ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN HÀ NỘI
LƯƠNG THỊ BÍCH NGỌC GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CHO SINH VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC
KỸ THUẬT CÔNG NGHIỆP THÁI NGUYÊN HIỆN NAY
THEO TƯ TƯỞNG ĐẠO ĐỨC HỒ CHÍ MINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ
HÀ NỘI - 2013
1
MỤC LỤC
Phần mở đầu
1. Lý do chọn đề tài
2. Tình hình nghiên cứu
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
6. Dự kiến đóng góp của đề tài
7. Kết cấu của đề tài
Phần nội dung
Chương 1: Tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức và giáo dục đạo đức cho
thanh niên – sinh viên
1.1. Quan điểm của Hồ Chí Minh về đạo đức và vai trò đạo đức trong
đời sống xã hội
1.1.1 Khái niệm về đạo đức
14
14
16
18
21
23
23
2
1.2.2. Quan niệm của Hồ Chí Minh về giáo dục đạo đức cho
thanh niên – sinh viên
1.2.3. Quan điểm của Hồ Chí Minh về những chuẩn mực, nguyên tắc,
phương pháp giáo dục đạo đức cho thanh niên – sinh viên
1.2.3.1. Những chuẩn mực giáo dục đạo đức cho thanh niên – sinh viên
1.2.3.2. Quan điểm của Hồ Chí Minh về nguyên tắc, phương pháp giáo dục
đạo đức cho thanh niên – sinh viên
Chương 2 : Thực trạng đạo đức, giáo dục đạo đức cho sinh viên trường
Đại học Kỹ thuật Công nghiệp Thái Nguyên hiện nay và một số giải
pháp chủ yếu nhằm góp phần nâng cao hiệu quả giáo dục đạo đức cho
sinh viên theo tư tưởng Hồ Chí Minh
2.1 Thực trạng đạo đức và giáo dục đạo đức cho sinh viên trường Đại học
Kỹ thuật Công nghiệp Thái Nguyên hiện nay
2.1.1 Vài nét khái quát về Đại học Kỹ thuật Công nghiệp Thái Nguyên
2.1.2 Sự cần thiết của việc giáo dục rèn luyện đạo đức cho sinh viên Trường
Đại học Kỹ thuật Công nghiệp Thái Nguyên
2.1.3 Đặc điểm của sinh viên và thực trạng đạo đức của sinh viên Trường
46
51
53 53 3
2.2.2. Giải pháp về nội dung giáo dục đạo đức đối với sinh viên trường Đại
học Kỹ thuật Công nghiệp Thái Nguyên hiện nay theo tư tưởng Hồ Chí Minh
2.2.3. Giải pháp về hình thức, phương pháp, phương tiện và điều kiện giáo
dục đối với sinh viên trường đại học Kỹ thuật Công ngiệp Thái Nguyên hiện
nay
2.2.4. Giải pháp kết hợp giữa nhà trường, các tổ chức xã hội và gia đình
trong việc nâng cao hiệu quả công tác giáo dục đạo đức, lối sống đối với sinh
viên trường Đại học Kỹ thuật Công nghiệp Thái Nguyên
2.2.5. Giải pháp đối với người học
2.3 Giáo dục đạo đức đối với sinh viên trường đại học Kỹ thuật Công nghiệp
Thái Nguyên trong giai đoạn hiện nay theo tư tưởng Hồ Chí Minh
Phần kết luận
Danh mục tài liệu tham khảo
Phần phụ lục
HSV : Hội sinh viên
Nxb : Nhà xuất bản
SV : Sinh viên
TB : Trung Bình
TBK : Trung bình khá
TN : Thanh niên
TSSV : Tổng số sinh viên
XHCN : Xã hội chủ nghĩa
XS : Xuất sắc
4
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Hồ Chí Minh là nhà văn hóa lớn đồng thời cũng là nhà giáo dục vĩ đại của
dân tộc. Người là tấm gương sáng cho muôn đời sau học tập và noi theo. Hồ Chí
Minh luôn đánh giá cao vai trò, vị trí, khả năng của thanh niên đối với sự nghiệp
cách mạng nước nhà. Người cho rằng: thanh niên là người chủ tương lai của nước
nhà, nước nhà thịnh hay suy, yếu hay mạnh một phần lớn là do thanh niên. Vì thế,
trước lúc đi xa Người không quên căn dặn Đảng ta phải luôn chú trọng công tác
giáo dục, bồi dưỡng cho thế hệ trẻ về mọi mặt, coi đó là việc làm thường xuyên và
cần thiết.
Trong nội dung bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau Hồ Chí Minh đặt
vấn đề bồi dưỡng phẩm chất đạo đức cách mạng lên hàng đầu. Theo Người, để
xứng đáng là lực lượng kế tục sự nghiệp cách mạng của cha anh thì phẩm chất hàng
đầu cần có ở thanh niên là đạo đức cách mạng, có đạo đức cách mạng mới làm tấm
gương sáng gương lôi cuốn quần chúng nhân dân. Trong bản “Di Chúc” Hồ Chí
Minh lưu ý: Đảng cần phải chăm lo giáo dục đạo đức cách mạng cho thanh niên,
tưởng Hồ Chí Minh về thanh niên và công tác thanh niên” Nxb Thanh niên, Hà
Nội,2006; Các tác giả Quang Vinh, Trần Kim Duyên, Văn Song với “Hồ Chí Minh
về giáo dục và tổ chức thanh niên” Nxb Thanh niên, Hà Nội,2005…
- “Tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức” do PGS.TS Thành Duy chủ biên. Đây là công
trình nghiên cứu vừa tổng hợp vừa có tính hệ thống. Công trình nằm trong chương trình
nghiên cứu tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh “KX 02.08”.
- Năm 1985 Bảo tàng Hồ Chí Minh tổ chức cuộc hội thảo khoa học Bác Hồ
với công tác thanh niên. Một số tham luận đó đã được chỉnh lý, biên tập và xuất bản
thành sách Bác Hồ với sự nghiệp bồi dưỡng thế hệ trẻ, Nxb Thanh niên, Hà nội.
- Mai Văn Bình (1991), Một số vấn đề thời đại và đạo đức, Trường đại học
sư phạm I Hà Nội.
- Nguyễn Văn Truy (chủ biên) (1993), Hồ Chí Minh về đạo đức, Nxb Chính
trị Quốc gia, Hà Nội.
- Phạm Khắc Chương, (1995) Một số vấn đề về giáo dục đạo đức và giảng
dạy đạo đức ở THPT, Vụ Giáo viên- Bộ Giáo Dục.
6
- Vũ Khiêu (1995), Nho giáo và đạo Đức, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội.
- Trần Hậu Khiêm (1995), Hỏi đáp về đạo đức học, Nxb Chính trị Quốc gia,
Hà Nội.
- Chủ tịch Hồ Chí Minh và sự nghiệp giáo dục (1997), Kỷ yếu hội thảo Khoa
học khu vực phía Nam - về nghiên cứu giáo dục phía Nam thuộc viện Khoa học
giáo dục Việt Nam xuất bản.
- Phạm Minh Hạc (1999), Về phát triển toàn diện con người thời kỳ công
nghiệp hóa, hiện đại hóa, Nxb Chính trị Quốc gia Hà Nội.
- Phạm Đình Nghiệp, (2000) Giáo dục lý tưởng cách mạng cho thế hệ trẻ
Việt Nam, Nxb thanh niên, Hà Nội.
- Nguyễn Trọng Chuẩn - Nguyễn Văn Phúc, (2003) Mấy vấn đề về đạo đức
trong điều kiện kinh tế thị trường ở nước ta hiện nay, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà
nội.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Tư tưởng Hồ Chí Minh về thanh niên, đạo đức, giáo
dục đạo đức cho thanh niên - sinh viên, thực trạng đạo đức và giáo dục đạo đức cho
sinh viên trường đại học Kỹ thuật Công nghiệp Thái Nguyên hiện nay.
- Phạm vi nghiên cứu: Những nội dung cơ bản tư tưởng Hồ Chí Minh về
thanh niên, đạo đức, giáo dục đạo đức cho thanh niên - sinh viên; luận văn chỉ tìm
hiểu thực trạng đạo đức và giáo dục đạo đức cho sinh viên trường Đại học Kỹ thuật
Công nghiệp Thái Nguyên hiện nay.
5. Cơ sở lý luận và phƣơng pháp nghiên cứu
5.1. Cơ sở lý luận: Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và các
quan điểm, đường lối của Đảng về thanh niên - sinh viên, đạo đức và giáo dục đạo
đức.
5.2. Phương pháp nghiên cứu: Luận văn sử dụng phương pháp của chủ
nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, chú trọng các phương pháp
8
phân tích, tổng hợp, so sánh, phương pháp lôgíc và phương pháp lịch sử, kết hợp
lôgíc với lịch sử, phương pháp điều tra xã hội học.
6. Dự kiến đóng góp mới của luận văn
- Góp phần nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh về thanh niên, đạo đức, giáo
dục đạo đức cho thanh niên - sinh viên.
- Chỉ rõ thực trạng đạo đức và giáo dục đạo đức cho sinh viên trường Đại
học Kỹ thuật Công nghiệp Thái Nguyên.
- Đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao hiệu quả giáo dục đạo
đức cho sinh viên trường Đại học Kỹ thuật Công nghiệp Thái Nguyên.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn
gồm 2 chương và 5 tiết
đại (Khổng Tử, Mặc tử, Mạnh Tử…) thì “đạo” có nghĩa là con đường, đường đi, là
đường sống của con người trong xã hội. “Đức” dùng để nói đến nhân đức, nhân tính
và đức là biểu hiện, nguyên tắc, luận lý của đạo. Theo đó, đạo đức chính là những
yêu cầu, những nguyên tắc do cuộc sống đặt ra mà con người phải tuân theo.
Các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác – Lênin cho rằng: “Đạo đức là một hình
thái ý thức xã hội, là tập hợp những quy tắc, nguyên tắc, chuẩn mực xã hội nhằm
điều chỉnh đánh giá cách ứng xử của con người trong quan hệ với nhau và quan hệ
với xã hội, chúng được thực hiện bởi niềm tin cá nhân, bởi truyền thống và sức
mạnh của dư luận”[17,tr.8]. Đạo đức là một hình thái ý thức xã hội đặc biệt bao
gồm hệ thống những quan điểm, quan niệm, quy tắc, nguyên tắc, chuẩn mực xã hội.
Nó ra đời, tồn tại và biến đổi theo yêu cầu của xã hội trong từng giai đoạn lịch sử cụ
thể, nhờ đó con người tự giác điều chỉnh hành vi của mình cho phù hợp với lợi ích,
hạnh phúc của xã hội.
Chủ tịch Hồ Chí Minh sử dụng khái niệm “đạo đức” theo cả nghĩa rộng và
nghĩa hẹp:
Theo nghĩa rộng: đạo đức là một hình thái ý thức xã hội dùng để điều chỉnh
hành vi của con người cho phù hợp với lợi ích hạnh phúc và làm giàu tính nhân văn
trong quan hệ xã hội.
10
Theo nghĩa hẹp: đạo đức là những luân lí, chuẩn mực, quy tắc ứng xử trong
quan hệ giữa con người với con người, công việc, bản thân, với thiên nhiên và môi
trường sống.
Đạo đức là một phạm trù rất rộng được biểu hiện ở mọi mặt của đời sống xã
hội những với nghĩa thông thường nhất đạo đức được biểu hiện là tinh thần và hành
động vì người khác, vì nhân dân, vì xã hội, là tinh thần phục vụ nhân dân, phục vụ
người khác.
Tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh bắt nguồn từ truyền thống đạo đức của dân
tộc Việt Nam được hình thành trong trường kỳ lịch sử, đồng thời kế thừa lịch sử tư
tưởng đạo đức ở Phương Đông, Phương Tây, tinh hoa văn hóa nhân loại đặc biệt là
đức xã hội. Đạo đức là ở chỗ mình có nghiêm khắc với chính bản thân hay không?
Thái độ của mình đối với ông bà, bố mẹ, anh chị, em, đồng nghiệp, với Đảng, với
Nhà nước, quần chúng , kẻ thù…như thế nào? Có hết lòng, toàn tâm, toàn ý đối với
công việc hay không? Trong thư gửi đồng chí Hoàng Mai - Giám đốc Sở công an
Khu XII, Người viết:
Tư cách người công an cách mạng là:
Đối với tự mình, phải cần, kiệm, kiệm, liêm, chính.
Đối với đồng sự, phải thân ái giúp đỡ.
Đối với Chính phủ, phải tuyệt đối trung thành.
Đối với nhân dân, phải kính trọng, lễ phép.
Đối với công việc, phải tận tụy.
Đối với địch, phải cương quyết, khôn khéo[24, tr.406-407].
Tất cả những hành động đó xác định đạo đức của mọi người, đạo đức không
phải chỉ những lý tưởng cao xa mà còn là thái độ, hành vi, việc làm cụ thể của mỗi
người trong cuộc sống, linh hoạt, học tập, lao động, chiến đấu hàng ngày. Hồ Chí
Minh đặc biệt quan tâm tới đạo đức của người cán bộ, đảng viên. Trong suốt 24
năm trên cương vị Chủ tịch nước, Người luôn kiên trì việc giáo dục đạo đức mới,
đạo đức cách mạng cho người cán bộ, đảng viên nhằm ngăn chặn, khắc phục những
hiện tượng tha hóa có thể hoặc đã xảy ra, nhất là để chống lại những khuynh hướng
sai lệch về quyền lực (quan liêu, lạm dụng quyền lực), các tệ nạn có thể trở thành
nguy cơ làm sụp đổ sự nghiệp của một người, thậm chí của cả một Đảng.
Hồ Chí Minh đã nêu những nội dung, những chuẩn mực chung có ý nghĩa cơ
bản và có tính phổ cập đối với mọi người, mọi tầng lớp, đồng thời Người cũng chỉ
rõ những chuẩn mực cụ thể đối với từng tầng lớp như: công nhân, nông dân, thanh
niên, phụ nữ, thiếu niên, nhi đồng, bộ đội, công an … Song đối tượng Người chú ý
nhiều nhất là đạo đức của người cách mạng, người cán bộ, đảng viên.
Hồ Chí Minh xem đạo đức là nền tảng của người cách mạng, cũng giống như
gốc của cây, ngọn nguồn của sông, của suối. Người cán bộ đảng viên càng cần phải
có đạo đức cách mạng. Vì “không có đạo đức thì dù tài giỏi mấy cũng không lãnh
đạo được nhân dân” [24, tr.253]. Theo Người, lãnh đạo không phải là ra lệnh mà
người cao thượng”[26, tr.568]. Bác không dựa vào chức vụ, thu nhập để đánh giá,
tôn vinh con người mà dựa chủ yếu vào đạo đức bởi khi đánh giá, xem xét một con
người không chỉ dựa vào trình độ, năng lực mà phải căn cứ vào hành vi đạo đức họ
thực hiện ở mọi lúc, mọi nơi. Hồ Chí Minh dùng hành vi đạo đức làm tiêu chí để
đánh giá và phân loại con người, Người khẳng định: “Trên quả đất có hàng muôn
triệu người, song số người ấy có thể chia thành hai hạng người thiện và người
ác”[24, tr.643]. Hồ Chí Minh lấy đạo đức làm trung tâm để đánh giá phân loại con
13
người vì đạo đức giữ vai trò rất quan trọng trong đời sống xã hội, đạo đức thuộc ý
thức xã hội và chịu sự chi phối của tồn tại xã hội, các chuẩn mực đạo đức được hình
thành, thay đổi cùng với sự thay đổi của các điều kiện kinh tế - xã hội. Nhưng đạo
đức có tính độc lập tương đối, tác động trở lại, tham gia cải biến tồn tại xã hội, ảnh
hưởng mạnh mẽ tới sự nghiệp cải tạo xã hội cũ và xây dựng xã hội mới.
Đạo đức tham gia vào mọi mặt của đời sống xã hội, điều chỉnh xã hội một
cách toàn diện về mọi mặt: kinh tế, chính trị, văn hóa xã hội, là động cơ thôi thúc
con người chống lại những cái ác cái xấu đồng thời giữ gìn, phát triển những cái tốt,
cái thiện góp phần ổn định xã hội. Tuy nhiên, bên cạnh mặt tích cực thì đạo đức còn
những tiêu cực như tính bảo thủ, trì trệ làm xã hội kém phát triển được cần được
khắc phục.
Đối với con người, nhất là đối với người cách mạng, Hồ Chí Minh coi đạo đức
cách mạng là gốc, là nền tảng, là ngọn nguồn của sức mạnh. Người viết: “Cũng như
sông thì có nguồn mới có nước, không có nguồn thì sông cạn, cây phải có gốc,
không có gốc thì cây héo. Người cách mạng phải có đạo đức, không có đạo đức thì
dù tài giỏi đến mấy cũng không lãnh đạo được nhân dân. Vì muốn giải phóng dân
tộc, giải phóng cho loài người là công việc to tát, mà tự mình không có đạo đức
không có căn bản, tự mình đã hủ hóa, xấu xa thì còn làm nổi việc gì”[24, tr.252].
Hồ Chí Minh khẳng định đạo đức là ngọn nguồn của sức mạnh vì theo Người,
làm cách mạng để cải tạo xã hội cũ thành xã hội mới là sự nghiệp vẻ vang nhưng nó
cũng là nhiệm vụ rất nặng nề, một cuộc đấu tranh phức tạp, lâu dài, gian khổ, sức có
gì cả. Những thanh niên không có phương tiện thì không dám rời quê, còn những kẻ
đã xuất dương thì chỉ nghĩ đến việc thỏa mãn tính tò mò của tuổi trẻ mà thôi. Hởi
Đông Dương đáng thương hại! Người sẽ chết mất nếu đám thanh niên của Người
không hồi sinh”[21, tr132-133].
Từ sự nhìn nhận đó, Hồ Chí Minh quyết tâm thức tỉnh, giác ngộ, tổ chức giáo
dục thanh niên đưa thanh niên bước vào cuộc đấu tranh cách mạng. Người khẳng
định:
“Thanh niên là một bộ phận của dân tộc. Dân tọc bị nô lệ thì thanh niên cũng bị
nô lê. Dân tộc được giải phóng thì thanh niên mới được tự do. Nước nhà thinh hay
suy, yếu hay mạnh một phần lớn là do thanh niên, đặc biệt là phải rèn luyện cho
thanh niên những nhân cách đạo đức, coi đó là phẩm chất tiêu biểu nhất, là “cái
gốc” làm nên nhân cách con người. Vì vậy việc xây dựng con người mới nói chung,
các thế hệ thanh niên nói riêng là yêu cầu, đòi hỏi của sự nghiệp cách mạng”[30,
tr.75].
15
Ngay từ ngày nền độc lập còn non trẻ, Hồ Chí Minh đã phát động một cuộc cách
mạng triệt để trong lĩnh vực đạo đức. Để trở thành người cách mạng, mỗi thanh niên
phải rèn luyện đạo đức cách mạng, phải đấu tranh bền bỉ hàng ngày mà phát triển và
củng cố đạo đức ấy, cũng như ngọc càng mài càng sáng, vàng càng luyện càng
trong.
Hồ Chí Minh luôn nhấn mạnh đạo đức cách mạng cho thanh niên: Là chủ nghĩa
tập thể, nó phải đánh thắng và tiêu diệt chủ nghĩa cá nhân. Chí công vô tư cũng là
để xây dựng chủ nghĩa tập thể, để tiêu diệt chủ nghĩa cá nhân. Đó là yêu cầu quan
trọng trong quá trình xây dựng đạo đức mới, bởi vì lòng minhg chỉ biết vì Đảng, vì
tổ quốc, vì đống bào thì mình sẽ tiến đến chí công vô tư. Người quan niệm: “Thiện”
nghĩa là tốt đẹp vẻ vang, là phục vụ lợi ích cho nhân dân, hết lòng hết sức phục vụ
Tổ quốc, phụng sự nhân dân, chí công vô tư, cần, kiệm, liêm ,chính. “Ác” là không
lo cho lợi ích chung của Nhà nước, của dân tộc, quan liêu mệnh lệnh, tham ô lười
biếng, Như vậy, theo Người phẩm chất thanh niên con người dưới chế độ mới gồm
Hồ Chí Minh luôn đặt niềm tin, kỳ vọng vào thanh niên. Người xem vận
mệnh dân tộc phụ thuộc chặt chẽ vào tầng lớp thanh niên. Từ những năm 20 của thế
kỷ XX, trong thời gian hoạt động ở Pháp Người đã viết nhiều bài báo tố cáo tội ác
của thực dân Pháp gây ra ở Đông Dương và các nước thuộc địa, phụ thuộc. Người
vạch trần hậu quả của chính sách cai trị do thực dân Pháp thi hành ở Đông Dương,
đó chính là chính sách văn hóa nô dịch tàn tạ, mê muội thế hệ trẻ Việt Nam. Trong
tác phẩm “Bản án chế độ thực dân Pháp” xuất bản năm 1925 Người nêu rõ: “Hỡi
Đông Dương đáng thương hại! Người sẽ chết mất nếu đám thanh niên già cỗi của
Người không sớm được hồi sinh”[12, tr.133]. Theo Người. muốn giành được độc
lập dân tộc thì phải giác ngộ, hướng cuộc đấu tranh của quần chúng đi theo quỹ đạo
của cuộc cách mạng vô sản, trước hết phải giác ngộ thanh niên từ thức tỉnh thanh
niên tới thức tỉnh dân tộc. Thự hiện tư tưởng đó ngay khi tới Quảng Châu (1924)
Hồ Chí Minh trực tiếp gặp gỡ các thanh niên yêu nước trong nhòm “Tâm tâm xã”
và tổ chức ra nhóm cách mạng đầu tiên – Hội Việt Nam cách mạng thanh niên
nhằm quy tụ tất cả những thanh niên Việt Nam yêu nước, đầy nhiệt huyết vào trong
một tổ chức, giác ngộ chủ nghĩa Mác – Lênin giúp họ hiểu được vì sao phải làm
cách mạng và làm cách mạng như thế nào. Kết thúc khoa học các hội viên được đưa
về trong nước làm nhiệm vụ tuyên truyền, giác ngộ chủ nghĩa Mác – Lênin xây
17
dựng cơ sở cách mạng và lãnh đạo quần chúng đáu tranh. Đến cuối năm 1928
Hooin Việt Nam cách mạng thanh niên đề ra chủ trương “vô sản hóa” đưa hội viên
của mình vào các nhà máy, hầm mỏ, đồn điền cùng lao động với công nhân phát
triển nhanh chóng cả về số lượng, chất lượng, từ tự phát chuyển sang tự giác, vươn
lên trở thành lực lượng chính trị độc lập, giác ngộ và đi theo con đường cách mạng
vô sản, làm phá sản mọi tư tưởng của chủ nghĩa cải lương, đẩy lùi khuynh hướng
dân chủ tư sản của tổ chức Việt Nam Quốc Dân Đảng. Hội đã giáo dục, rèn luyện
được các hội viên, chiến sĩ cách mạng chân chính làm nòng cốt cho việc thành lập
Đảng sau này, làm tròn nhiệm vụ thức tỉnh dân tộc trong nửa cuối những năm 20
đầu của thế kỉ XX.
khách quan khoa học của Hồ Chí Minh đối với vai trò lịch sử mà các thế hệ thanh
niên đã đảm nhiệm.
1.1.3.3. Sự phát triển của xã hội phụ thuộc phần lớn vào thanh niên
Xuất phát từ điều kiện tự nhiên và giản dị ấy, hơn ai hết Người vô cùng yêu
quý thanh niên(TN), bởi TN là người tiếp sức cách mạng cho thế hệ thanh niên già,
đồng thời là người dìu dắt thế hệ TN tương lai. Nhưng không phải vì yêu quý, tin
tưởng thanh niên mà Người đánh giá thiếu khách quan, thiếu toàn diện, thiên lệch
và cảm tính về họ. Ngay từ tác phẩm “Đường cách mệnh”, Người đặt vấn đề phải
cấp bách tổ chức TN Cộng sản đoàn ở Đông Dương để thực hiện các chủ trương,
đường lối để tổ chức và giáo dục TN, nhi đồng thành những chiến sỹ tuyệt đối trung
thành với sự nghiệp cách mạng giành độc lập tự do cho dân tộc. Không phải ngẫu
nhiên tổ chức Cộng sản đầu tiên ở Việt Nam mang tên Thanh niên (thanh niên Cộng
sản liên đoàn) và tờ báo cách mạng đầu tiên ra đời ngày 21/06/1925 là tờ “Thanh
niên”. Sau này, Người tiếp tục khẳng định: Thanh niên là thế hệ anh hùng trong
thời đại anh hùng và luôn mong mỏi họ phấn đấu, rèn luyện để xứng đáng là những
người anh hùng trong sự nghiệp đấu tranh giành độc lập dân tộc và xây dựng
CNXH.
Cuộc kháng chiến chống Thực dân Pháp thắng lợi, đất nước vẫn tạm thời bị
chia cắt, tình hình kinh tế, chính trị, xã hội ở miền Bắc đang gặp vô vàn khó khăn,
nhưng Hồ Chí Minh vẫn son sắt tin tưởng rằng, với một thế hệ TN hăng hái kiên
19
cường chúng ta nhất định thành công trong sự nghiệp bảo vệ miền Bắc, giải phóng
miền Nam, thống nhất đất nước. trong bối cảnh miền Bắc bước vào công cuộc xây
dựng CNXH để làm hậu phương vững chắc cho cuộc kháng chiến ở miền Nam.
Trong bối cảnh lịch sử đó, Hồ Chí Minh đã nhìn nhận TN là lớp người xung phong
trong công cuộc phát triển kinh tế, văn hóa, trong sự nghiệp xây dựng CNXH, là lực
lượng cơ bản trong bộ đội công an và dân quân tự vệ đang hăng hái giữ gìn trật tự
trị an, bảo vệ Tổ quốc. Người khẳng định: Trong mọi việc, thanh niên thi đua thực
hiện khẩu hiệu: “Đâu cần thanh niên có, đâu khó có thanh niên”[20, tr.32].
một lực lượng to lớn và vững chắc trong cuộc kháng chiến và kiến quốc, đồng thời
phải vui vẻ và hoạt bát. Người mong toàn thể các cháu nam nữ TN cố gắng làm tròn
nhiệm vụ để xứng đáng với cái huy hiệu tươi đẹp và vẻ vang ấy. Qua thực tiễn, Hồ
Chí Minh vui mừng khắng định: “Là người theo dõi để tổ chức thanh niên từ bước
đầu hiếm hoi chỉ có 8 cháu, ngày nay từng thấy có hàng triệu đoàn viên thanh
niên… một thế hệ thanh niên hăng hái và kiên cường, chúng ta nhất định thành
công trong sự nghiệp bảo vệ miền Bắc, giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ
quốc”[21, tr.35].
Những quan điểm của Hồ Chí Minh về vị trí, vai trò của TN trong tiến trình
lịch sử dân tộc và lịch sử cách mạng thể hiện rõ tư tưởng chiến lược của Người,
Đảng, Nhà nước và nhân dân ta luôn coi trọng việc xây dựng lực lượng chính trị
trong TN, rèn luyện và đào tạo toàn diện để họ trở thành nguồn sinh lực mới cho
Đảng, kế tục xuất sắc sự nghiệp các mạng vẻ vang. Trong công tác giáo dục TN,
trước hết phải giáo dục họ sống có lý tưởng, có ý chí quyết tâm cao, kiên trì, khổ
luyện, vượt qua mọi khó khăn gian khổ. Người căn dặn TN: “Không có việc gì khó,
chỉ sợ lòng không bền, đào núi và lấp biển, quyết chí ắt làm nên”[25, tr.95]. Điều gì
phải thì cố làm cho kỳ được dù là việc nhỏ, điều gì trái thì hết sức tránh dù là điều
nhỏ. Nhiệm vụ của người TN trí thức là học, học để phụng sự Tổ quốc, học để
phụng sự nhân dân làm cho dân giàu nước mạnh. Đối với TN thì cần phải đặt câu
hỏi học để làm gì? Học để phụng sự ai? Học phải đi đôi với hành, chỉ biết lao động
trí óc mà không biết lao động chân tay, chỉ biết lí luận mà không biết thực hành thì
21
tri thức ấy mới đạt được một nửa. Người nhấn mạnh phải giáo dục đạo đức cho TN
để họ vừa “hồng” vừa “chuyên”.
Như vậy, Hồ Chí Minh đã nhìn nhận đánh giá TN theo quan điểm thực tiễn
và phát triển. Người thấy rõ những ưu điểm của họ, coi họ là bộ phận quan trọng
của dân tộc, là lực lượng nòng cốt để xây dựng CNXH, đồng thời cũng chỉ ra những
nhược điểm, yếu kém của TN. Để khắc phục tất cả những nhược điểm ấy, theo
Người phải tổ chức TN lại đưa họ vào sự nghiệp cách mạng, qua đó giáo dục họ
mạng dân tộc. Việc chăm lo giáo dục, dìu dắt các em thiếu niên, nhi đồng là chiến
lược đào tạo đội ngũ kế cận chuẩn bị cho tương lai.
Thanh niên có một vai trò rất lớn trong việc tổ chức, hướng dẫn, dìu dắt thiếu
niên, nhi đồng, giúp đỡ các em học tập, vui chơi lành mạnh tránh những tác động
xấu ở bên ngoài xã hội. “Đoàn thanh niên Lao động là cánh tay đắc lực của Đảng
trong việc tổ chức và giáo dục thế hệ thanh niên và nhi đồng thành những chiến sĩ
tuyệt đối trung thành với sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng
sản”[29, tr.21].
Trong các bài nói, bài viết của Hồ Chí Minh đã đề cập về mối quan hệ giữa
Đảng với tổ chức Đoàn. Trong tác phẩm “Đường cách mệnh”, Người viết: “Đường
chính trị, thì thanh niên theo Đảng chỉ huy, nhưng việc làm thì thanh niên độc
lập”[19, tr.295]. Có nghĩa là , Đoàn thanh niên do Đảng cỗng sản lãnh đạo và phải
lấy mục tiêu, lý tưởng của Đảng làm tôn chỉ hoạt động của tổ chức mình nhưng
Đoàn thanh niên hoàn toàn tự chủ trong việc đề ra kế hoạch, chương trình hành
động.
Như vậy, theo Hồ Chí Minh thanh niên có vai trò vô cùng to lớn trong tiến
trình lịch sử cách mạng. Thanh niên là bộ phận quan trọng của dân tộc, là lực lượng
nòng cốt trong cách mạng giải phóng dân tộc và cách mạng xã hội chủ nghĩa. Vận
mệnh của dân tộc, tương lai của đất nước tùy thuộc vào phẩm chất và bản lĩnh của
thanh niên. Thanh niên là lực lượng to lớn, là đội quân xung kích trên mọi mặt trận,
là cánh tay đắc lực và đội hậu bị của Đảng. Thanh niên còn là lực lượng kế thừa và
tiếp bước các thế hệ cha anh trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.