Xây dựng ý thức tự giáo dục cho sinh viên Trường Đại học Hùng Vương trong giai đoạn hiện nay - Pdf 25

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRUNG TÂM ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG GIẢNG VIÊN LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ NGUYỄN NGỌC CƯỜNG XÂY DỰNG Ý THỨC TỰ GIÁO DỤC CHO SINH VIÊN TRƯỜNG ĐẠI
HỌC HÙNG VƯƠNG TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY LUẬN VĂN THẠC SỸ
Người hướng dẫn: TS. Đoàn Thị Minh Oanh

Hà nội - 2007


2.2.3. Đẩy mạnh phong trào thi đua học tập, nghiên cứu khoa học tiến quân
vào khoa học công nghệ, xung kích đi đầu xây dựng xã hội học tập 83
2.2.4. Đẩy mạnh các hoạt động nâng cao chất lượng phong trào tuổi trẻ thi đua
tình nguyện xây dựng và bảo vệ Tổ quốc 84
2.2.5. Đổi mới phương pháp dạy học - áp dụng yếu tố tích cực của phương
thức đào tạo theo tín chỉ 85
Kết luận 89
Danh mục tài liệu tham khảo 91

2
BẢNG QUY ƢỚC NHỮNG CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN

CĐ: Cao đẳng
CĐSP: Cao đẳng sư phạm
CTCT: Công tác chính trị
GDCD: Giáo dục công dân
KTDN: Kế toán doanh nghiệp
QTKD: Quản trị kinh doanh
PPDH: Phương pháp dạy học
SPKT: Sư phạm kỹ thuật
SP: Sư phạm
TCCB: Tổ chức cán bộ
TDTT: Thể dục thể thao
TNCS HCM: Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh
VHVN: Văn hóa văn nghệ 3
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài

tôi chọn vấn đề: Xây dựng ý thức tự giáo dục cho sinh viên Trường Đại học
Hùng Vương hiện nay làm đề tài nghiên cứu.
2. Tình hình nghiên cứu
Tư tưởng tự giáo dục đã xuất hiện rất sớm trong tiến trình phát triển của
xã hội loài người. Các triết gia cổ đại đã nhận ra tiềm năng sáng tạo của nhân
loại ngay trong mỗi con người. Về sau, những nhà tư tưởng vĩ đại như
J.J.Rousscau, L.Tolstoi, A.X. Macarencô, M.Gorki, đều có những ý tưởng
muốn đánh thức tiềm năng sáng tạo, ý thức tự chủ của người học và đặt ra những
yêu cầu cao đối với việc học tập nói chung, trong đó có tự học.
Vấn đề tự giáo dục đã được đề cập trong một số công trình nghiên cứu, kể
cả trong một số giáo trình “Giáo dục học” và ở một số bài viết chuyên đề hội
thảo Tuy vậy, nhìn chung các tác giả mới dừng lại ở sự chỉ dẫn, khuyến cáo,
nhắc nhở và chủ yếu là bàn về vấn đề tự học của sinh viên - một nội dung
không thể thiếu được trong quá trình giáo dục nói chung và vấn đề ý thức tự giáo
dục của sinh viên nói riêng.
Trong tài liệu "Đổi mới phương pháp dạy học trong các trường đại học,
cao đẳng đào tạo giáo viên trung học cơ sở" của GS. TS. Vũ Văn Tảo đã nêu lại
triết lý giáo dục của thế kỷ XXI (theo J. Delors, UNESCO, 1996.), đó là:
1/ Học suốt đời (lifelong learning). Năng lực học suốt đời nhờ vào học
cách học
2/ Bốn trụ cột của giáo dục:
* Học để biết (cốt lõi là hiểu)
* Học để làm (trên cơ sở hiểu)
* Học để cùng sống với nhau (trên cơ sở hiểu nhau)

5
* Học để làm người (trên cơ sở hiểu bản thân)
3/ Xây dựng một xã hội học tập (learning society)
Học thường xuyên học, suốt đời, đào tạo liên tục.
Những vấn đề trên đã gợi ý đến vấn đề tự giáo dục mà trước tiên là vấn đề

học, tự đào tạo của người học, GS Lê Khánh Bằng cho rằng cần thực hiện tốt
quan điểm B.V.T (Bản thân, Việt Nam, Thế giới) trong dạy học. Đó là phát huy
cao độ sức mạnh tiềm năng vật chất, tinh thần và tâm linh của bản thân người
học (B) với sự hỗ trợ ít nhiều của thầy và bạn trên cơ sở kết hợp truyền thống
kinh nghiệm, sức mạnh giáo dục của dân tộc Việt Nam (V) với tinh hoa và sức
mạnh giáo dục của nhân loại, thế giới và thời đại (T) để có thể trở thành những
con người năng động và sáng tạo mang đậm bản sắc dân tộc, thời đại, cá nhân,
hết sức tự tin vào bản thân, có sức đề kháng cao, biết tự khẳng định mình, nhưng
luôn khiêm tốn, biết cùng chung sống [1].
Đánh giá về vai trò hoạt động tự học của người học, GS. Phan Trọng Luận
cho rằng tự học chính là: "Một khâu đột phá chất lượng đào tạo" hiện nay [27].
Trong tác phẩm "Tự học - Một tư tưởng lớn của Hồ Chủ tịch về dạy học".
Tác giả Nguyễn Hoàng Yến đã khái quát tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về
tự học có thể quy thành các vấn đề cụ thể như sau:
1/ Một là, trong việc tự học, điều quan trọng hàng đầu là xác định rõ mục
đích học tập và xây dựng động cơ học tập đúng đắn.
2/ Hai là, phải tự mình lao động để tạo điều kiện cho việc tự học suốt đời.
3/ Ba là, Muốn tự học thành công phải có kế hoạch sắp xếp thời gian học
tập, phải bền bỉ, kiên trì thực hiện kế hoạch đến cùng, không lùi bước trước mọi
trở ngại.
4/ Phải triệt để tận dụng mọi hoàn cảnh, mọi phương tiện, mọi hình thức
để tự học.
5/ Học đến đâu, ra sức luyện tập, thực hành đến đó [47].
Trong bài viết: "Vận dụng tư tưởng tự học của Chủ tịch Hồ Chí Minh
nhằm nâng cao chất lượng đào tạo sau đại học" - Tạp chí Giáo dục tháng 8 năm

7
2003, tác giả Nguyễn Văn Quang - Học viện Chính trị quân sự đã khái quát một
tư tưởng lớn của Chủ tịch Hồ Chí Minh về tự học: Một là: Người coi trọng: "Lấy
tự học làm cốt"; Hai là, người xác định động cơ, thái độ học tập là "học để làm

học tập, coi việc học tập, tiếp thu tri thức để lập thân lập nghiệp như cơm ăn,
nước uống hàng ngày [45].
Giáo dục, dạy học có vai trò chủ đạo đối với sự phát triển. Nhưng mối
quan hệ giữa giáo dục, dạy học và phát triển là mối quan hệ biện chứng. Hai quá
trình này không phải là hai quá trình diễn ra song song mà chúng thống nhất với
nhau, có tác động tương hỗ với nhau. Sự phát triển nhân cách con người chỉ có
thể diễn ra một cách thuận lợi trong những điều kiện của giáo dục và dạy học.
Nhưng để giữ vai trò chủ đạo, giáo dục và dạy học phải kích thích, dẫn dắt sự
phát triển chứ không chờ sự phát triển, tạo nên ở chủ thể quá trình giải quyết
mâu thuẫn liên tục để thúc đẩy sự phát triển. Vì thế, khả năng giáo dục và dạy
học rất rộng lớn, nhưng không vô hạn. Muốn phát triển nhân cách đúng đắn rất
cần có sự tự giáo dục của cá nhân chủ thể trong tất cả các thời kỳ cuộc đời.
Theo nhiều tác giả, chất lượng và hiệu quả giáo dục được nâng cao khi và
chỉ khi tạo ra được năng lực sáng tạo của người học, khi biến được quá trình giáo
dục thành quá trình tự giáo dục. Luật Giáo dục đã ghi rõ: "Phương pháp giáo dục
đại học phải coi trọng việc bồi đưỡng năng lực tự học, tự nghiên cứu, tạo điều
kiện cho người học phát triển tư duy sáng tạo, rèn luyện kỹ năng thực hành, tham
gia nghiên cứu, thực nghiệm, ứng dụng". Như vậy, phương pháp dạy và học ở
các trường đại học, cần thực hiện theo ba định hướng:
- Bồi dưỡng năng lực tự học, tự nghiên cứu;
- Tạo điều kiện cho người học phát triển tư duy sáng tạo;
- Rèn luyện kỹ năng thực hành, tham gia nghiên cứu, ứng dụng.
3. Mục đích và nhiệm vụ của luận văn
* Mục đích nghiên cứu: Trên cơ sở những thành tựu lý luận đã đạt được
về ý thức tự giáo dục; qua tìm hiểu, khảo sát ý thức tự giáo dục của sinh viên
trường Đại học Hùng Vương, từ đó xác định những giải pháp cơ bản để xây

9
dựng ý thức tự giáo dục cho sinh viên trường Đại học Hùng Vương trong giai
đoạn hiện nay.

7. Kết cấu của đề tài
Ngoài phần mở đầu, phụ lục và tài liệu tham khảo, luận văn gồm 2 chương
4 tiết.

11
Chƣơng 1
VAI TRÒ CỦA TỰ GIÁO DỤC TRONG GIÁO DỤC ĐẠI HỌC
1.1. Tự giáo dục và nội dung của tự giáo dục trong giáo dục đại học
1.1.1. Giáo dục và tự giáo dục - nhìn từ góc độ triết học
Ngay từ thuở hoang sơ nhất của mình, khi còn sống thành bầy, đàn trong
các khu rừng nhiệt đới hay trong các hang động, con người đã biết hợp tác với
nhau để chống lại thiên tai, thú dữ. Trong quá trình đó, con người từng bước tích
luỹ được những kinh nghiệm sống quý báu cho bản thân mình.
Để tồn tại và phát triển, con người từng bước ý thức được rằng: các thế hệ
đi trước, những người có nhiều thành công trong việc săn bắt hái lượm cần phải
truyền đạt lại cho các thành viên khác, cho thế hệ mai sau những gì mà mình tích
luỹ được trong cuộc sống cộng đồng. Ngôn ngữ, những bức họa đơn sơ nhất được
kẻ, vẽ lên trên những phiến đá diễn tả lại hành động của con người trong quá trình
chinh phục giới tự nhiên hoang dã xuất hiện là sự biểu đạt ý tưởng đó của con
người.
Với sự xuất hiện của ngôn ngữ, của những bức tranh mộc mạc, đơn giản
ấy đã giúp cho các thành viên trong thị tộc, bộ lạc biết cách săn bắt, hái lượm,
biết cách làm hang động sao cho có hiệu quả nhất. Chính nhu cầu, khát vọng và
quá trình truyền đạt những kinh nghiệm đó bằng hình ảnh, bằng ngôn ngữ thông
qua các lời khuyên bảo, dặn dò hay các truyền thuyết là hình thức manh nha,
khởi nguyên cho hiện tượng "giáo dục" sau này.
Trong quá trình vận động của nền sản xuất xã hội, lực lượng sản xuất ngày
càng phát triển, công cụ lao động từng bước được cải tiến, năng suất lao động
không ngừng được nâng lên, sản phẩm làm ra không chỉ đủ ăn mà còn có dư
thừa. Những người trước đây do thị tộc, bộ lạc bầu ra để thực hành chức năng xã

13
Với lịch sử hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước, Việt Nam có một nền
giáo dục khá phát triển và hình thành từ rất sớm từ các nền văn hoá bản địa, như:
Văn hoá Sơn Vi (cách đây khoảng từ 11.000 đến 30.000 năm), văn hoá Hoà Bình
cách ngày nay khoảng 7.500 đến 17.000 năm, văn hoá Bắc Sơn (cách chúng ta
khoảng 10.000 năm)
Năm 1070, Lý Thánh Tông cho dựng Văn Miếu (ở Hà Nội) và năm năm
sau (1075) nhà Lý cho mở khoa thi Minh kinh bác học để tuyển dụng nhân tài.
Năm 1076, Quốc Tử Giám (Hà Nội) - trường đại học đầu tiên ở Việt Nam được
thành lập để đào tạo những người hiền tài cho đất nước [20, tr.22-23].
Sau khi cách mạng tháng Tám 1945 thành công, nền giáo dục Việt Nam
tiếp tục phát triển. Đó là nền giáo dục của dân, do dân và vì dân, xây dựng trên
nguyên tắc: dân tộc, hiện đại, khoa học và đại chúng. Nền giáo dục ấy đã đào tạo
được rất nhiều các thế hệ trí thức phục vụ sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc
qua các giai đoạn lịch sử khác nhau.
Có thể nói, từ cổ đại đến hiện đại, từ phương Đông đến phương Tây, nhân
loại luôn luôn quan tâm đến giáo dục (trước hết là con đường giáo dục thông qua
dạy học). Vậy, bản chất của giáo dục là gì, giáo dục thông qua những con đường
nào, nó có đặc điểm gì Đây là những vấn đề còn có nhiều ý kiến khác nhau với
các cách tiếp cận không giống nhau.
Dưới góc độ triết học, giáo dục là một quá trình tác động từ bên ngoài vào
đối tượng giáo dục (sự tác động của tri thức, văn hoá nhân loại ), thông qua sự
tác động này, làm cho đối tượng biến đổi bản thân mình sao cho phù hợp với
chuẩn mực xã hội, với truyền thống dân tộc và yêu cầu thời đại.
Giáo dục là sự dẫn dắt của thế hệ đi trước đối với thế hệ sau, một sự dẫn
dắt có ý thức, có kế hoạch, có phương pháp. Thông qua giáo dục, các thế hệ đi
sau có thể rút ngắn được thời gian tìm kiếm những tri thức mà các thế hệ đi trước
đã đạt được, trên cơ sở đó để phát triển lên.

14

nguyện các giá trị văn hoá mà nhân loại đã tạo lập nên. Các giá trị này được
truyền thụ trong quá trình giáo dục thông qua các hình thức như : dạy học, các
phong trào hoạt động xã hội, sinh hoạt tập thể, sinh hoạt gia đình
Với tư cách là quá trình vận động "tự thân", một sự hướng nội, một sự
"phản tư" của con người về chính bản thân mình, là sự "chiến thắng" bản thân
do đó "tự giáo dục" đòi hỏi ở đối tượng giáo dục (ở đây là các sinh viên) phải có
ý chí, có nghị lực, có quyết tâm cao. Thực tiễn cho thấy, chiến thắng "lực cản",
“kẻ thù” bên ngoài đã khó, chiến thắng “lực cản”, “kẻ thù” bên trong lại càng
khó khăn hơn nhiều. Tại Lớp chỉnh Đảng Trung ương khoá II (3/1953), Hồ Chí
Minh có nói: "Phải thấy kẻ địch trong mình ta nó mạnh lắm. Đế quốc bên ngoài
có thể dùng súng dùng đạn để đánh được. Kẻ địch trong người không thể dùng
lựu đạn mà ném vào được, nó vô hình, vô ảnh, không dàn ra thành trận, luôn
luôn lẩn lút trong mình ta. Nó khó thấy, khó biết, nên khó tránh. Nhưng đã biết
việc phải thì kiên quyết làm.
Làm không phải chuyện dễ. Nó khó như trèo núi, rất gay go và có khi
nguy hiểm là đằng khác".
Theo ý kiến của nhiều nhà khoa học, dấu hiệu đặc trưng cơ bản nhất của
tự giáo dục "là tính năng động, là nguyện vọng tự giác phấn đấu để tự cải tạo
theo hướng tích cực, theo hướng hình thành hoặc củng cố các phẩm chất nhất
định của nhân cách và hoàn thiện nhân cách". Họ còn cho rằng: "Yếu tố tất yếu
của tự giáo dục là tự điều chỉnh, cũng như tự phê bình, là tinh thần không thoả
mãn với kết quả đạt được và cầu tiến bộ" [26, tr.206].
Từ góc độ triết học, chúng ta có thể thấy vấn đề căn bản của tự giáo dục là
vấn đề tự ý thức của nhân cách, của đối tượng (khách thể) giáo dục. Tính "tự ý
thức" này càng cao bao nhiêu thì ý thức "tự giáo dục" càng cao bấy nhiêu. Sẽ

16
không có mâu thuẫn giữa "tự ý thức" với "tự giáo dục"; giữa tính tích cực, chủ
động, sáng tạo của ý thức với "tự giáo dục".
Ngay từ thời cổ đại, mặc dù đứng trên quan điểm duy tâm, nhưng nhà triết

nói rằng: Vế đầu là ngu xuẩn, vế sau là thiên tài, được chăng!
Phật giáo nguyên thuỷ, khi đi tìm con đường để diệt trừ nguyên nhân của
sự đau khổ, đã tìm thấy 7 con đường (tứ niệm xứ; tứ chỉnh cần; tứ như ý túc; ngũ
căn; ngũ lực; thất bồ đề phần; bát chính đạo), trong đó con đường thứ bảy: Bát
chính đạo đề cao tư tưởng "tự giáo dục" của con người - của phật tử. Phật giáo
luôn luôn kêu gọi mỗi người hãy tự làm "sạch thân thể và tâm hồn" mình để
thoát khổ, để đạt đến cái gọi là Niết bàn (Nirvana) [21, tr.158].
Trong lĩnh vực giáo dục, Phật giáo có những đóng góp nhất định. Những
đóng góp đó thể hiện trong quan niệm về giáo dục, tự giáo dục, tha giáo dục.
Giáo dục và tự giáo dục: Bằng trí tuệ và phẩm hạnh của mình, người Thầy
giáo Phật học phải huấn luyện và đào tạo cho Tăng Ni sinh sự tự giáo dục chính
họ. Các Thầy giáo Phật học phải là tấm gương để tăng ni, phật tử noi theo. Tự
giáo dục là quá trình đòi hỏi mỗi cá nhân phải tự giác trau dồi tam tuệ học, xóa
bỏ tam độc, hướng đến tam giải thoát. Trong quá trình này, người Thầy giáo
Phật học phải nhấn mạnh và làm nổi bật được ''hiện thực khổ đau đang khống
chế con người là do vô minh, tham chấp và phiền não'', mà sự đạt được hạnh
phúc, an lạc phải do tự mỗi người thực hành lời Phật dạy, thông qua con đường
bát chánh, hay nói khác là nhận thức rõ tứ đế và mười hai nhân duyên. Mỗi
người phải áp dụng lời Phật dạy trong cuộc sống để làm ốc đảo giải thoát cho
chính mình. Hãy thắp sáng ngọn đuốc giải thoát bằng chính sự tu tập của mình,
như đức Phật đã dạy:
Tất cả chúng sanh đều có khả năng thành Phật.
Trong lộ trình giác ngộ, các con hãy tự mình thắp đuốc lên mà đi.

18
Trong đại dương luân hồi, các con hãy tự mình lội vào bờ giải thoát.
Các con là hải đảo của chính mình.
Đức Như Lai chỉ là bậc Đạo sư trên nguyên tắc.
Tha giáo dục: Con đường giáo dục của Phật giáo là giao thoa nhân duyên:
giáo dục chính mình để mà chói sáng, giáo dục người khác. Đối tượng giáo dục

đầu nền triết học cổ điển Đức: I.Cantơ (I.Kant 1724-1804). Tuy là một triết gia
duy tâm, nhưng ông đã đặt ra cho mình và cho thời đại mình các câu hỏi, thiết
nghĩ, những câu hỏi ấy đến nay vẫn còn giá trị nhất định, đó là:
Tôi có thể biết được cái gì ?
Tôi cần phải làm gì ?
Tôi có thể hy vọng cái gì ?
Ba vấn đề này là sự khái quát những điều mà ai ai cũng thường suy tư trăn
trở. Đây là sự khái quát về trách nhiệm, về bổn phận của con người - cái mà ai ai
cũng phải thực hiện. Đây cũng chính là nét đặc sắc trong tư tưởng triết học "tự
giáo dục" của Cantơ, cho dù ít nhiều có nhuốm màu duy tâm chủ quan trong quá
trình "phê phán lý tính thuần tuý" [3, tr.458].
Kế thừa những giá trị của quá khứ, giáo dục học hiện đại rất coi trọng
khâu "tự giáo dục". Điều này thể hiện rõ nét trong phương pháp giáo dục:
"Phương pháp động não"; "phương pháp học tập qua giải quyết vấn đề (hay còn
gọi là phương pháp nêu vấn đề - nghiên cứu) là những bằng chứng nói lên điều
đó.
Đảng ta, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh rất quan tâm đến công tác
giáo dục, Người cho rằng "dốt nát" là một loại giặc: giặc dốt. Để tiêu diệt giặc
dốt thì phải phát triển giáo dục.

20
Trong các con đường giáo dục (giáo dục thông qua dạy học; giáo dục
thông qua tổ chức các hoạt động thực tiễn chính trị - xã hội; giáo dục thông qua
sinh hoạt tập thể; giáo dục thông qua tự tu dưỡng ) Chủ tịch Hồ Chí Minh rất
coi trọng con đường tự tu dưỡng của người học. Tại Đại hội sinh viên lần thứ II
(07/5/1958), Người căn dặn sinh viên rằng: "Thanh niên bây giờ là thế hệ vẻ
vang, vì vậy cho nên phải tự giác, tự nguyện mà tự động cải tạo tư tưởng của
mình để xứng đáng với nhiệm vụ của mình". Người khuyên sinh viên phải nêu
cao ý thức "tự giáo dục" trở thành những người vừa có tài vừa có đức để phục vụ
nhân dân.

thời đại.
1.1.2. Nội dung của tự giáo dục trong giáo dục đại học
Với tư cách là một bộ phận hợp thành của quá trình giáo dục, muốn tìm hiểu
nội dung của tự giáo dục, thiết nghĩ chúng ta phải bắt đầu từ nội dung giáo dục.
Nội dung giáo dục nói chung, giáo dục đại học nói riêng phải căn cứ vào
mục tiêu giáo dục và những yêu cầu khách quan do cuộc sống đặt ra. Nói cách
khác, mục tiêu giáo dục và những đòi hỏi khách quan của đất nước và thời đại sẽ
quy định nội dung giáo dục. Mục tiêu giáo dục là gì thì nội dung giáo dục phải
căn cứ vào mục tiêu đó mà xây dựng nội dung, chương trình cũng như tìm ra
phương pháp giảng dạy phù hợp.
Chẳng hạn, khi Phật giáo du nhập vào nước ta (khoảng thế kỷ thứ 3 SCN),
Phật giáo đã thành lập một trường dạy học, mục đích là đào tạo những tăng ni,
những thiền sư thông tuệ về kinh kệ, phục vụ cho việc truyền đạo. Do đó, nội
dung giáo dục của nhà trường chủ yếu là kinh Phật, chứ không phải là toán học
hay lý học; sinh học hay môi trường học
Hoặc, mục tiêu hướng tới của nền giáo dục Nho giáo là việc giáo dục
thành người "Quân tử" để phục vụ cho chế độ phong kiến. Sách "Đại học" có
chú thích rằng: "Quân là vua là ngài, Tử là thầy. Quân tử nói chung là người

22
trong xã hội Hán học thuở trước được coi là có đức, có tài do đó mà có cương vị
bề trên trong làng, trong nước, dẫn dắt số đông coi như người kém tài mọn ở bên
dưới gọi là tiểu nhân" [4, tr.89].
Đề cao giá trị tinh thần, nội dung giáo dục của Nho giáo chủ yếu là các
sách kinh điển Nho giáo, như "Tứ thư" (Luận ngữ, Mạnh Tử, Đại học, Trung
Dung) và "Ngũ kinh" (Kinh thi, Kinh thư, Kinh Xuân thu, Kinh dịch, Kinh lễ).
Nho giáo dạy đạo làm người quân tử, dạy đạo trị nước. Nội dung và phương
pháp dạy học Nho giáo khuyến khích người ta chạy theo công danh, học để làm
quan. Nho học ít quan tâm đến giảng dạy, nghiên cứu các lĩnh vực khoa học tự
nhiên, khoa học kỹ thuật [14, tr.142].

thực hành” cho học sinh, sinh viên [5, tr.33].
Giáo dục toàn diện vừa là mục tiêu vừa là phương hướng chủ yếu của nền
giáo dục Việt Nam, trong đó có giáo dục đại học. Với tư cách là bộ phận hợp
thành, là bước tiếp theo của toàn bộ quá trình giáo dục, "tự giáo dục" của sinh
viên không thể là phiến diện, mất cân đối mà là toàn diện, cân đối. Không được
chú trọng lĩnh vực này mà xem nhẹ lĩnh vực kia. Phải kiên quyết chống tư tưởng
"tuyệt đối hoá" một mặt, một lĩnh vực, một phương diện nào đó mà xem nhẹ mặt
khác, lĩnh vực khác, vì như vậy sẽ đào tạo ra những con người "què quặt".
Nhưng làm thế nào để thực hiện giáo dục một cách "toàn diện" trong khi
mọi nguồn lực đều có hạn, nhất là về khả năng nhận thức của con người. Đấy là
một thực tế mà chúng ta đang phải đối mặt. Ph.Ăngghen từng nói rằng: "Tư duy
của con người vừa là tối cao vừa là không tối cao, và khả năng nhận thức của
con người vừa là vô hạn vừa là có hạn" [29, tr.127]. Do tính "không tối cao", "có
hạn" không chỉ của khả năng nhận thức mà còn của các nguồn lực khác, điều đó
đòi hỏi trong giáo dục cũng như "tự giáo dục" cần phải có sự ưu tiên nhất định.

24
Theo quan điểm và lôgíc của Hồ Chí Minh: "Thanh niên phải có đức, có
tài. Có tài mà không có đức chẳng những không làm được gì lợi ích cho xã hội,
mà còn có hại cho xã hội nữa" và "có tài phải có đức. Có tài không có đức, tham
ô hủ hoá có hại cho nước", thì trong "tự giáo dục" trước hết là tự giáo dục về đạo
đức, về tư tưởng, về lập trường giai cấp, về tình yêu đối với quê hương, đất nư-
ớc, về tình yêu thương đối với con người (chủ nghĩa nhân đạo cộng sản)
Trong ý nghĩa đích thực của thuật ngữ "tự giáo dục" đã hàm chứa những
nội dung trên. "Tự giáo dục", "tự tu dưỡng đạo đức, tư tưởng" đi liền với nhau.
Theo cách nói của Khổng Tử là "tu thân". Theo cách nói của Xôcrát là "tự nhận
thức mình". Còn Hồ Chí Minh thì gọi "tự mình phải trong sáng".
Đạo đức chỉ có được bằng con đường rèn luyện, tu dưỡng, vì nó “không
phải trên trời sa xuống. Nó do đấu tranh, rèn luyện bền bỉ hằng ngày mà phát
triển và củng cố. Cũng như ngọc càng mài càng sáng, vàng càng luyện càng


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status