Phát triển kỹ năng thúc đẩy cho giảng viên trường đại học kỹ thuật công nghiệp thái nguyên - Pdf 24

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

NGUYỄN THỊ VIỆT HÀ
PHÁT TRIỂN KỸ NĂNG THÚC ĐẨY
CHO GIẢNG VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC KỸ THUẬT
CÔNG NGHIỆP THÁI NGUYÊN

PHÁT TRIỂN KỸ NĂNG THÚC ĐẨY
CHO GIẢNG VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC KỸ THUẬT
CÔNG NGHIỆP THÁI NGUYÊN Chuyên ngành: Giáo dục học
Mã số: 60 14 01 LUẬN VĂN THẠC SỸ GIÁO DỤC HỌC

Người hướng dẫn khoa học
: TS. NÔNG KHÁNH BẰNG
THÁI NGUYÊN, NĂM 2012
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 2i

LỜI CAM ĐOAN


hoàn thành luận văn này.
Đặc biệt, xin được bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc đến TS.
Nông Khánh Bằng, Thầy đã trực tiếp hướng dẫn tôi thực hiện và hoàn thành
luận văn này.
Tác giả luận văn
Nguyễn Thị Việt Hà Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 4iii

MỤC LỤC
Trang
Trang bìa phụ
Lời cam đoan i
Lời cảm ơn ii
Mục lục iii
Danh mục các kí hiệu, các chữ viết tắt vi
MỞ ĐẦU 1

Chương 1. NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN KỸ NĂNG
THÚC ĐẨY 6

1.1. TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN ĐỀN
ĐỀ TÀI 6

1.1.1 Trên thế giới 6



Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 5iv

2.1.2. Khoa Khoa học Cơ bản (KHCB) 35

2.2. THỰC TRẠNG VỀ MỨC ĐỘ VÀ CÁC BIỆN PHÁP PHÁT
TRIỂN KỸ NĂNG THÚC ĐẨY CHO GIẢNG VIÊN TRƯỜNG
ĐHKTCN – ĐHTN 37

2.2.1. Thực trạng về mức độ sử dụng các kỹ năng thúc đẩy và hoạt
động bồi dưỡng phát triển kỹ năng thúc đẩy cho GV - ĐHKTCNTN 37

Kết luận chương 2 44

Chương 3. BIỆN PHÁP PHÁT TRIỂN KỸ NĂNG THÚC ĐẨY CHO
GIẢNG VIÊN TRƯỜNG ĐHKTCNTN 45

3.1. CÁC NGUYÊN TẮC XÂY DỰNG BIỆN PHÁP PHÁT TRIỂN
KỸ NĂNG THÚC ĐẨY CHO GV 45

3.1.1. Nguyên tắc đảm bảo tính mục đích 45

3.1.2. Nguyên tắc đảm bảo tính hệ thống 46

3.1.3. Nguyên tắc đảm bảo tính thực tiễn 46

3.2. BIỆN PHÁP PHÁT TRIỂN KỸ NĂNG THÚC ĐẨY CHO GV –


DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 65

PHỤ LỤC 70
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 7vi

NHỮNG TỪ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN
Từ viết tắt Xin đọc là
ĐC Đối chứng
CBQL Cán bộ quản lý
ĐH Đại học
ĐDDH Đồ dùng dạy học
GDĐH Giáo dục đại học
GS Giáo sư
GV Giảng viên
SV Sinh viên
HT Học tập
TĐ Thúc đẩy
KN Kỹ năng
PGS Phó giáo sư
PPDH Phương pháp dạy học
SGK Sách giáo khoa
TBDH Thiết bị dạy học
TCGD Tạp chí Giáo dục

thống giáo dục quốc dân đã đặt ra cho ngành giáo dục và đào tạo nhiệm vụ có
tính chiến lược trong việc nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo và cán bộ
quản lý giáo dục trong giai đoạn hiện nay.
Có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng giáo dục, nhưng trong đó
chất lượng đội ngũ giảng viên phải là yếu tố được quan tâm đầu tiên. Chất
lượng giảng viên ngày nay được hiểu đầy đủ hơn trước, bao gồm đạo đức
nghề nghiệp, tư tưởng chính trị, năng lực sư phạm và năng lực chuyên môn,
trong đó năng lực sư phạm và năng lực chuyên môn là những yếu tố động
nhất, bởi nó phải đáp ứng thường xuyên yêu cầu đổi mới chương trình giáo
dục ở các cấp học. Điều đó cũng có nghĩa là nền tảng năng lực nghề nghiệp
được đào tạo ở trường sư phạm của giảng viên (GV) phải được phát triển
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 92

không ngừng theo sự thay đổi của mục tiêu, nội dung và phương pháp dạy
học trong nhà trường, bằng việc bổ sung hoàn thiện những kỹ năng phù hợp
hơn, hiệu quả hơn, dựa trên các quan điểm dạy học hiện đại.
Chương trình GDĐH hiện nay thể hiện rất rõ định hướng vận dụng các
phương pháp dạy học (PPDH) hiện đại, có tính năng động và có tính xã hội
hóa cao, có chức năng tích cực hóa người học, khuyến khích học tập, phát
triển kỹ năng xã hội của người học. Có như vậy, dạy học mới giúp hình thành
ở sinh viên (SV) kỹ năng học tập hiệu quả, kỹ năng sống trong sinh hoạt và
hoạt động thực tiễn. Kỹ năng sống của sinh viên đại học được cộng đồng thế
giới xem như yếu tố hạt nhân của chất lượng giáo dục. Thiếu kỹ năng sống,
người học không thể được xem là đã được giáo dục tốt.
Để đáp ứng yêu cầu đổi mới PPDH ở cấp ĐH giảng viên và sinh viên
đều phải đổi mới cách dạy, cách học nhằm nâng cao chất lượng dạy học. Dạy
học tích cực là một trong những hướng tiếp cận quan trọng trong đổi mới

Với những lý do nêu trên, chúng tôi sẽ đi sâu nghiên cứu vấn đề: "Phát
triển kỹ năng thúc đẩy cho giảng viên Trường ĐHKTCN Thái Nguyên"
và lấy đó làm để tài thực hiện Luận văn thạc sỹ của mình.
2. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU
Xây dựng biện pháp phát triển kỹ năng thúc đẩy cho giảng viên trường
ĐHKTCN ĐHTN .
3. KHÁCH THỂ VÀ ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
3.1. Khách thể nghiên cứu
Hoạt động bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm cho GV KHOA KHCB –
ĐHKTCN
3.2. Đối tượng nghiên cứu
Quá trình phát triển và bồi dưỡng kỹ năng thúc đẩy cho GV ĐHKTCN
4. GIẢ THUYẾT KHOA HỌC
Năng lực dạy học tích cực và chất lượng hoạt động giảng dạy của giảng
viên sẽ được nâng cao, nếu xây dựng được một hệ thống biện pháp phát triển
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 114

kỹ năng thúc đẩy cho đội ngũ giảng viên dựa trên cơ sở lý luận dạy học xác
đáng và những đặc điểm hoạt động bồi dưỡng giảng viên của các trường ĐH.
5. NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU
5.1. Xác định cơ sở lý luận và thực tiễn của việc phát triển các kỹ năng thúc
đẩy.
5.2. Xác định hệ thống kỹ năng thúc đẩy GVĐH dựa trên những nguyên tắc
và yêu cầu DHTC.
5.3. Đề xuất các biện pháp phát triển kỹ năng thúc đẩy cho GVĐH trong quá
trình bồi dưỡng giảng viên.
5.4. Tổ chức khảo nghiệm và đánh giá các biện pháp phát triển kỹ năng thúc

8. CẤU TRÚC LUẬN VĂN
Ngoài phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị, Luận văn gồm có 3 chương:
Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN KỸ NĂNG
THÚC ĐẨY
Chương 2: THỰC TRẠNG KỸ NĂNG THÚC ĐẨY CỦA GIẢNG VIÊN
TRƯỜNG ĐHKTCN - ĐHTN
Chương 3: BIỆN PHÁP PHÁT TRIỂN KỸ NĂNG THÚC ĐẨY CHO GIẢNG
VIÊN TRƯỜNG ĐHKTCNTN
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 136

Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN
KỸ NĂNG THÚC ĐẨY

1.1. TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN ĐỀN ĐỀ TÀI
1.1.1 Trên thế giới
Liên xô và các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu trước đây đã có nhiều công
trình nghiên cứu về cấu trúc nhân cách nói chung và cấu trúc năng lực nói riêng
của người giáo viên mới ra trường và sự hoàn thiện nó trong quá trình công tác .
Đầu những năm 60, vấn đề rèn luyện nghiệp vụ sư phạm mới trở thành hệ
thống lý luận với công trình nghiên cứu của O.A.apđulia “Bàn về kỹ năng sư
phạm”. Trong công trình này, tác giả rõ từng loại kỹ năng chung và kỹ năng
chuyên biệt trong hoạt động giảng dạy và giáo dục [2]. Công trình của
F.N.Gônôbôlin “Những phẩm chất tâm lý của người giáo viên” đã nêu ra những
năng lực sư phạm mà sinh viên cần rèn luyện và phát triển , cách rèn luyện chung
như thế nào để trở thành một người giáo viên [31].
Những năm 70 của thế kỷ XX, có nhiều công trình nghiên cứu về tổ chức

Những năm gần đây có công trình nghiên cứu của một số tác giả như:
Nguyễn Như An, Trần Anh Tuấn, Phan Thanh Long , Trần Thị Hương …Nhìn
chung hầu hết các công trình nghiên cứu trên đã đưa ra được hệ thống kỹ năng
dạy học cơ bản cần thiết trong quá trình đào tạo và bồi dưỡng GV. Nhìn chung các
tác giả đều đã nghiên cứu phần lý luận về kỹ năng dạy dạy học đã đề xuất một số
biện pháp phát triển kỹ năng dạy học phù hợp với đặc điểm của từng trường ở các
vùng miền khác nhau.
Có nhiều Dự án, chương trình… hướng vào việc nâng cao năng lực dạy
học tích cực cho giáo viên các trường phổ thông và giảng viên các trường ĐH,
CĐ, như dự án Việt – Bỉ , dự án "đối tác học tập" (Partnes in Learning) của
Microsoft… Nội dung các hoạt động của các dự án, chương trình trên tập trung
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 158

vào việc bồi dưỡng nâng cao năng lực tổ chức hoạt động dạy học và giáo dục
trong nhà trường.
Việc kế thừa những thành tựu nghiên cứu ở các nước trên thế giới và
trong nước là nền tảng quan trọng giúp cho chúng tôi có cơ sở tiếp tục nghiên
cứu, vận dụng để đề xuất các biện pháp phát triển kỹ năng dạy học nói chung
và kỹ năng thúc đẩy nói riêng cho GVĐH.
1.2. ĐẶC ĐIỂM, BẢN CHẤT CỦA QUÁ TRÌNH DẠY HỌC ĐẠI HỌC
1.2.1. Đặc điểm và bản chất của quá trình dạy học nói chung
Dạy học là một khoa học và cũng là một nghệ thuật. Dạy học đại học
lại càng cần có tính khoa học và tính nghệ thuật cao.
Dạy học đại học là dạy nhận thức (Cognitive), dạy kĩ năng.
(Psychomotor) và dạy cảm nhận (Affective). Tùy theo khoa học (Tự nhiên
hay Xã hội – Nhân văn, Cơ bản hay Công nghệ, Kỹ thuật …), và tuỳ theo
mục tiêu đào tạo (Đại học hay Sau đại học, chuyên môn hay nghiệp vụ, …)

phương pháp, phương tiện dạy học đại học, hình thức dạy học đại học, hoạt
động của người dạy và người học. Mỗi nhân tố có vị trí xác định, có chức
năng riêng, vận động theo quy luật riêng nhưng chúng có mối quan hệ chặt
chẽ với nhau, tác động qua lại trong môi trường đại học - xã hội, môi trường
khoa học - kỹ thuật của thời đại. Trong các nhân tố cấu trúc của quá trình dạy
học đại học, hoạt động phối hợp chặt chẽ giữa hai chủ thể - người dạy và
người học được coi là nhân tố trung tâm, quyết định chất lượng và hiệu quả đào tạo.
Giảng viên với vai trò là chủ thể của hoạt động giảng dạy, là người
được đào tạo cơ bản về nghiệp vụ sư phạm, người nắm vững kiến thức khoa
học chuyên ngành, phát huy phẩm chất và năng lực sư phạm để tổ chức thành
công hoạt động của mình. Chất lượng đào tạo của nhà trường phụ thuộc phần
lớn vào trình độ năng lực, phẩm chất, đạo đức nghề nghiệp của mỗi giảng
viên. Bởi lẽ, giảng viên giữ vai trò chủ đạo trong toàn bộ quá trình dạy học
đại học, là chủ thể tác động vào mọi nhân tố của quá trình dạy học đại học,
chi phối các nhân tố, nhằm phát huy sức mạnh của các nhân tố khác. Giảng
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 1710

viên chính là người xây dựng và thực thi mục đích, kế hoạch dạy học đại học;
tổ chức cho người học thực hiện hoạt động học tập dưới mọi hình thức, trong
thời gian và không gian khác nhau; hướng dẫn thực hành, giải quyết những
công trình nghiên cứu đã chỉ ra rằng: Cho dù mục tiêu dạy học đại học, nội
dung dạy học đại học, phương tiện dạy học đại học, các điều kiện có tốt đến
mấy nhưng người dạy yếu kém về chuyên môn, suy thoái về nhân cách thì
chất lượng đào tạo không thể nâng lên được, không đáp ứng được nhu cầu,
nguyện vọng của người học. Ngược lại, nếu đội ngũ giảng viên có phẩm chất
đạo đức nghề nghiệp tốt, có trình độ chuyên môn cao thì ngay trong những
điều kiện giảng dạy khó khăn, thiếu thốn, họ vẫn có thể khắc phục khó khăn,

tế đã chứng minh rằng: Nếu người học không có nhu cầu học tập, không có
động cơ học tập trong sáng, không cố gắng vươn lên, không tập trung suy
nghĩ, không chú ý lắng nghe thì cho dù thầy giỏi, uyên thâm về kiến thức,
chuyên môn nghiệp vụ thì dạy học đại học khó đạt được kết quả tốt và như
vậy chẳng khác gì “ nước đổ lá khoai” hay “ chữ thầy lại trả thầy”. Việc học
tập do chính người học thực hiện một cách có ý thức, chủ động mới là con
đường để mỗi người tự làm giàu kiến thức, tự biến đổi bản thân, tạo cơ hội để
trở thành người lao động tự chủ, sáng tạọ. Người giảng viên trong quá trình
giảng dạy phải làm cho sinh viên hiểu được sự cần thiết phải học, muốn học,
phải tạo ra hứng thú, sự ham thích đối với việc học. Khi sinh viên đã muốn
học, phát huy sức mạnh thể chất, tinh thần, biết được cách học thì chính họ mới là
người quyết định trực tiếp chất lượng đào tạo trong nhà trường hiện nay.
Tuy nhiên, khẳng định vai trò quyết định của người học không có nghĩa
là hạ thấp vai trò của người dạy. Để đạt được hiệu quả của hoạt động giáo dục
- đào tạo, cần có sự phối hợp hài hòa, tích cực giữa chủ thể của hoạt động dạy
và chủ thể của hoạt động học, giữa giảng viên và sinh viên. Trong đó, hoạt
động dạy điều khiển hoạt động học, hoạt động học tuân thủ hoạt động dạy.
Hoạt động dạy và hoạt động học luôn được thực hiện đồng thời với cùng một
nội dung, hướng tới cùng một mục đích. Việc dạy tốt sẽ tạo điều kiện cho học
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 1912

tốt, việc học tốt đòi hỏi phải dạy tốt. Nếu hai hoạt động này tách rời, chỉ có
hoạt động của người dạy hoặc chỉ có hoạt động của người học sẽ không tồn
tại quá trình dạy học đại học, và dĩ nhiên sẽ không còn ý nghĩa gì khi bàn đến
chất lượng đào tạo. Sự tác động qua lại giữa người dạy và người học, giữa
giảng viên và sinh viên là mối quan hệ biện chứng, ràng buộc lẫn nhau, phụ
thuộc lẫn nhau, cùng hướng tới mục đích chung - vì người học, hoàn thiện

thân mình. Sinh viên học tập để tiếp thu các tri thức khoa học, hình thành
những kỹ năng, kỹ xảo nghề nghiệp, phát triển những phẩm chất nhân cách
người chuyên gia tương lai.
Nét đặc trưng tâm lý trong hoạt động học tập của sinh viên là nhịp độ
căng thẳng, mạnh mẽ về trí tuệ; Hoạt động học tập của sinh viên mang tính
độc lập cao. Cái cốt lõi của hoạt động học tập của sinh viên là sự tự ý thức về
động cơ mục đích, biện pháp học tập.
Nhiệm vụ cốt lõi của mỗi sinh viên là “Học chữ, học tri thức, kỹ
năng’’-“Học nghề và thích ứng với thực tiễn,xã hội”- “Học làm người”. Sự
kết hợp nhuần nhuyễn, đan xen nhau giữa ba nhiệm vụ ấy sẽ giúp cho mỗi
sinh viên có được sự phát triển hài hoà, cân đối trong quá trình phấn đấu trở
thành người giáo toàn diện, mẫu mực.
Trong các hoạt động học tập trên lớp, sinh viên phải tiếp thu những
khái niệm khoa học cơ bản và khoa học giáo dục để họ có thể phát triển
những khả năng trí tuệ và nghiệp vụ nghề làm thầy, sau này khi ra trường có
thể làm việc được một cách độc lập.
Con đường nhận thức của con người, đặc biệt là những người gắn bó
với khoa học, với quá trình học tập nghiên cứu thường theo xu hướng hoạt
động để tích luỹ kinh nghiệm, trau dồi kiến thức và hình thành phương pháp.
Đây cũng chính là sự thể hiện bản chất của quá trình dạy học và chức năng
của giáo dục của các trường sư phạm. Hoạt động học tập của sinh viên trên
lớp thường diễn ra trong sự phối hợp nhịp nhàng giữa dạy và học, thể hiện sự
tương hỗ giữa thầy và trò, trò với trò, cá nhân với tập thể hay ngược lại. Hoạt
động học tập của sinh viên trên lớp bao gồm:
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 2114

- Sự chú ý lắng nghe (nghe giảng, nghe đặt câu hỏi hay các tình huống

- Quá trình chuyển biến từ trạng thái này sang trạng thái khác hoàn
thiện hơn; chuyển từ trạng thái chất lượng cũ sang tình trạng chất lượng mới,
từ đơn giản đến phức tạp, từ thấp đến cao.
- Phát triển là sự trải qua quá trình tăng trưởng hay lớn lên tự nhiên,
phân hóa hoặc tiến hóa tự nhiên với những thay đổi liên tục kế tiếp nhau.
- Phát triển là sự tăng trưởng, mở rộng, tiến hóa một cách từ từ hoặc là
kết quả của những nguyên nhân.
Chúng tôi tiếp cận khái niệm phát triển theo hướng cải thiện tình trạng
chất lượng cũ sang tình trạng chất lượng mới cho những đối tượng cần được
phát triển, giúp họ nâng cao về nhận thức và kỹ năng hoạt động trên cơ sở,
những kiến thức, kỹ năng đã có, thông qua học tập, rèn luyện để bổ sung,
hoàn thiện, phát triển năng lực và kỹ năng hoạt động theo yêu cầu, mục tiêu
cần đạt.
1.3.2. Khái niệm bồi dưỡng
Về bồi dưỡng, theo quan niệm của UNESCO: Bồi dưỡng với ý nghĩa
nâng cao nghề nghiệp, quá trình này chỉ diễn ra khi cá nhân và tổ chức có nhu
cầu nâng cao kiến thức hoặc kỹ năng chuyên môn, nghiệp vụ của bản thân nhằm
đáp ứng nhu cầu lao động nghề nghiệp. Đại Từ điển Tiếng Việt do Nguyễn Như
Ý chủ biên: Bồi dưỡng là làm tăng thêm năng lực hoặc phẩm chất [60].
Chúng tôi cho rằng: Bồi dưỡng chính là quá trình bổ sung kiến thức,
chuyên môn, nghiệp vụ và các kỹ năng tương ứng nhằm phát triển năng lực
và phẩm chất cho đối tượng bồi dưỡng. Chủ thể bồi dưỡng là những người đã
được đào tạo và có một trình độ chuyên môn nhất định. Bồi dưỡng thực chất
là quá trình cập nhật kiến thức, kỹ năng mới nhằm nâng cao trình độ chuyên
môn, nghiệp vụ trong lĩnh vực hoạt động. Nếu như ở trường sư phạm, GV là
sản phẩm đào tạo được trang bị kiến thức, chuyên môn, nghiệp vụ làm nền
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 2316

17

tính đến những điều kiện nhất định, theo Ông, một người có kỹ năng hành
động là phải nắm được và vận dụng đúng đắn các cách thức của hành động và
thực hiện hành động có kết quả. Platônôv, K.K. cũng khẳng định: “Cơ sở tâm
lý của kỹ năng là sự thấu hiểu mối liên hệ giữa mục đích và hành động, các
điều kiện và phương thức hành động. Pêtrôxki, A.V. cũng định nghĩa: “Kỹ
năng là sự vận dụng tri thức, kỹ xảo đã có để lựa chọn và thực hiện những
phương thức hành động tương ứng với mục đích đề ra.
Theo Đặng Thành Hưng, kỹ năng là những dạng chuyên biệt của năng
lực nhằm thực hiện hành động cá nhân. Năng lực luôn được xem xét trong
mối quan hệ với một dạng hoạt động nhất định. Năng lực phải được cấu thành
bởi ba thành tố căn bản: tri thức về lĩnh vực hoạt động và cách tiến hành; kỹ
năng tiến hành hoạt động; những điều kiện tâm lý để tổ chức thực hiện tri
thức và kỹ năng trong một cơ cấu thống nhất và có định hướng cụ thể [44].
Một trong 3 cấu tạo tâm lý nói trên khi tách riêng ra đều là những dạng
chuyên biệt của năng lực: Có loại năng lực ở dạng tri thức (năng lực hiểu
biết), có loại năng lực ở dạng kỹ năng (năng lực làm việc, hoạt động) và có
loại năng lực ở dạng xúc cảm (năng lực biểu cảm).
Chúng tôi tiếp cận kỹ năng nghiêng về năng lực của con người để thực
hiện các công việc có kết quả trong đó bao hàm cả quan niệm kỹ năng là kỹ
thuật hành động. Điều này đã chỉ ra cho ta thấy khi sự vận dụng tri thức vào
thực tiễn một cách thuần thục thì mới đạt được kết quả công việc có chất
lượng tốt. Muốn có kỹ năng, trước hết phải có kiến thức làm cơ sở cho việc
hiểu biết về nội dung công việc mà kỹ năng hướng vào và tri thức về bản thân
kỹ năng như qui trình luyện tập từng thao tác riêng lẻ cho đến khi thực hiện
một hành động đúng với mục đích đề ra.
Xét về tổng quát kỹ năng được hiểu là sự thực hiện hoạt động một cách
thành thạo, linh hoạt sáng tạo phù hợp với các mục tiêu trong những điều
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status