thiện thì dù nhỏ mấy
cũng làm, việc ác thì dù nhỏ mấy cũng tránh.

cho những người nghèo khổ, những người bị mất quyền, những người bị áp
bức, bị bóc lột không phân biệt màu da, dân tộc. Người cho rằng, nếu không
có tình yêu thương như vậy thì không thể nói đến cách mạng, càng không thể
nói đến chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản.
Tình yêu thương con người phải được xây dựng trên lập trường giai cấp
công nhân, thể hiện trong mối quan hệ hằng ngày với bạn bè, đồng chí, anh em
Nó đòi hỏi mỗi người phải chặt chẽ và nghiêm khắc với mình; rộng rãi, độ lượng
và giàu lòng vị tha với người khác. Nó đòi hỏi thái độ tôn trọng những quyền của
con người, nâng con người lên kể cả những người nhất thời lầm lạc, chứ không
phải là thái độ dĩ hòa vi quý, không phải hạ thấp, càng không phải dập vùi con
người. Người dạy: “Hiểu chủ nghĩa Mác- Lênin là phải sống với nhau có tình, có
nghĩa. Nếu thuộc bao nhiêu sách mà sống không có tình, có nghĩa thì sao gọi là
hiểu chủ nghĩa Mác-Lênin được” [39, 554]. Trong Di chúc, Người căn dặn:
“Phải có tình đồng chí thương yêu lẫn nhau” [39, 510].
- Có tinh thần quốc tế trong sáng
Chủ nghĩa quốc tế là một trong những phẩm chất quan trọng nhất của
đạo đức cộng sản chủ nghĩa. Nó bắt nguồn từ bản chất giai cấp công nhân,
nhằm vào mối quan hệ rộng lớn, vượt ra khỏi quốc gia dân tộc.
Nội dung chủ nghĩa quốc tế trong tư tưởng Hồ Chí Minh rất rộng lớn
và sâu sắc. Đó là sự tôn trọng, hiểu biết, thương yêu và đoàn kết với giai cấp
vô sản toàn thế giới, với tất cả các dân tộc và nhân dân các nước, với những
người tiến bộ trên toàn cầu, chống lại mọi sự chia rẽ, hằn thù, bất bình đẳng
và phân biệt chủng tộc; chống lại chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi, sôvanh, biệt lập

17
và chủ nghĩa bành trướng bá quyền Hồ Chí Minh chủ trương giúp bạn là tự
giúp mình.
Đoàn kết quốc tế là nhằm thực hiện những mục tiêu lớn của thời đại là
hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội, là hợp tác và hữu nghị
theo tinh thần: bốn phương vô sản, bốn bể đều là anh em.

hợp với từng lứa tuổi, ngành nghề, giai cấp, tầng lớp và trong từng môi trường
khác nhau; phải khơi dậy được ý thức đạo đức lành mạnh ở mỗi người.
Xây phải đi đôi với chống, với việc loại bỏ cái sai, cái xấu, cái vô đạo
đức trong đời sống hàng ngày. HCM cho rằng trên con đường đi tới tiến bộ và
cách mạng, đạo đức mới chỉ có thể được xây dựng thành công trên cơ sở kiên
trì mục tiêu chống chủ nghĩa đế quốc, chống những thói quen và tập quán lạc
hậu và loại trừ chủ nghĩa cá nhân.
- Phải tu dưỡng đạo đức suốt đời
Một nền đạo đức mới chỉ có thể được xây dựng trên cơ sở sự tự giác tu
dưỡng đạo đức của mỗi người. HCM chỉ ra rằng, phải làm thế nào đó để mỗi
người tự nhận thấy sâu sắc việc trau dồi đạo đức cách mạng là một việc “sung
sướng vẻ vang nhất trên đời”. Người nhắc lại luận điểm của Khổng Tử “chính
tâm, tu thân” và chỉ rõ: “Chính tâm, tu thân tức là cải tạo. Cải tạo cũng phải
trường kỳ gian khổ, vì đó là một cuộc cách mạng trong bản thân mỗi người.
Bồi dưỡng tư tưởng mới để đánh thắng tư tưởng cũ, đoạn tuyệt với con người
cũ để trở thành con người mới không phải là một công việc dễ dàng Dù khó
khăn gian khổ nhưng muốn cải tạo thì nhất định thành công” [34, 148].
Đạo đức cách mạng là đạo đức dấn thân, đạo đức trong hành động vì
độc lập, tự do của dân tộc, hạnh phúc của nhân dân. Chỉ có trong hành động,
đạo đức cách mạng mới bộc lộ rõ những giá trị của mình. Do vậy, đạo đức
cách mạng đòi hỏi mỗi người phải tự giác rèn luyện thông qua hoạt động thực
tiễn, trong công việc, trong các mối quan hệ của mình, phải nhìn thẳng vào
mình, không tự lừa dối, huyễn hoặc; phải thấy rõ cái hay, cái tốt, cái thiện của
mình để phát huy và thấy rõ cái dở, cái xấu, cái ác của mình để khắc phục;
phải kiên trì rèn luyện, tu dưỡng suốt đời. HCM đưa ra một lời khuyên rất dễ
hiểu: “Đạo đức cách mạng không phải trên trời sa xuống. Nó do đấu tranh,

19
rèn luyện bền bỉ hằng ngày mà phát triển và củng cố. Cũng như ngọc càng
mài cáng sáng, vàng càng luyện càng trong” [36, 293]

hậu thiên hạ lạc).
b) Các việc đáng làm thì khó mấy cũng cố chịu quyết tâm làm cho kỳ được.
c) Ham làm những việc ích quốc lợi dân. Không ham địa vị và công
danh phú quý.
d) Đem lòng chí công vô tư mà đối với người, đối với việc.
e) Quyết tâm làm gương về mọi mặt: siêng năng, tiết kiệm, trong sạch.
f) Chớ kiêu ngạo, tự mãn, tự túc. Nói ít làm nhiều, thân ái đoàn
kết…” [32, 185]
Nhìn nhận đoàn viên, thanh niên một cách toàn diện, thấy rõ vị trí, vai
trò "Là người tiếp sức cách mạng cho thế hệ thanh niên già, đồng thời là
người phụ trách dìu dắt thế hệ thanh niên tương lai" [37, 488]. Do vậy, Người
đặc biệt quan tâm tổ chức, bồi dưỡng đoàn viên thanh niên thành đội xung
kích cách mạng, lực lượng hậu bị của Đảng nhằm kế tục trung thành và xuất
sắc sự nghiệp của giai cấp và dân tộc.
Người yêu cầu mỗi đoàn viên, thanh niên phải tự giác rèn luyện, không
ngừng học tập, gương mẫu xung phong trong mọi công việc. Đi đôi với việc
giáo dục trí lực, nâng cao trình độ chuyên môn, nắm vững khoa học kỹ thuật,
mỗi đoàn viên, thanh niên phải thường xuyên trau dồi đạo đức cách mạng bởi
theo Người: "Thanh niên phải có đức, có tài. Có tài mà không có đức ví như
một anh làm kinh tế tài chính rất giỏi nhưng lại đi đến thụt két thì chẳng
những không làm được gì lợi ích cho xã hội, mà còn có hại cho xã hội nữa.
Nếu có đức mà không có tài ví như ông Bụt không làm hại gì, nhưng cũng
không có lợi gì cho loài người" [36, 172]. Đạo đức cách mạng ấy là sự triệt để
trung thành với cách mạng, một lòng, một dạ phục vụ nhân dân, sẵn sàng xả
thân cho đất nước, điều đó được thể hiện ở ngay trong suy nghĩ và hành động
hàng ngày của mỗi đoàn viên, thanh niên. Để tuổi trẻ trở thành người cách
mạng chân chính, những con người mới XHCN, Người nhấn mạnh việc cần

Trích đoạn Khái quát về Trường Đại học Tây Bắc Thực trạng và sự cần thiết giáo dục đạo đức cho sinh viên Trường Đạ Đổi mới phương pháp dạy học môn Tư tưởng Hồ Chí Minh nhằm nâng Đối tượng, địa bàn, thời gian thực nghiệm và đối chứng Khảo sát trước thực nghiệm
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status