Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
1
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM
MÔNG THỊ MINH HƢỜNG
PHÁT TRIỂN MÔI TRƢỜNG DẠY HỌC TÍCH CỰC
Ở TRƢỜNG ĐẠI HỌC KỸ THUẬT CÔNG NGHIỆP THÁI NGUYÊN
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ GIÁO DỤC
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
2
Thái Nguyên - 2013
LỜI CẢM ƠN
Lời đầu tiên cho phép tôi bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới PGS. TS.
Nguyễn Thị Tính trường Đại học Sư phạm Thái Nguyên đã giúp đỡ và chỉ
dẫn tận tình cho tôi về định hướng đề tài, hướng dẫn tôi trong việc tiếp cận và
khai thác các tài liệu tham khảo cũng như chỉ bảo cho tôi trong quá trình tôi
viết luận văn và hoàn thành luận văn.
Tôi xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu, Ban chủ nhiệm khoa Tâm lý
- Giáo dục, khoa sau đại học trường Đại học Sư phạm Thái Nguyên đã tạo
mọi điều kiện thuận giúp tôi nghiên cứu và hoàn thành luận văn này.
Xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới các thầy, cô, đồng nghiệp và các
em sinh viên trường Đại học Kỹ thuật Công nghiệp Thái Nguyên đã tận tình
giúp đỡ, cung cấp nhiều thông tin và tư liệu quý giá cho tôi trong quá trình
học tập và thực hiện luận văn tốt nghiệp.
Cuối cùng tôi muốn bày tỏ lòng cảm ơn đối với bạn bè, người thân trong
gia đình đã ủng hộ và tạo mọi điều kiện hỗ trợ tôi học tập và hoàn thành luận
văn này.
TÁC GIẢ
Mông Thị Minh Hường Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
4
DANH MỤC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT Công nghiệp hóa – Hiện đại hóa
Giáo dục và đào tạo
Nghiên cứu khoa học
Đại học Kỹ thuật Công nghiệp Thái Nguyên
Đại học Thái Nguyên
Quản lý khoa học - Quan hệ quốc tế
Khoa học và công nghệ
Công nghệ thông tin
Thanh tra khảo thí và đảm bảo chất lượng giáo dục
Dạy học tích cực
CNH - HĐH
GD & ĐT
NCKH
ĐHKTCNTN
ĐHTN
QLKH - QHQT
KH & CN
CNTT
TTKT&ĐBCLGD
DHTC
NGƢỜI HD KHOA HỌC
PGS.TS. Nguyễn Thị Tính
TRƢỞNG KHOA TÂM LÝ
GIÁO DỤC
TS. Phùng Thị Hằng Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
7
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Giáo dục là động lực quan trọng thúc đẩy sự phát triển xã hội. Nhiệm
vụ hàng đầu của giáo dục hiện nay là nâng cao chất lượng giáo dục trong nhà
trường nhằm phát triển toàn diện nhân cách con người. Luật giáo dục 2005
của nước ta đã khẳng định: “Phát triển giáo dục là quốc sách hàng đầu nhằm
nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài”. Đó là con đường cơ
bản để CNH - HĐH đất nước. Giáo dục đại học là nhân tố giữ vai trò quan
trọng góp phần quyết định tốc độ phát triển kinh tế - xã hội, đào tạo nguồn
nhân lực cho đất nước.
Xã hội phát triển đặt ra các tiêu chí về phẩm chất và năng lực của con
Đề xuất các biện pháp phát triển môi trường dạy học tích cực nhằm
nâng cao chất lượng và hiệu quả của dạy học và giáo dục ở trường
ĐHKTCNTN, đáp ứng yêu cầu đổi mới thực tiễn giáo dục đại học hiện nay.
3. Khách thể và đối tƣợng nghiên cứu
3.1. Khách thể nghiên cứu: Môi trường dạy học ở trường đại học
3.2. Đối tượng nghiên cứu: Biện pháp phát triển môi trường DHTC tại
trường ĐHKTCNTN
4. Giả thuyết
Môi trường dạy học ảnh hưởng trực tiếp tới chất lượng dạy học ở đại
học, thực tế cho thấy môi trường dạy học ở trường ĐHKTCNTN hiện nay
chưa thực sự tạo động lực cho người dạy và người học vì vậy chất lượng dạy
học nói riêng, chất lượng đào tạo nói chung chưa cao. Nếu đề xuấ t mộ t số
biệ n phá p phù hợp nhằm phát triển môi trường DHTC ở trường ĐHKTCNTN
thì sẽ góp phần nâng cao chất lượng và hiệu quả của quá trình dạy học cũng
như quá trình giáo dục đào tạo trong nhà trường.
5. Phạm vi nghiên cứu
Môi trường dạy học gồm môi trường trong nhà trường và môi trường
ngoài nhà trường, vì thời gian có hạn, đề tài chỉ tập trung nghiên cứ u môi
trường DHTC trong trườ ng ĐHKTCNTN thông qua môi trường làm việc,
hoạt động dạy học của các giảng viên, sinh viên trong trường bao gồm các Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
9
yếu tố môi trường vật chất, môi trường nhóm lớp, môi trường tinh thần trong
nhà trường.
6. Nhiệm vụ nghiên cứu.
6.1. Nghiên cứu cơ sở lí luận về phát triển môi trường DHTC ở
trường đại học.
quan hệ trong nhà trường để tìm hiểu thực trạng môi trường DHTC. Qua đó
đánh giá mức độ phát triển của môi trường DHTC trong nhà trường.
7.2.4. Phƣơng phá p tổ ng kế t kinh nghiệ m.
Nghiên cứu báo cáo tổng kết của nhà trường về quá trình xây dựng môi
trường dạy học tích cực. Nghiên cứu về chương trình học, các phương pháp
dạy học tích cực, cơ sở vật chất và các mối quan hệ trong nhà trường …để bổ
sung thông tin về các vấn đề đã điều tra.
7.2.5. Phƣơng pháp lấy ý kiến chuyên gia
Trao đổi với các chuyên gia có nhiều kinh nghiệm nhằm tiếp thu ý kiến
của họ về tính cần thiết, tầm quan trọng và tính khả thi của các biện pháp đề
xuất để có những kết luận chính xác và định hướng vận dụng các biện pháp
đó vào trong thực tiễn.
7.3. Phƣơng pháp bổ trợ
Để có những nhận xét khách quan về kết quả nghiên cứu, chúng tôi đã
sử dụng phương pháp thống kê toán học sau:
* Tính số trung bình cộng:
Công thức:
n
x
X
n
1i
i
Trong đó :
lục; cấu trúc đề tài bao gồm 3 chương cơ bản:
Chương 1: Cơ sở lý luận về phát triển môi trường DHTC ở trường đại học
Chương 2: Thực trạng về phát triển môi trường DHTC ở trường
ĐHKTCNTN.
Chương 3: Biện pháp phát triển môi trường DHTC ở trường
ĐHKTCNTN.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
12
CHƢƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN
VỀ PHÁT TRIỂN MÔI TRƢỜNG DHTC Ở TRƢỜNG ĐẠI HỌC
1.1. Lịch s nghiên cứu vấn đề
1.1.1. Trên thế giới
Phát triển môi trường DHTC chính là tạo điều kiện tốt nhất cho người học
nhằm phát huy tính tích cực học tập, chủ động, độc lập, sáng tạo ở các em.
Từ thời Cổ đại, các nhà sư phạm tiền bối đã nói đến tầm quan trọng to
lớn của việc phát huy tính tích cực chủ động của sinh viên và nói nhiều đến
việc xây dựng và phát triển môi trường DHTC. Socrat (469 - 399TCN), nhà
Triết học, người thầy vĩ đại của Hy Lạp cổ đại đã từng dạy các học trò của
mình bằng cách luôn đặt ra các câu hỏi gợi mở nhằm giúp người học dần dần
phát hiện ra chân lý. Phương châm sống của ông là: “Sự tự nhận thức, nhận
thức chính mình”. Khổng Tử (551 - 479 TCN), nhà Triết học, nhà Giáo dục vĩ
đại của Trung Hoa cổ đại đòi hỏi người ta phải học, tìm tòi, suy nghĩ, đào sâu
quá trình học. Ông nói: “Không vì tức giận vì muốn biết thì không gợi mở
cho, không vì bực tức vì không rõ được thì không bày vẽ cho. Vật có bốn góc,
thể ở cuốn sách: “Những cơ sở của việc dạy học nêu vấn đề”… [34].
Như vậy, để phát huy tính tích cực học tập của sinh viên, biến quá trình
giáo dục thành quá trình tự giáo dục, quá trình đào tạo thành quá trình tự đào
tạo nhằm nâng cao chất lượng giáo dục đào tạo, nhà trường cần phải phát
triển môi trường dạy học tích cực. Đây là một vấn đề được rất nhiều quốc gia
quan tâm, đã tiến hành và đạt được kết kết quả khả quan.
1.1.2. Ở Việt Nam
Ở nước ta, vấn đề phát huy tính tích cực chủ động của sinh viên nhằm
đào tạo những người lao động sáng tạo đã được đặt ra trong ngành giáo dục từ
những năm 1960. Khẩu hiệu “biến quá trình đào tạo thành quá trình tự đào
tạo” cũng đã đi vào các trường sư phạm từ thời điểm đó. Dạy học tích cực bắt Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
14
đầu được đề cập một cách trực tiếp hoặc gián tiếp trong giáo trình Giáo dục
học, Tâm lý học, Phương pháp giảng dạy bộ môn…
Tại Nghị quyết IV của ban chấp hành trung ương khóa VII đã chỉ rõ:
“Đổi mới phương pháp giảng dạy ở tất cả các cấp học, bậc học… Áp dụng
những phương pháp giáo dục hiện đại để bồi dưỡng cho sinh viên năng lực tư
duy, sáng tạo, năng lực giải quyết vấn đề…”
Trần Bá Hoành với các bài: “Dạy học lấy người học làm trung tâm”,
đăng trên tạp chí Nghiên cứu giáo dục số 1/1994 [10]; bài “Phương pháp
DHTC”, đăng trên tạp chí Nghiên cứu giáo dục số 9/1999 [11] nêu rõ: Thế nào
là dạy học lấy người học làm trung tâm, thế nào là phương pháp DHTC, thế
nào là phương pháp hợp tác…
PGS - TS Nguyễn Ngọc Bảo với cuốn sách: “Phát triển tính tích cực,
tính tự lực của sinh viên trong quá trình dạy học”, tác giả đã đưa ra quan
niệm học là hoạt động tích cực, tự lực và trung tâm của quá trình dạy học và
Lê Văn Khoa (1995), đối với cơ thể sống thì “môi trường sống” là tổng hợp
những điều kiện bên ngoài có ảnh hưởng tới đời sống và sự phát triển cơ thể.
- Theo Unesco (1981): “Môi trường của con người bao gồm toàn bộ các
hệ thống tự nhiên và các hệ thống do con người tạo ra. Những cái hữu hình (tập
quán, niềm tin…) trong đó con người sống và lao động. họ khai thác các tài
nguyên thiên nhiên và nhân tạo nhằm thỏa mãn những nhu cầu của mình” [26].
- Theo từ điển tiếng việt thông dụng: 1.Môi trường là toàn thể hoàn
cảnh tự nhiên tạo thành những điều kiện sống bên ngoài của một sinh vật. 2.
Môi trường là toàn thể hoàn cảnh xã hội( phong tục, tín ngưỡng, sinh hoạt văn
hoá, nghề nghiệp, gia đình…) chung quanh con người, có ảnh hưởng đến đời
sống và sự phát triển của con người. [23]
- Theo từ điển Anh - Việt: “ Environment” là điều kiện, hoàn cảnh,
những sự vật xung quanh; sự bao quanh, sự bao vây, sự vây quanh làm tác
động đến đời sống của mọi người.[21]
- Theo từ điển văn hoá giáo dục: Khái niệm môi trường được hiểu là
toàn bộ những nhân tố bao quanh con người hay sinh vật và tác động lên đời
sống của nó.[24] Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
16
- Theo Điều 1 - Luật Bảo vệ Môi trường của Việt Nam: “Môi trường bao
gồm các yếu tố tự nhiên và yếu tố vật chất nhân tạo quan hệ mật thiết với nhau,
bao quanh con người có ảnh hưởng đến đời sống, sản xuất, sự tồn tại, phát triển
của con người và thiên nhiên”.[15]
- “Môi trường bao gồm tất cả những gì bao quanh sinh vật, tất cả các yếu
tố vô sinh và hữu sinh có tác động trực tiếp hoặc gián tiếp lên sự sống, phát triển
và sinh sản của sinh vật” (Hoàng Đức Nhuận, 2000) [18]. Theo tác giả môi
trường có các thành phần chính và tác động qua lại với nhau:
hội (Gia đình, các tổ chức, đoàn thể ); môi trường văn hóa (Hệ tư tưởng, nhà
trường, cơ quan văn hóa giáo dục, các phương tiện thông tin đại chúng ).
Môi trường xã hội chia thành hai loại:
1/ Môi trường lớn: đặc trưng chủ yếu bởi tính chất Nhà nước, chế độ kinh
tế, chính trị, các mối quan hệ sản xuất
2/ Môi trường nhỏ: là một bộ phận của môi trường lớn: gia đình, nhà
trường, xã hội
Quá trình hình thành nhân cách và sự phát triển nhân cách chỉ có thể
thực hiện trong một môi trường nhất định. Môi trường tạo nên động cơ, mục
đích, cung cấp phương tiện cho hoạt động và giao lưu cá nhân. Tuy nhiên,
mức độ ảnh hưởng của môi trường đối với cá nhân còn tuỳ thuộc vào thái độ,
xu hướng và năng lực của cá nhân trong các hoạt động và giao lưu
Vì vậy, nhận thức đúng về vai trò của môi trường sẽ giúp nhà giáo dục
định hướng cho trẻ tiếp nhận những ảnh hưởng tốt đẹp của môi trường, đồng
thời có khả năng chống lại những ảnh hưởng xấu của môi trường.
1.2.2. Dạy học “tích cực”
Quá trình dạy học gồm hai mặt hữu cơ, hoạt động dạy của giảng viên
và hoạt động học của sinh viên. Trong lý luận dạy học có những quan điểm
khác nhau về vai trò của sinh viên, nhưng tựu chung lại có hai hướng: hoặc
tập trung vào vai trò hoạt động của giảng viên (Lấy giảng viên làm trung
tâm), hoặc tập trung vào vai trò hoạt động của sinh viên (Lấy sinh viên làm
trung tâm). Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
18
Dạy học lấy người học làm trung tâm không phải là một phương pháp
dạy học cụ thể. Đó là một tư tưởng, một quan điểm, một cách tiếp cận hiện
đại (theo quan điểm dạy học nêu trên) về quá trình dạy học. Quan điểm này
trí nhớ, những chấn động của các cung bậc tình cảm, cảm xúc và tích cực bên
ngoài lộ ra ở thái độ, hành động đối với công việc.
- Trong “thuật ngữ giáo dục người lớn’’ do Unesco xuất bản năm 1979
bằng ba thứ tiếng Anh, Pháp, Tây Ban Nha đã dùng thuật ngữ “giáo dục căn cứ
vào người học’’, “giáo dục tập trung vào người học’’ với định nghĩa “sự giáo
dục mà nội dung quá trình học tập và giảng dạy được xác định bở nhu cầu,
mong muốn của người học và người học tham gia tích cực vào việc hính thành
và kiểm soát, sự giáo dục này huy động những nguồn lực và kinh nghiệm của
người học’’ [27].
- Lý luận dạy học cũng chỉ ra rằng, muốn xây dựng động lực của quá
trình dạy học cần phải biến yêu cầu của chương trình dạy học thành nhu cầu
nhận thức của người học, phải giáo dục tính tích cực, tự giác học tập và tạo
điều kiện cho những cố gắng vươn tới của sinh viên bằng khả năng của mình.
Để sinh viên có động lực học tập phải dạy học theo hướng tích cực, khơi dậy
và phát huy tính tích cực nhận thức hoạt động của sinh viên.
- Về góc độ giáo dục học cũng chỉ rõ: dạy học“tích cực’’ , nếu xét dưới
góc độ triết học là thái độ, cải tạo của chủ thể nhận thức đối với đối tượng
nhận thức. Tức là tài liệu học tập được phản ánh vào não của HS phải được
biến đổi, được vận dụng linh hoạt vào các tình huống khác nhau để cải tạo
hiện thực và cải tạo cả bản thân.
- Xét dưới góc độ tâm lí học thì DHTC là mô hình tâm lý hoạt động
nhận thức. Đó là sự kết hợp giữa các chức năng nhận thức, tình cảm, ý chí,
trong đó chủ yếu là nhận thức của sinh viên. Mô hình này luôn luôn biến đổi,
tuỳ theo nhiệm vụ nhận thức cụ thể mà các em phải thực hiện . Chính sự biến
đổi liên tục bên trong của mô hình tâm lý hoạt động nhận thức là đặc trưng
của tính tích cực nhận thức ở sinh viên. Sự biến đổi này càng năng động bao
nhiêu thì càng thể hiện tính tích cực ở mức độ cao bấy nhiêu. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
21
DHTC có thể xem là một quá trình chủ động tiếp thu mọi tác động và
mọi ảnh hưởng giáo dục. Kiểu dạy học này vận dụng các mô hình tâm lý trong
cấu trúc của hoạt động nhận thức của người học, độc lập tự rèn luyện theo
chương trình kế hoạch dưới sự hướng dẫn của thầy giáo nhằm đạt tới mục tiêu
đào tạo. Muốn học tập tốt, sinh viên phải tạo được sự thôi thúc bên trong, tạo nên
những thao tác tư duy, tạo nên sự vận động thể dục về trí não để nhận thức được
thế giới.
1.2.3. Môi trƣờng DHTC ở trƣờng đại học
Môi trường bao hàm nhiều yếu tố về tự nhiên và xã hội tồn tại xung
quanh chúng ta, cho ta cơ sở để sống và tồn tại. Xã hội phát triển mạnh bao
nhiêu thì mặt trái của nó cũng song song cùng tồn tại và ảnh hưởng đến môi
trường sống của con người bấy nhiêu. Để tạo ra một môi trường an toàn, tích
cực tác động đến đời sống của con người thì nhà trường giữ vai trò vô cùng
quan trọng. Bởi nhà trường là nơi đào tạo nguồn nhân lực có đủ trình độ
chuyên môn và các phẩm chất đạo đức tốt đẹp đáp ứng yêu cầu của xã hội.
Muốn làm được điều đó, trước hết cần quan tâm đến xây dựng một môi
trường DHTC.
Môi trường DHTC là một trong bốn cấu trúc của hoạt động dạy học,
chi phối trực tiếp đến chất lượng và hiệu quả của hoạt động dạy và hoạt động
học. Chất lượng và hiệu quả của hoạt động dạy học chịu sự chi phối của các
yếu tố bên trong và bên ngoài, nhưng trước hết phải kể đến ảnh hưởng của các
yếu tố thuộc cấu trúc hoạt động dạy học. Các yếu tố đó bao gồm: kiến thức
(Khái niệm hay nội dung dạy học), người học, người dạy và môi trường (Điều
kiện dạy học cụ thể). Mỗi yếu tố trong cấu trúc hoạt động dạy học đảm nhận
chức năng riêng biệt, chúng không tồn tại tách biệt mà có mối quan hệ mật
thiết với nhau, hỗ trợ nhau trong quá trình dạy học.
ra một môi trường an toàn, tích cực, lành mạnh đáp ứng các yêu cầu về cơ Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
23
sở vật chất, phương pháp, phương tiện dạy học hiện đại, các mối quan hệ
trong và ngoài nhà trường… xung quanh quá trình dạy học nhằm phát huy
tính tích cực, chủ động, sáng tạo của người học trong quá trình chiếm lĩnh
tri thức, phát triển năng lực nghề nghiệp.
Từ khái niệm trên, chúng tôi nhận thấy các yếu tố bên trong và bên
ngoài nhà trường như: cơ sở vật chất, cảnh quan nhà trường; mối quan hệ giữa
nhà trường, gia đình và xã hội; cũng như các thành tố của quá trình dạy học là
những yếu tố không thể thiếu để phát triển môi trường DHTC.
1.3. Các vấn đề cơ bản về phát triển môi trƣờng DHTC ở trƣờng đại học
1.3.1. Các yếu tố tạo thành môi trƣờng DHTC ở trƣờng đại học
1.3.1.1 Các yếu tố vật chất
Cơ sở vật chất được coi là điều kiện tiên quyết trong phát triển giáo
dục. Nó là điều kiện cần thiết phục vụ cho quá trình dạy học và giáo dục
nhằm đạt được mục tiêu đã đề ra, góp phần quyết định trực tiếp đến chất
lượng đào tạo của nhà trường.
Xây dựng cơ sở vật chất và tạo cảnh quan nhà trường là một trong
những yếu tố cơ bản tạo nên môi trường DHTC. Một trường học khang trang,
sạch đẹp, không gian thoáng đãng, không khí trong lành, không gian dành cho
các hoạt động được mở rộng và sạch sẽ góp phần tạo ra cho người học tinh
thần sảng khoái thúc đẩy động cơ học tập của các em. Ngược lại nếu cơ sở vật
chất không được đảm bảo thì không thể tạo ra được những ảnh hưởng tích cực
đến nhận thức, làm hạn chế khả năng tìm tòi, sáng tạo, chủ động ở các em.
Để xây dựng môi trường DHTC, nhà trường cần phải đảm bảo các điều
kiện tối thiểu về cơ sở vật chất như: có đầy đủ phòng học; cấu trúc phòng học,
dạy ngoài trời, dạy trong lớp, dạy trong phòng thí nghiệm, nhà xưởng, phòng
bộ môn, dạy nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu bằng thực hành, dạy
chuyên biệt nâng cao, ngoại khóa sẽ tạo ra một môi trường dạy học tích cực
và hiệu quả. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
25
1.3.1.2 Các yếu tố xã hội
Môi trường DHTC là phương tiện đem lại hiệu quả lớn lao trong việc
phát triển hệ thống năng lực hoạt động trí tuệ của người học. Nhờ sự tăng
trưởng về lượng và chất thông qua dạy học tích cực, người học dần dần hình
thành năng lực, trình độ chuyên môn, quan điểm sống, thế giới quan, nhân
sinh quan và những phẩm chất đạo đức đáp ứng yêu cầu về sự phát triển kinh
tế xã hội.
Xã hội càng phát triển, càng đặt ra những đơn đặt hàng mới cho quá trình
giáo dục, giáo dục phải gắn với nhu cầu phát triển kinh tế xã hội. Vậy làm thế
nào để giáo dục vừa dạy chữ, vừa dạy người, đem đến sự hình thành và phát
triển nhân cách cho người học? Để làm được điều đó đòi hỏi phải có sự tham gia
của yếu tố xã hội để xây dựng một môi trường DHTC.
Tạo ra môi trường DHTC, không chỉ đơn thuần là việc cung cấp tri thức,
kỹ năng ở trên lớp cho người học. Mà phải tiến hành xã hội hóa giáo dục. Tức
là ở mọi lúc, mọi nơi, mọi chỗ người học đều được tham gia học tập và rèn
luyện. Muốn vậy, nhà trường cần giữ vai trò chủ đạo trong việc kết hợp với gia
đình, xã hội để tiến hành quá trình giáo dục toàn diện nhằm phát huy những
ảnh hưởng tích cực, và hạn chế những ảnh hưởng tiêu cực đến người học.
Gia đình là nguồn gốc, là môi trường đầu tiên hình thành đạo đức cho
thanh thiếu niên, là nơi lưu giữ các giá trị đạo đức, tryền thống tốt đẹp của
dân tộc. Các yếu tố trong gia đình như: truyền thống gia đình, bầu không khí