MỤC LỤC
PHU LUC
1
MỞ ĐẦU
1.
Tính cấp thiết của đề tài
Khi xã hội ngày càng phát triển, yêu cầu đối v ới m ỗi cá nhân ngày
càng cao. Vai trò của giáo dục và đào tạo nói chung và đào t ạo đ ại h ọc nói
riêng có một ý nghĩa vô cùng quan trọng trong việc cung c ấp ngu ồn nhân
lực có trình độ đại học cho đất nước,nhất là trong giai đo ạn hi ện nay khi
Việt Nam đã gia nhập WTO và phấn đấu trở thành đất nước công nghi ệp
hóa, hiện đại hóa. Để có thể nắm bắt toàn bộ kiến thức chuyên môn ở bậc
đại học đòi hỏi mỗi sinh viên phải có nhiều nỗ l ực trong ho ạt đ ộng h ọc
tập, đặc biệt phải dành thời gian trong việc tự học,tự nghiên cứu. V ấn đ ề
tự học đóng vai trò quan trọng trong việc giúp sinh viên lĩnh h ội ki ến th ức
môn học cũng như phát huy năng lực của bản thân trên c ơ s ở chính là s ự
hướng dẫn của giảng viên.
Để lựa chọn được phương pháp dạy học và thực tế có hiệu quả,
không thể bỏ qua vấn đề tự học của sinh viên. Quá trình dạy h ọc thành
công của giảng viên có quan hệ biện chứng với quá trình t ự h ọc c ủa sinh
viên. Vì vậy thước đo hiệu quả của phương pháp dạy h ọc là k ết qu ả c ủa t ự
học.
Hơn nữa, với sinh viên, đặc biệt là sinh viên năm thứ nhất khi còn chưa
quen với môi trường sống cũng như cách giảng dạy ở trường Đại học - một
môi trường khác hoàn toàn với môi trường ở phổ thông của các em thì việc
làm quen với mô hình này lại càng khó khăn hơn. Một số sinh viên còn chưa ý
thức cũng như chưa xác định được rõ ràng con đường đi của mình, chưa có
2.
2.1.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là tính tích cực trong hoạt động t ự
học của sinh viên
2.2.
Pham vi nghiên cứu
3
Đề tài được thực hiện trong phạm vi trường Đại học Văn hóa Hà Nội
3.
Mục đích nghiên cứu
Đề tài này nghiên cứu về vấn đề tự học của sinh viên trong ph ương
thức đào tạo theo hình thức tín chỉ trên cơ sở đó đề xuất các biện pháp
phát huy tính tích cựcvà nâng cao hiệu quả hoạt động t ự h ọc của sinh viên
Đại học Văn hóa Hà Nội
4. Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu tài liệu: Tổng quan các tài li ệu nghiên c ứu
có liên quan đến vấn đề nghiên cứu, phân tích, tổng hợp, xây d ựng c ơ s ở lý
luận cho việc nghiên cứu vấn đề tự học; tìm hiểu các y ếu t ố c ơ b ản ảnh
hưởng đến quá trình tự học của sinh viên.
Phương pháp sử dụng phiếu hỏi: Sử dụng phiếu hỏi, phiếu điều tra
Tự học
Trong tập bài giảng chuyên đề Dạy tự học cho SV trong các nhà
trường trung học chuyên nghiệp và Cao đẳng, Đại học GS – TSKH Thái Duy
Tuyên viết: “Tự học là hoạt động độc lập chiếm lĩnh kiến th ức, kĩ năng, kĩ
xảo, là tự mình động não, suy nghĩ, sử dụng các năng lực trí tuệ (quan sát,
so sánh, phân tích, tổng hợp…)cùng các phẩm ch ất đ ộng c ơ, tình c ảm đ ể
chiếm lĩnh tri thức một lĩnh vực hiểu biết nào đó hay nh ững kinh nghi ệm
lịch sử, xã hội của nhân loại, biến nó thành sở hữu của chính bản thân
người học”.
Tác giả Nguyễn Kỳ ở Tạp chí Nghiên cứu giáo dục số 7/ 1998 cũng bàn
về khái niệm tự học: “Tự học là người học tích cực chủ động, tự mình tìm ra
tri thức kinh nghiệm bằng hành động của mình, tự thể hiện mình. Tự học là
tự đặt mình vào tình huống học, vào vị trí nghiên cứu, xử lí các tình huống,
giải quyết các vấn đề, thử nghiệm các giải pháp…Tự học thuộc quá trình cá
nhân hóa việc học”.
Trong bài phát biểu tại hội thảo Nâng cao chất lượng dạy h ọc t ổ
chức vào tháng 11 năm 2005 tại Đại học Huế, GS Trần Ph ương cho r ằng: “
Học bao giờ và lúc nào cũng chủ yếu là tự học, t ức là bi ến ki ến th ức khoa
học tích lũy từ nhiều thế hệ của nhân loại thành kiến th ức của mình, t ự c ải
tạo tư duy của mình và rèn luyện cho mình kĩ năng th ực hành nh ững tri
thức ấy”.
Từ những quan niệm trên đây có thể nhận thấy rằng, khái ni ệm t ự
học luôn đi cùng, gắn bó chặt chẽ với khái niệm tự thân. Tri th ức, kinh
5
nghiệm, kĩ năng của mỗi cá nhân chỉ được hình thành bền vững và phát
huy hiệu quả thông qua các hoạt động tự thân ấy. Để có được, đ ạt t ới s ự
đạt hiệu quả cao trong kì thi kết thúc môn học.
Tự học giúp sinh viên nâng cao năng lực tư duy, tìm tòi khám phá ra
những vấn đề mới, nó giúp sinh viên hiểu rõ bản chất của vấn đ ề một
cách sâu sắc nhất, một người sinh viên tuy có đầy đ ủ mọi đi ều ki ện đ ể h ọc
6
tập( thầy giỏi, tài liệu hay…) vẫn không thể thành công đ ược n ếu nh ư
không tự mình đào sâu suy nghĩ.
Tự học giúp sinh viên nắm vững tri thức, kỹ năng kỹ x ảo và nghề
nghiệp trong tương lai. Chính trong quá trình tự h ọc sinh viên đã t ừng b ước
biến vốn kinh nghiệm của loài người thành vốn tri th ức riêng của b ản
thân. Hoạt động tự học đã tạo điều kiện cho sinh viên hiểu sâu tri th ức,
mở rộng kiến thức, củng cố ghi nhớ vững chắc tri thức, biết vận dụng tri
thức vào giải quyết các nhiệm vụ học tập mới.
Tự học không những giúp sinh viên không ngừng nâng cao ch ất
lượng và hiệu quả học tập khi còn ngồi trên gh ế nhà tr ường mà còn giúp
họ có được hứng thú thói quen và phương pháp tự th ường xuyên đ ể làm
phong phú thêm, hoàn thiện thêm vốn hiểu biết của mình. Giúp h ọ tránh
được sự lạc hậu trước sự biến đổi không ngừng của khoa h ọc và công
nghệ trong thời đại ngày nay.
Tự học thường xuyên, tích cực, tự giác, độc lập không ch ỉ giúp sinh
viên mở rộng đào sâu kiến thức mà còn giúp sinh viên hình thành đ ược
những phẩm chất trí tuệ và rèn luyện nhân cách của mình. T ạo cho h ọ có
nếp sống và làm việc khoa học, rèn luyện ý chí phấn đ ấu, đ ức tính kiên trì,
óc phê phán, hứng thú học tập và lòng say mê nghiên cứu khoa h ọc.
Trong quá trình học tập ở trường đại học, nếu bồi dưỡng đ ược ý chí
và năng lực tự học cần thiết thì sẽ khơi dậy được ở sinh viên tiềm năng to
lớn vốn có của họ, tạo nên động lực nội sinh của quá trình h ọc t ập, v ượt
Trường Đại học Văn hóa Hà Nội nằm ở s ố 418 Đ ường La Thành,
phường Ô Chợ D ừa, quận Đống Đa, Hà Nội. Được thành lậpngày
26/3/1959, theo Quyết định số 134/VH-QĐ của Bộ Văn hoá (Nay là Bộ Văn
hóa, Thể thao và Du lịch) với tên là trường Cán bộ văn hóa, sau nhi ều l ần
đổi tên và nâng cấp đến năm 1982 trường lấy tên là Đại học Văn hóatheo
quyết định số 228/TC-QĐ của Thủ tướng Chính phủ. Ch ức năng c ủa
trường là đào tạo các cán bộ thư viện, cán bộ bảo tồn bảo tàng, phát hành
sách, văn hoá du lịch và những người tổ chức hoạt động văn hoá.
1.2.2.
Đặc thù cua sinh viên trương Đai hoc Văn hoa
Hiện nay trường Đại học Văn hóa Hà Nội có khoảng 6000 sinh viên
gồm các khoa Quản lý văn hóa, Việt Nam học ( văn hóa du lịch), Kinh doanh
xuất bản phẩm,Bảo tàng học, Thư viện học, Thông tin học, Văn hóa các
dân tộc thiểu số, Sáng tác văn học, Văn hóa h ọc và Gia đình h ọc. Nhìn
chungsinh viên trường Đại học văn hóa ngoan ngoãn,lễ phep h ọc giỏi,năng
động,sáng tạo,tích cực tham gia các hoạt động văn hóa nghệ thu ật của
trường và các khoa tổ ch ức. Luôn có ý thức vượt khó v ươn lên và đạt đ ược
nhiều thành tích cao trong học tập.
8
9
Chương 2
THỰC TRẠNG TỰ HỌC CUA SINH VIÊN
TRƯƠNG ĐẠI HỌC VĂN HÓA HÀ NỘI HIÊN NAY
về tài chính:cấp học bổng cho sinh viên nghèo và sinh viên có thành tích
học tập tốt.Chỗ ở: xây dựng ký túc xá cho những sinh viên tỉnh xa.
Về h ọc tập:Sinh viên có cơ hội được học tập với nh ững gi ảng viên
lớn tuổi giàu kinh nghiệm giảng dạy và nghiên cứu th ực tiễn,ti ếp đó là
những giảng viên trẻ năng động,tâm huyết với nghề.Được đầu t ư c ơ s ở
10
vật chất,trang thiết bị hỗ trợ học tập,hệ thống thư viện với nguồn tài liệu
tham khảo phong phú không gian yên tĩnh.Tài liệu h ọc tập:sinh viên ti ếp
cận với nguồn tài liệu học tập dồi dào không chỉ từ gi ảng viên mà còn t ừ
các trang thông tin trên internet. Đào tạo tín chỉ: với mô hình này sinh viên
được tự do lựa chọn chương trình và thời gian học phù h ợp v ới đi ều kiện
bản thân từ đó tăng tính chủ động cho sinh viên, tăng tính tự h ọc, t ự t ạo ra
kiến thức. Hình thức học nhóm: môi trường học tập làm việc theo nhóm,
tạo điều kiện cho sinh viên trao đổi thông tin và suy nghĩ của mình v ới
nhóm,và từ đó đưa ra những thảo luận và nhận xet mang tính khách quan
và khoa học.
2.1.2.
Những kho khăn cua sinh viên trong vấn đề tư hoc
2.1.2.1.
Yếu tố chu quan
Tuy sinh viên cùng lứa tuổi nhưng do điều kiện hoàn c ảnh s ống và
cách thức được giáo dục khác nhau (tùy từng khoa) bời vậy không ph ải b ất
cứ sinh viên nào cũng được phát triển tối ưu, độ chín muồi trong suy nghĩ
lo khi thi’ .không có mục tiêu học tập rõ ràng,tình tr ạng nghì h ọc tr ốn
tiết,bỏ tiết và điểm danh hộ diễn ra khá phổ biến.
Vấn đề làm thêm: rất nhiều sinh viên đi làm để kiếm thêm thu nhập
phụ giúp gia đình tuy nhiên việc làm thêm dễ dẫn đ ến gián đoạn v ể h ọc
tập và phân bổ thời gian học tập do chỉ lo làm.
2.2.
Thực trạng chung
Tự học, tự nghiên cứu có tầm quan trọng đặc biệt trong chuy ển đổi
từ “quá trình đào tạo sang quá trình tự đào tạo” theo hệ th ống tín ch ỉ. K ết
quả tự học, tự nghiên cứu không chỉ góp phần hoàn thiện kiến th ức và
chương trình đào tạo mà còn giúp sinh viên khắc sâu và v ận d ụng nh ững
kiến thức, phương pháp tiếp thu được trên lớp vào giải quy ết nh ững v ấn
đề đặt ra trong thực tế, nhất là hoạt động nghiên cứu khoa học - đây l ại là
nhân tố cơ bản có tính chất quyết định chất lượng đào t ạo, th ương hi ệu
của trường. Chỉ có như vậy mới gắn “học đi đôi với hành”, nhà tr ường g ắn
liền với xã hội và sản phẩm đầu ra của các trường đại học m ới đ ược xã h ội
12
chấp nhận,nhà trườngkhông bị đào thải trước xu thế phát triển ngày càng
sâu rộng của quá trình toàn cầu hóa và hội nhập.
Thông qua phương pháp điều tra bằng bảng hỏi, với câu h ỏi: “ theo
bạn tự học có vai trò quan trọng như thế nào đối với sinh viên?”. Chúng tôi
thu được kết quả như sau:
Bảng 2.1 Vai tro cua viêc tư hoc đối với sinh viên
Rât quan
trọng
trọng và có ý nghĩa quyết định tới kết quả học tập chiếm 42,5%. Đây th ật
sự là một con số đáng lo ngại về tình trạng tự học của sinh viên hi ện nay.
Với chủ trương đổi mới phương pháp dạy học ở cấp bậc Đại học,
Cao đẳng… của Bộ GD&ĐT Trường Đại Học Văn Hóa đã áp dụng mô hình
đào tạo tín chỉ bắt đầu từ năm 2012. Với mô hình đào t ạo theo tín ch ỉ
lượng thời gian tự học cao hơn lượng thời gian lên lớp học do v ậy đòi h ỏi
sinh viên phải chủ động trong việc thu xếp thời gian của mình đ ể đáp ứng
được thời gian học trên lớp và thời gian tự học nghiên c ứu tài liệu ở nhà.
Căn cứ vào tầm quan trọng của tự học trong mô hình đào tạo tín chỉ chúng
tôi đã đưa ra câu hỏi: “ Mỗi ngày bạn dành bao nhiêu th ời gian đ ể đ ọc
sách?”. Kết quả thu được như sau:
Bảng 2.2 Thơi gian đoc sach cua sinh viên mỗi ngay
Số sinh viên
Tỷ lệ %
1-2h/ngày
109
54,5%
2-3h/ngày
65
32,5%
13
3-4h/ngày
26
13%
Theo kết quả điều tra trên cho thấy có 54% số lượng sinh viên chỉ sử
Số
sinh
viên
Tỷ lệ
%
Không gian yên
tĩnh, tài liệu
phong phú
Thời gian mở cửa của thư viện trùng với
thời gian học trên lớp nên gây khó khăn
choviệc tìm kiếm thông tin
110
90
55%
45%
Theo thống kê và biểu đồ trên cho thấy thư viện có ảnh hưởng
không nhỏ tới việc tự học của sinh viên. Có tới 55% sinh viên cho rằng gi ờ
làm việc của thư viện trùng với lịch học của sinh viên điều này đã gây
14
không ít khó khăn cho việc nghiên cứu tài liệu và tự h ọc c ủa mình. Còn l ại
trình độ cả về khoa học lẫn ngoại ngữ, cũng là một người tự học xuất sắc,
cho biết kinh nghiệm của anh: "Muốn học, muốn hiểu sâu một chủ đề nào,
điều quan trọng nhất là phải tự mình chạm tới nó tr ước, ph ải t ự mình
khơi mở trước trong đầu, như gieo mầm cho việc tiếp thu, thẩm th ấu c ủa
mình. Khi người học đã tự tiếp nhận kiến thức thì vai trò người th ầy
(hướng dẫn, tác động...) là không thể thiếu. Bản chất của tự h ọc là t ự làm
việc với chính mình trước, nghiên cứu tài liệu, trao đổi với bạn bè theo
cách học với nhóm và được thầy khơi gợi, hướng dẫn". Anh nói: "Tôi l ưu ý
tới một sơ đồ rất hay khi tham dự một hội thảo về giáo dục của Liên Hiệp
Quốc tổ chức ở Anh quốc. Đề cập phương pháp tự học hiệu quả chúng tôi
đã đặt ra câu hỏi: “ Theo bạn những phương pháp nào giúp sinh viên t ự
học tốt?” và kết quả thu được như sau:
Bảng 2.4 Phương pháp tự học của sinh viên
Lên thư viện
Đọc bài trước khi đến
Tất cả các
Học
hoặc ngồi
lớp, trên lớp chịu khó
phương án
nhóm những nơi yên nghe giảng & và ghi chep
trên
tĩnh
bài đầy đủ
Số sinh
viên
Tỷ lệ %
34
đưa ra một số nguyên nhân chủ yếu sau đây:
2.3.1.
Nguyên nhân chu quan
Một số sinh viên chưa xác định được mục đích học tập thật sự của
mình hầu như đi học chỉ để điểm danh sau đó không cần quan tâm gi ảng
viên nói gì? Dạy cái gì?... Họ tỏ ra hết s ức th ờ ơ trong vi ệc h ọc c ủa mình,
lười đọc sách, lười ôn bài ở nhà , chỉ đợi đến giờ lên lớp là vào học, không
đầu tư kiến thức chuyên môn mặc dù đã có trang bị giáo trình, bài gi ảng
sẵn có trong tay.
Một số sinh viên thì chỉ học những gì giáo viên nêu ở l ớp, n ếu giáo
viên tóm tắt vấn đề thì sinh viên mới nắm được, đây là kiểu học ở bậc ph ổ
thông, mang tính từ chương.
Chưa nắm được phương pháp tự học và cách học ở bậc đại h ọc, nh ất
là bước chuẩn bị nội dung ở nhà cho lần lên lớp kế tiếp. Thật ra lần lên l ớp
kế tiếp cách nhau 1 tuần cho nên không thể nói là không có th ời gian
chuẩn bị cho 1 môn học. Mà thay cho việc tự học, chuẩn bị bài cho l ần lên
lớp kế tiếp vào những khoảng thời gian rảnh rỗi của sinh là nh ững bữa
tiệc tùng, dành thời gian để lướt web, chơi game, đi ch ơi, du l ịch…
2.3.2.
Nguyên nhân khach quan
Trong bối cảnh xã hội ngày nay khi mà xu thế hội nh ập và tính c ạnh
tranh ngày càng cao đặc biệt là lợi nhuận kinh tế luôn được đặt lên v ị trí
hàng đầu điều đó đã gây không ít những khó khăn cho các tr ường đại h ọc
và sinh viên. Trường Đại học thì đào tạo một cách ồ ạt chạy theo xu h ướng
còn sinh viên đặc biệt là sinh viên năm nhất trước khi thi vào các tr ường
Đại học có thể là do không tìm hiểu kỹ chương trình đào tạo của tr ường
Không có phòng cho sinh viên tự học đặc biệt là h ọc nhóm.
-
Làm việc nhóm: đôi khi còn đùn đẩy cho nhau, ch ưa phát huy
hết tính tự giác trong học tập.
Nguyên nhân nữa có thể là do trình độ chuyên môn của Giảng viên
chưa thật sự đáp ứng được yêu cầu kiến thức của môn học, đồng th ời
phương pháp dạy học của một số giảng viên không thu hút đ ược s ự t ập
trung của sinh viên do đó dẫn đến việc chán n ản không mu ốn h ọc c ủa sinh
viên.
18
Chương 3
GIAI PHAP PHAT HUY TINH TICH CỰC TRONG HOẠT Đ ỘNG
TỰ HỌC CUA SINH VIÊN TRƯƠNG ĐẠI HỌC VĂN HÓA HÀ NỘI
Để có thể thích ứng với phương thức đào tạo và ph ương pháp d ạy học mới, trước tiên đòi hỏi cả thầy và trò phải thực sự bứt phá, có ý th ức
thay đổi để thoát khỏi những thói quen cũ. Hình thức dạy học theo tín ch ỉ,
bản thân nó đã mang tính chất là một sự “cởi m ở” và dân ch ủ, gi ữa th ầy
với trò, giữa trò với trò. Người thầy do vậy không nh ững ph ải đáp ứng cho
học trò về mặt kiến thức mà còn về phương pháp: xử lí tài liệu, c ập nh ật
thông tin, tổ chức các nhóm học, các chương trình seminar, các bu ổi thuy ết
trình hay trình chiếu. Bản thân người học phải cố gắng không ngừng trong
việc tiếp cận phương pháp học tập mới và các kĩ năng mới.
Đã có rất nhiều ý kiến, các kinh nghiệm từ các nhà khoa h ọc, các nhà
giáo dục, các nhà chuyên môn về lĩnh vực giáo dục… nh ằm giúp sinh viên
tìm cách vươn lên và có định hướng học tập đúng đắn.
Lập kế hoạch học tập hợp lí trong đó cần nêu rõ các công vi ệc ph ải làm
với thời gian và dự kiến kết quả cụ thể.
Đảm bảo một khoảng thời gian thư giãn ngắn nhất định m ỗi ngày, có
thể là những khoảng thời gian để vận động như đi bộ, tập th ể dục, nghe
nhạc; ngủ đủ giờ, giữ tinh thần luôn thoải mái cũng là một cách quan tr ọng
để nâng cao hiệu quả cho mỗi giờ học.
Điểm khác biệt lớn nhất của tín chỉ so với cách học truyền th ống là
ở chỗ thời lượng sẽ dành nhiều hơn cho thảo luận, làm việc nhóm và t ự
đọc sách. Tuy nhiên, sinh viên phải xác định được mình ngồi trong l ớp h ọc
để làm gì, mình là chủ thể chứ không phải “người ngoài cuộc”. Học theo
chương trình tín chỉ, muốn được điểm cao và hiệu quả học tập tốt, sinh
viên không đơn giản chỉ là phải lên thư viện đọc sách từ sáng đến tối, đến
kì thi học thuộc bài mà quan trọng hơn là kĩ năng và s ự sáng t ạo c ủa mình
trong những công việc quen thuộc ấy. Tất nhiên ý th ức tự giác và n ỗ l ực
của bản thân sinh viên đóng vai trò quyết định. Dưới đây là một số kỹ năng
cần có của sinh viên, bao gồm:
20
Kỹ năng nghe giảng va ghi chép bai giảng hợp lý:
Nghe giảng và ghi chep là những kỹ năng quan trọng của sinh viên
trong quá trình học tập. Quy trình nghe giảng gồm các khâu nh ư ôn bài cũ,
làm quen với bài sắp học, hình dung các câu hỏi đ ối v ới bài m ới. Khi nghe
giảng cần tập trung theo dõi sự dẫn dắt của giáo viên, liên hệ v ới ki ến
thức đang nghe, kiến thức đã có với các câu hỏi đã hình dung tr ước. K ết
quả của việc nghe giảng và ghi chep ngoài việc thể hiện năng lực nhận
thức, tư duy của người học còn thể hiện ở kỹ năng tự học của người đó.
• Nghe giảng: Để tập trung nghe giảng nắm được bài ngay trên lớp không
phải là một việc đơn giản và dễ dàng. Hơn n ữa, việc tập trung đ ược hay
không đôi khi còn phụ thuộc vào thầy giáo, bài giảng hay các nguyên nhân
kiến thức, sinh viên cần:
• Trước hết phải hiểu. Nếu ghi nhớ mà không hiểu thì ghi nh ớ đó sẽ không
bền vững. Thậm chí có bền vững thì cũng chỉ là nh ững tri th ức “khô c ứng”
khó vận dụng được.
• Học cách ghi nhớ bằng cách hệ thống hóa, khái quát hóa nh ững tri th ức cũ.
Tìm cách so sánh, xem xet tương tự kiến th ức mới với kiến th ức đã h ọc.
• Thường xuyên ôn tập củng cố cũng như lập các sơ đồ khái niệm, các
nguyên lý… theo cách hiểu của riêng mình.
Kỹ năng lam viêc với sach:
Đọc sách là kỹ năng không thể thiếu bởi học đại học sẽ ph ải h ọc rất
nhiều. Do đó, sinh viên cần:
• Phải xác định rõ mục đích đọc sách, chọn cách đọc phù h ợp nh ư tìm hi ểu
nội dung tổng quát của quyển sách, đọc th ử một vài đoạn, đọc lướt qua
nhưng có trọng điểm, đọc kĩ có phân tích, nhận xet, đánh giá. Khi đ ọc sách
cần phải tập trung chú ý, tích cực suy nghĩ và ghi chep…
• Sinh viên cần biết một số quy trình đơn giản về kỹ năng đ ọc sách: Bắt đầu
từ việc làm quen với tên tác giả cuốn sách, tên sách, sau đó đ ọc m ục l ục,
đọc lời nói đầu, đọc lướt qua cuốn sách, rồi đọc kỹ, tóm tắt n ội dung, ghi
22
lại những điều lý thú, nêu câu hỏi và đề xuất nh ững ý m ới trong quá trình
đọc,…
• Khi đọc sách cần rút ra được những tư tưởng chính của mỗi đoạn, so sánh,
phân loại, hệ thống hóa,… đề xuất cái mới và nêu câu h ỏi. Đi ều này r ất
quan trọng vì sự sáng tạo thường nảy sinh trong quá trình đọc sách.
Kỹ năng giao tiếp với thầy với ban trong qua trình tư hoc:
Trong nhà trường làm việc theo nhóm là cách tiếp cận được s ử dụng
rộng rãi, trong đó các thành viên kết hợp với nhau đ ể th ực hi ện nhiệm v ụ
ứng với những tri thức đã học. Từ việc giải bài tập của th ầy đến vi ệc
người học tự thiết kế những loại bài tập cho mình giải; từ bài tập củng cố
đơn vị kiến thức đến bài tập hệ thống hóa bài học, chương h ọc, cũng nh ư
những bài tập vận dụng kiến thức vào cuộc sống.
Kỹ năng chuẩn bị va lam bai kiểm tra
Phương pháp ghi bài và tiếp thu được 70 - 80% bài gi ảng của th ầy cô
nghĩa là bạn đã thành công một nửa. Bước vào kỳ thi, đầu tiên sinh viên
phải xác định các tài liệu liên quan để ôn tập; sắp xếp nh ững gì ghi chep
được, hệ thống hóa kiến thức, ước lượng xem cần bao lâu đ ể ôn t ập. Chia
nhỏ những gì bạn học thành từng phần.
Học 3 tiếng buổi sáng, 3 tiếng buổi chiều sẽ hiệu quả hơn ngồi học
cả ngày. Hoặc có thể ôn theo nhóm, điều này giúp sinh viên có điều kiện đ ể
hoàn thiện cả những phần quan trọng mà nếu học một mình thì rất dễ bỏ
qua. Nên thu xếp một buổi tổng ôn tập trước khi thi. Đ ặc biệt, sinh viên
nên chú ý từ những thông tin được các thầy, cô chỉnh s ửa đến m ọi h ướng
dẫn về học tập.
Đôi khi sinh viên quá bận vào một công việc nào đó mà sao nhãng
việc học. Khi còn ít thời gian để ôn tập thì học nhồi nhet. Đầu tiên hãy xem
trước tất cả những tài liệu mà bạn cần phải học, lướt qua các ch ương đ ể
nắm được ý chính, bỏ qua những phần mà bạn không có th ời gian xem l ại.
Kỹ năng tư kiểm tra va đanh gia:
Để rèn luyện kỹ năng tự kiểm tra đánh giá cho bản thân, sinh viên
cần bồi dưỡng them về:
24
• Khả năng đối chiếu kết luận của giáo viên và các ý ki ến c ủa các b ạn v ới
kết quả của bản thân để tự điều chỉnh sửa chữa hoặc hoàn thiện kết quả
của mình đã tìm được.
• Khả năng đánh giá cách giải quyết vấn đề của giáo viên, của bạn bè và c ủa