Xây dựng mô hình quản lý công tác giáo dục
đạo đức cho sinh viên trong các trường Đại học
Sư phạm trong giai đoạn hiện nay
Nguyễn Thị Hoàng Anh
Trường Đại học Giáo dục
Luận văn TS. Chuyên ngành: Quản lý giáo dục; Mã số: 60 14 05
Người hướng dẫn: PGS.TS. Hà Nhật Thăng, TS. Lê Quang Sơn
Năm bảo vệ: 2011
Abstract: Nghiên cứu cơ sở lý luận để làm cơ sở cho việc đề xuất mô hình Quản lý công tác
giáo dục đạo đức (QLCTGDĐĐ) cho SVSP trong giai đoạn hiện nay. Đánh giá thực trạng công
tác giáo dục đạo đức, thực trạng việc QLCTGDĐĐ cho Sinh viên sư phạm (SVSP) trong các
trường đại học sư phạm hiện nay. Đề xuất mô hình quản lý công tác giáo dục đạo đức cho sinh
viên trong các trường Đại học sư phạm (ĐHSP) và các biện pháp thực hiện.
Keywords: Quản lý giáo dục; Giáo dục đạo đức; Sinh viên; Sư phạm.
Content:
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Đạo đức là một thành phần cơ bản của nhân cách. Đạo đức là bộ mặt của nhân cách thể
hiện trong mối quan hệ giữa người với người, với xã hội và tự nhiên, với công việc, với môi sinh
vì lý tưởng của cộng đồng. Giáo dục đạo đức có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với mọi người,
đặc biệt đối với thế hệ trẻ trong xã hội mở cửa hội nhập cùng phát triển như thời đại ngày nay, vì
đạo đức là nội lực của quá trình phát triển nhân cách.
Từ rất sớm, Chủ tịch Hồ Chí Minh quan niệm đạo đức cách mạng là gốc của người cách
mạng, theo Người, muốn làm cách mạng thắng lợi thì người cán bộ phải có đạo đức. Để nhấn
mạnh vai trò của đạo đức, Người thường nói: “Cũng như sông thì có nguồn mới có nước, không
có nguồn thì sông cạn. Cây phải có gốc, không có gốc thì cây héo. Người cách mạng phải có đạo
đức, không có đạo đức thì dù tài giỏi mấy cũng không lãnh đạo được nhân dân” [101, tr. 252253]. Nhấn mạnh đạo đức là gốc Chủ tịch Hồ Chí Minh không coi nhẹ tài năng vì phải có tài
tội phạm đáng lo ngại, nhất là trong lớp trẻ…” [10, tr. 2].
QLCTGDĐĐ cho SV sư phạm có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong sự nghiệp phát triển
nhân cách thế hệ trẻ, vì họ là người sẽ giáo dục đào tạo các thế hệ công dân cho đất nước sau
này. Song thực tế, mô hình quản lý công tác này ở các trường đại học sư phạm hiện nay còn
nhiều bất cập và chưa thực sự có hiệu quả, đặc biệt là những yếu kém trong quản lý. Các trường
chỉ chú trọng đến việc trang bị kiến thức chuyên môn mà chưa quan tâm GDĐĐ cho SV đúng
như yêu cầu. QLCTGDĐĐ cho SV đều dựa trên những nguyên lý giáo dục chung, nhưng mỗi
nơi, mỗi lúc áp dụng một cách, chưa thực hiện thống nhất, đồng bộ các chức năng quản lý. Có
thể thấy, ở các trường chưa có những biện pháp quản lý nhằm phát huy sự gương mẫu của thầy
và ý thức tự giác rèn luyện của SV để biến quá trình giáo dục của nhà trường thành quá trình tự
rèn luyện của SV, chưa huy động được sự tham gia của các lực lượng xã hội vào công tác
GDĐĐ cho SV... Tuy nhiên, lại có rất ít công trình nghiên cứu GDĐĐ và QLCTGDĐĐ cho SV
nhằm khắc phục những mặt tiêu cực này. Để nâng cao hiệu quả đào tạo của các trường đại học
sư phạm, xây dựng mô hình QLCTGDĐĐ cho SV trong các trường ĐHSP đang là vấn đề có tính
thời sự, tính cấp thiết.
Từ những lý do trên, chúng tôi chọn đề tài: “Xây dựng mô hình quản lý công tác giáo dục
đạo đức cho sinh viên trong các trường đại học sư phạm trong giai đoạn hiện nay”, nhằm nâng
cao hiệu quả quản lý công tác giáo dục đạo đức nói riêng, góp phần nâng cao chất lượng đào tạo
SV nói chung trong giai đoạn hiện nay.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Tiếng Việt
[1]
Alma Harris – Nigel Bennett (2004), Phương pháp lãnh đạo và quản lý nhà trường hiệu
quả, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội.
[2]
Andrew Taylor và Frances Hill (2004), Quản lý chất lượng trong giáo dục trong ấn phẩm
Ban tư tưởng văn hóa trung ương (2004), Xây dựng môi trường văn hóa – Một số vấn đề
lý luận và thực tiễn, Nhà xuất bản Tổng cục Công nghiệp Quốc phòng, Hà Nội.
[9]
Báo cáo chính trị của BCH Trung ương Đảng khoá IX tại Đại hội X.
[10]
Báo cáo của BCH Trung ương Đảng khóa IX ngày ngày 10 tháng 4 năm 2006 về phương
hướng, nhiệm vụ phát triển KT – XH 5 năm 2006 – 2010.
[11]
Báo Lao động số 217, ngày 20/9/1999.
[12]
Đặng Quốc Bảo (2004), “Quan điểm phát triển giáo dục trong điều kiện kinh tế thị trường
và việc vận dụng vào hoàn cảnh Việt Nam”, Thông tin Khoa học Giáo dục (107).
[13]
Đặng Quốc Bảo, Đỗ Quốc Anh, Đinh Thị Kim Thoa (2007), Cẩm nang nâng cao năng
lực và phẩm chất đội ngũ giáo viên, NXB Lý luận chính trị, HN.
[14]
Nguyễn Huy Bằng (2000), “Mối quan hệ giữa giáo dục pháp luật và giáo dục đạo đức
trong việc hình thành nhân cách sinh viên”, Tạp chí Đại học và Giáo dục chuyên nghiệp
Bộ Giáo dục và Đào tạo (2003), Quy chế Thực hành, thực tập sư phạm áp dụng cho các
trường đại học, cao đẳng đào tạo giáo viên phổ thông, mầm non trình độ cao đẳng hệ
chính quy” (Ban hành kèm theo Quyết định số 36/2003/QĐ-BGDĐT ngày 01/8/2003 của
Bộ trưởng Bộ GD và ĐT).
[21]
Bộ Giáo dục và Đào tạo (2005), Đề án đổi mới giáo dục đại học Việt Nam giai đoạn
2006-2020.
[22]
Bộ Giáo dục và Đào tạo (2006), Báo cáo của lãnh đạo Bộ GD và ĐT tại Hội nghị Hiệu
trưởng các trường đại học, cao đẳng.
[23]
Bộ Giáo dục và Đào tạo (2007), Quy chế học sinh, sinh viên các trường đại học, cao
đẳng và trung cấp chuyên nghiệp hệ chính quy (Ban hành kèm theo Quyết định số
42/2007/QĐ-BGDĐT ngày 13/8/2007 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo).
[24]
Bộ Giáo dục và Đào tạo (2007), Quy chế đào tạo đại học và cao đẳng hệ chính quy theo
hệ thống tín chỉ (Ban hành theo QĐ số 43/2007/QĐ-BGDĐT ngày 15/8/2007) của Bộ
trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo).
[25]
Bộ Giáo dục và Đào tạo (2007), Quy chế đánh giá kết quả rèn luyện của học sinh, sinh
Các Mác, Ph. Ăngghen (1994), Toàn tập, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội.
[32]
Nguyễn Quốc Chí, Nguyễn Thị Mỹ Lộc (2005), Những xu thế quản lý hiện đại và việc
vận dụng vào QLGD, Khoa Sư Phạm, ĐHQGHN, Hà Nội.
[33]
Chỉ thị 11/1/2005 của Thủ tướng Chính phủ về “Xây dựng, nâng cao chất lượng đội ngũ
nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục giai đoạn 2005-2010”.
[34]
Chỉ thị số 06-CT/TW ngày 07/11/2006 của Bộ Chính trị về cuộc vận động “Học tập và
làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”.
[35]
Chỉ thị số 33/2006/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ về chống tiêu cực và khắc phục
bệnh thành tích trong giáo dục, các cơ sở giáo dục đại học toàn quốc tập trung triển khai
cuộc vận động “Nói không với đào tạo không đạt chuẩn, không đáp ứng nhu cầu xã hội”.
[36]
“Chiến lược phát triển giáo dục trong thế kỷ XXI – Kinh nghiệm của các quốc gia”
(2002), Kỷ yếu Hội thảo Quốc gia, tập 1 và 2, Viện Nghiên cứu Phát triển giáo dục.
[37]
Đinh Xuân Dũng (2006), Tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức, Nhà xuất bản Giáo dục, Hà
Nội.
[44]
Thành Duy (2004), Văn hóa đạo đức, Nhà xuất bản Văn hóa thông tin, HN.
[45]
Đảng Cộng sản Việt Nam (1997), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần VIII Đảng
Cộng sản Việt Nam, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội.
[46]
Đảng Cộng sản Việt Nam (2001), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần IX Đảng Cộng
sản Việt Nam, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội.
[47]
Đảng Cộng sản Việt Nam (2006), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần X Đảng Cộng
sản Việt Nam, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội.
[48]
Đi-ô-gien La-ec-xơ (1986), Về cuộc đời, học thuyết và châm ngôn của các nhà triết học
nổi tiếng, Nhà xuất bản Tư tưởng, Matxcơva.
[49]
hoá, hiện đại hoá, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội.
[56]
Phạm Minh Hạc (2009), “Văn hóa học đường: Nhà trường thân thiện”, Tạp chí Khoa học
Giáo dục (42).
[57]
Vũ Ngọc Hải (2003), “Đổi mới giáo dục nước ta trong những năm đầu thế kỷ XXI”, Tạp
chí Phát triển Giáo dục (4/52).
[58]
Vũ Ngọc Hải – chủ biên (2003), Hệ thống giáo dục hiện đại trong những năm đầu thế kỷ
XXI, Nhà xuất bản Giáo dục, Hà Nội.
[59]
Vũ Ngọc Hải (2003), “Các mô hình về quản lý giáo dục”, Tạp chí Phát triển giáo dục (6
/54).
[60]
Vũ Ngọc Hải, Trần Khánh Đức (2003), Hệ thống giáo dục hiện đại trong những năm đầu
thế kỷ XXI (Việt Nam và thế giới), NXB Giáo dục, Hà Nội.
[61]
Vũ Ngọc Hải (2005), “Giáo dục Việt Nam và những tác động của WTO”, Tạp chí Khoa
Bùi Minh Hiền (2004), Lịch sử giáo dục Việt Nam, Nhà xuất bản Đại học Sư phạm Hà
Nội, Hà Nội.
[68]
Bùi Minh Hiền (2004), “Những cơ sở lý thuyết của việc xây dựng xã hội học tập và giáo
dục suốt đời”, Tạp chí Khoa học Trường Đại học Sư phạm Hà Nội (3).
[69]
Bùi Minh Hiền – chủ biên, Vũ Ngọc Hải, Đặng Quốc Bảo (2006), Quản lý giáo dục, Nhà
xuất bản Đại học Sư phạm Hà Nội, Hà Nội.
[70]
Hiến pháp, (1992), Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội.
[71]
Nguyễn Thanh Hoàn – Chủ nhiệm đề tài, Mô hình nhà trường phổ thông tự quản ở một
số nước và những yêu cầu đối với năng lực QL của người hiệu trưởng, Viện Chiến lược
và Chương trình giáo dục chủ trì, Mã số: C16-2003.
[72]
Trần Bá Hoành (1996), Thống kê xác suất trong quản lý và nghiên cứu giáo dục, Nhà
xuất bản Giáo dục, Hà Nội.
[73]
Jamshid Gharajedaghi (2005), Tư duy hệ thống. QL hỗn độn và phức hợp. Một cơ sở cho
thiết kế kiến trúc kinh doanh, NXB Khoa học Xã hội, Hà Nội.
[80]
Jean – Marc Denommé & Madeleine Roy (2000), Tiến tới một phương pháp SP tương
tác, NXB Thanh niên và Tạp chí Tri thức & Công nghệ, Hà Nội.
[81]
John S. Oakland (1994), Quản lý chất lượng đồng bộ, Nhà xuất bản Thống kê, Trường
Đại học Kinh tế Quốc dân, Hà Nội.
[82]
Phan Văn Kha (2007), Giáo trình quản lý Nhà nước về giáo dục, Nhà xuất bản Đại học
Quốc gia Hà Nội, Hà Nội.
[83]
Trần Kiểm (2004), Khoa học quản lý giáo dục, NXB Giáo dục, Hà Nội.
[84]
Trần Kiểm (2006), Tiếp cận hiện đại trong quản lý giáo dục, Nhà xuất bản Đại học sư
phạm Hà Nội, Hà Nội.
[85]
[97]
Hồ Chí Minh, Bài nói chuyện với cán bộ, học sinh trường Đại học sư phạm Hà Nội, ngày
21/10/1964.
[98]
Hồ Chí Minh (1993), Về đạo đức, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội.
[99]
Hồ Chí Minh (1997), Bàn về giáo dục thanh niên, NXB Thanh niên, Hà Nội.
[100] Hồ Chí Minh (2000), Toàn tập, tập 1, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội.
[101] Hồ Chí Minh (2000), Toàn tập, tập 5, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội.
[102] Hồ Chí Minh (2000), Toàn tập, tập 9, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội.
[103] Hồ Chí Minh (2000), Toàn tập, tập 12, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội.
[104] Mortimer J. Adler (2004), Những tư tưởng lớn từ những tác phẩm vĩ đại, Nhà xuất bản
Văn hóa – Thông tin, Hà Nội.
[105] Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia (2004), Phương pháp lãnh đạo và quản lý nhà trường
hiệu quả (biên soạn từ tài liệu nước ngoài).
[106] Nhà xuất bản Kim Đồng (2004), Nghề sư phạm, Hà Nội.
[107] Nhà xuất bản Lao động – Xã hội (2002), Tinh hoa quản lý, Hà Nội.
[108] Nguyễn Văn Ninh (2006) Một số giải pháp quản lý nhằm nâng cao chất lượng quá trình
giáo dục đạo đức cho học sinh trường trung học phổ thông Cẩm Lý, Huyện Lục Nam,
Tỉnh Bắc Giang, Luận văn Thạc sĩ QLGD, Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội.
[109] Phạm Thành Nghị (2000), Quản lý chất lượng giáo dục đại học, Nhà xuất bản Đại học
[120] Lê Quang Sơn (2004), Những cơ sở tâm lý học và giáo dục học của đào tạo sau phổ
thông, Chuyên đề đào tạo thạc sĩ QLGD, Đại học Đà Nẵng.
[121] Subir Chowdhury (2006), Quản lý trong thế kỷ 21, Nhà xuất bản Giao thông vận tải, Hà
Nội.
[122] Nguyễn Viết Sự (2005), Giáo dục nghề nghiệp những vấn đề và giải pháp, Nhà xuất bản
Giáo dục, Hà Nội.
[123] Tenesaburo Makiguchi (1994), Giáo dục và cuộc sống sáng tạo, Nhà xuất bản trẻ Đại
học Tổng hợp, thành phố Hồ Chí Minh.
[124] Trần Quốc Thành (2000), “Rèn luyện nghiệp vụ sư phạm cho sinh viên sư phạm”, Tạp
chí nghiên cứu giáo dục, Hà Nội.
[125] Hà Nhật Thăng, Đào Thanh Âm (1997), Lịch sử giáo dục thế giới, Nhà xuất bản Giáo
dục, Hà Nội.
[126] Hà Nhật Thăng – chủ biên (1999), Hoạt động giáo dục ở trường trung học cơ sở, Nhà
xuất bản Giáo dục, Hà Nội.
[127] Hà Nhật Thăng (2001), Giáo dục hệ thống giá trị đạo đức – nhân văn, Nhà xuất bản Giáo
dục, Hà Nội.
[128] Hà Nhật Thăng – chủ biên, Nguyễn Dục Quang, Nguyễn Thị Kỷ (2004), Công tác giáo
viên chủ nhiệm lớp ở trường phổ thông, Nhà xuất bản Giáo dục, Hà Nội.
[129] Hà Nhật Thăng (2010), “Tính giao thoa của các yếu tố ảnh hưởng đến giáo dục, phát triển
nhân cách trong thời đại hiện nay – Cơ sở phương pháp luận của nghiên cứu khoa học
[139] Ủy ban khoa học, công nghệ và môi trường của Quốc hội khóa X (1998), Giáo dục
hướng tới thế kỷ XXI, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội.
[140] Nguyễn Khải Vinh và các cộng sự (2003), Xây dựng lối sống, đạo đức và chuẩn giá trị
xã hội mới trong điều kiện CNH, HĐH phát triển kinh tế thị trường theo định hướng xã
hội chủ nghĩa, Đề tài khoa học xã hội, Mã số: 04.2003.
[141] Võ Khánh Vinh – chủ biên, Nguyễn Thị Việt Hương, Thái Vĩnh Thắng (2005), Giáo
trình Lý luận chung về Nhà nước và pháp luật, Nhà xuất bản Công an nhân dân, Hà Nội.
[142] Phạm Viết Vượng (1996), Giáo dục học đại cương, Nhà xuất bản Đại học quốc gia Hà
Nội, Hà Nội.
[143] Phạm Viết Vượng (2007), Giáo dục học, NXB ĐHQGHN, Hà Nội.
[144] Philip Yeo, Tương lai mới – Nền kinh tế mới – Nhà trường mới – Người quản lý mới, Bài
phát biểu tại Hội nghị Đại học công nghệ Nam Yang, Viện Giáo dục Quốc gia Singapore
ngày 07/7/2000 (khai thác và biên dịch của Vũ Văn Tảo).
Tiếng Anh
[145] Education in China 2002, Ministry of Education The Peoples Republic of China.
[146] Education in Korea 2002-2003, Ministry of Education & Human Resources
Development, Republic of Korea.
[147] Douglas Mauson Institue of Tape Adelaide-South Australia (1999), Training and
assestment based on capicity.
[148] Chuch E. B (1993), Learning through play problems, Scholastic Inc, Early chidhood
division.
[161] Ю. К .Бабанский (1983), Педагогика, Изд. Просвещение, Москва.