Giáo dục pháp luật cho công chức tư pháp hộ tịch, qua thực tiễn thành phố hà nội - Pdf 35

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
*************

NGUYỄN VĂN TUẤN

GIÁO DỤC PHÁP LUẬT CHO CÔNG CHỨC
TƢ PHÁP – HỘ TỊCH, QUA THỰC TIỄN THÀNH PHỐ HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

HÀ NỘI - 2015


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
*************

NGUYỄN VĂN TUẤN

GIÁO DỤC PHÁP LUẬT CHO CÔNG CHỨC
TƢ PHÁP – HỘ TỊCH, QUA THỰC TIỄN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Chuyên ngành: Lý luận và lịch sử Nhà nƣớc và Pháp luật
Mã số: 60 38 01 01

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: GS. TS. Hoàng Thị Kim Quế

HÀ NỘI - 2015



Tƣ pháp – hộ tịch

:

TP-HT

Ủy ban nhân dân

:

UBND


DANH MỤC CÁC BẢNG
Số hiệu bảng

Tên bảng

Trang

Số lƣợng công chức tƣ pháp – hộ tịch tại các
2.1

xã, phƣờng, thị trấn thuộc các quận, huyện, thị

43

xã trên địa bàn TP.Hà Nội
Độ tuổi, dân tộc, giới tính của công chức tƣ
2.2

1.1. NHẬN THỨC CHUNG VỀ CÔNG CHỨC TƢ PHÁP – HỘ TỊCH ............6
1.1.1. Khái niệm công chức tư pháp – hộ tịch ..........................................................6
1.1.2. Quá trình hình thành và phát triển của đội ngũ công chức tư pháp – hộ
tịch ở nước ta ............................................................................................................12
1.2. NHẬN THỨC CHUNG VỀ GIÁO DỤC PHÁP LUẬT ...............................14
1.2.1. Khái niệm giáo dục pháp luật ........................................................................14
1.2.2. Các bộ phận cấu thành cơ bản của giáo dục pháp luật ...............................17
1.3. GIÁO DỤC PHÁP LUẬT CHO CÔNG CHỨC TƢ PHÁP – HỘ TỊCH .........22
1.3.1. Khái niệm giáo dục pháp luật cho công chức tư pháp – hộ tịch .................22
1.3.2. Mục đích giáo dục pháp luật cho công chức tư pháp – hộ tịch ...................22
1.3.3. Nội dung giáo dục pháp luật cho công chức tư pháp – hộ tịch ...................24
1.3.4. Hình thức giáo dục pháp luật cho công chức tư pháp – hộ tịch .................25
1.3.5. Đối tượng của giáo dục pháp luật cho công chức tư pháp – hộ tịch ..........26
1.3.6. Chủ thể của giáo dục pháp luật cho công chức tư pháp – hộ tịch ..............28
1.3.7. Đặc điểm giáo dục pháp luật cho công chức tư pháp – hộ tịch ...................28
1.4. NHỮNG YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN GIÁO DỤC PHÁP LUẬT CHO
CÔNG CHỨC TƢ PHÁP – HỘ TỊCH .................................................................32
1.4.1. Quy định của pháp luật về lĩnh vực tư pháp và lĩnh vực hộ tịch .................32
1.4.2. Yếu tố về chủ thể giáo dục pháp luật cho công chức tư pháp – hộ tịch ..............35
1.4.3. Yếu tố về đội ngũ công chức tư pháp – hộ tịch.............................................35
1.4.4. Yếu tố về hình thức giáo dục pháp luật cho công chức tư pháp – hộ tịch ........37
1.4.5. Yếu tố về điều kiện kinh tế, văn hóa, xã hội của địa phương ......................38


Chƣơng 2 THỰC TRẠNG GIÁO DỤC PHÁP LUẬT CHO CÔNG CHỨC TƢ
PHÁP - HỘ TỊCH, QUA THỰC TIỄN THÀNH PHỐ HÀ NỘI .......................41
2.1. VỊ TRÍ ĐỊA LÝ, ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ, VĂN HÓA - XÃ HỘI
VÀ TÌNH HÌNH ĐỘI NGŨ CÔNG CHỨC TƢ PHÁP – HỘ TỊCH CỦA THÀNH
PHỐ HÀ NỘI ………………………………………………………………………41
2.1.1. Vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên, kinh tế, văn hoá - xã hội của thành phố Hà Nội ....41

cao tính chuyên nghiệp, tôn trọng, tuân thủ pháp luật, tôn trọng bảo đảm các
quyền con người, quyền công dân...........................................................................78
3.2. GIẢI PHÁP VỀ GIÁO DỤC PHÁP LUẬT CHO CÔNG CHỨC TƢ PHÁP
– HỘ TỊCH TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HÀ NỘI .......................................81
3.2.1. Hoàn thiện chương trình, nội dung để đảm bảo chất lượng đào tạo, bồi
dưỡng nghiệp vụ đối với công chức tư pháp – hộ tịch ...........................................82
3.2.2. Hoàn thiện pháp luật về lĩnh vực tư pháp - hộ tịch .....................................84
3.2.3. Xây dựng các cơ sở đào tạo, bồi dưỡng tham gia công tác giáo dục pháp
luật cho công chức tư pháp – hộ tịch ......................................................................87
3.2.4. Áp dụng đa dạng các hình thức giáo dục pháp luật cho công chức tư pháp
– hộ tịch ....................................................................................................................90
3.2.5. Kết hợp giáo dục pháp luật và kỹ năng thực hành pháp luật cho công chức
tư pháp – hộ tịch .......................................................................................................94
3.2.6. Kết hợp giáo dục pháp luật và giáo dục quyền con người, phòng chống
tham nhũng cho công chức tư pháp –hộ tịch .........................................................95
3.2.7. Tăng cường kiểm tra, giám sát, tổng kết rút kinh nghiệm và thực hiện công
tác thi đua khen thưởng trong hoạt động phổ biến giáo dục pháp luật ................98
3.2.8. Bảo đảm kinh phí cho công tác giáo dục pháp luật cho cán bộ, công chức
cấp xã ........................................................................................................................99
3.2.9. Thực hiện xã hội hóa công tác phổ biến, giáo dục pháp luật ....................101
3.2.10. Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng trong công tác phổ biến, tuyên truyền
pháp luật, nâng cao ý thức pháp luật ....................................................................104
KẾT LUẬN ............................................................................................................108
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO .............................................................110


MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Chính quyền cấp xã là gần dân nhất để trực tiếp triển khai, thực hiện các chủ
trương, đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của nhà nước. Công chức TP-HT

Đảng, Ủy ban mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể Chính trị - Xã hội ; cán bộ, công
chức, viên chức nhà nước ; cán bộ, công chức xã, phường, thị trấn của thành phố Hà
Nội năm 2015. Như vậy, GDPL cho đội ngũ cán bộ, công chức nói chung, đối với
công chức TP-HT nói riêng đã và đang nhận được sự quan tâm rất lớn từ phía
Thành ủy, UBND thành phố Hà Nội và trở thành vấn đề quan trọng, cần thiết.
Trước những yêu cầu mới của đất nước, sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ quốc
và sự ra đời của những văn bản luật quan trọng, liên quan mật thiết đến đời sống
nhân dân như: Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Luật Đất đai,
Luật Hôn nhân và Gia đình, Luật Hộ tịch, Luật Bảo hiểm y tế, Luật Bảo hiểm xã
hội, Luật Căn cước… và những văn bản Luật khác sẽ được sửa đổi, bổ sung trong
thời gian tới để phù hợp với Hiến pháp năm 2013. Đặc biệt là các quy định về
quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân. Những vấn đề này đã đặt
ra cho công tác PBGDPL cho đội ngũ cán bộ, công chức nói chung và công chức
TP-HT nói riêng với nhiều nhiệm vụ mới, ở một tầm cao hơn, đòi hỏi tư duy về
công tác PBGDPL mới hơn, toàn diện hơn, thiết thực và khoa học hơn.
Chính vì những lý do ở trên, em đã lựa chọn đề tài “Giáo dục pháp luật cho
công chức tư pháp – hộ tịch, qua thực tiễn thành phố Hà Nội” để làm luận văn tốt
nghiệp của mình. Từ đó, việc nghiên cứu đề tài sẽ có thể góp phần nâng cao hiệu
quả PBGDPL nói chung và GDPL cho đội ngũ công chức TP-HT nói riêng trên địa
bàn thành phố Hà Nội hiện nay cũng như tại các địa phương khác ở nước ta. Đây là
cơ sở để các chủ thể GDPL cho công chức TP-HT có thể tham khảo để đưa ra được
những nội dung, hình thức, kế hoạch GDPL phù hợp cho đội ngũ công chức TP-HT.
2. Tình hình nghiên cứu
Vấn đề GDPL nói chung cũng đã và đang được nhắc tới khá nhiều trong các
công trình nghiên cứu khoa học. Một số công trình nghiên cứu khoa học đề cập sâu
đến vấn đề về này phải kể đến đó là:
Luận án Tiến sĩ Luật học của tác giả Nguyễn Quốc Sửu, chuyên ngành Lý
luận và lịch sử nhà nước và pháp luật: “GDPL cho đội ngũ cán bộ, công chức hành
chính trong điều kiện xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam”,
Khoa luật – Đại học quốc gia Hà Nội, 2010. Luận án Tiến sĩ Xã hội học của tác giả

Luận văn Thạc sĩ Luật học của tác giả Dương Thị Thu Hiền “phổ biến GDPL
trên địa bàn huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình – thực trạng và giải pháp”, Khoa
luật – Đại học quốc gia Hà Nội, 2013. Luận văn Thạc sĩ Luật học của tác giả
Nguyễn Thị Kim Ngân: “GDPL ở cơ sở trên địa bàn thành phố Hà Nội”, Khoa luật – Đại
3


học quốc gia Hà Nội, 2013. Luận văn Thạc sĩ luật học của tác giả Nguyễn Xuân Hạnh:
“PBGDPL trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa”, Khoa luật – Đại học quốc gia Hà Nội, 2014.
Như vậy, vấn đề GDPL đã được nghiên cứu khá nhiều trong các công trình
nghiên cứu khoa học. Tuy nhiên cho đến nay, đề tài “Giáo dục pháp luật cho công
chức tƣ pháp – hộ tịch, qua thực tiễn thành phố Hà Nội” vẫn chưa được nhắc tới
trong các công trình nghiên cứu khoa học nào. Đây là một nội dung nghiên cứu khá
mới mẻ nhưng tuơng đối khó bởi nhiệm vụ, quyền hạn của công chức TP-HT khá là
rộng. Vì vậy, em đã lựa chọn đề tài này và lấy thực tiễn thành phố Hà Nội để làm
luận văn tốt nghiệp của mình.
3. Mục đích, đối tƣợng nghiên cứu và nhiệm vụ của Luận văn
Luận văn có mục đích nghiên cứu là làm rõ những đặc trưng, yêu cầu cơ bản
về GDPL cho công chức TP-HT, đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả
GDPL cho công chức TP-HT.
Luận văn tập trung nghiên cứu về GDPL đối với đối tượng là đội ngũ công chức
TP-HT. Do vậy, để thực hiện được mục đích nghiên cứu, luận văn phải thực hiện được
các nhiệm vụ:
Xác định được cơ sở lý luận về GDPL cho công chức TP-HT gồm: Nhận thức
chung về công chức TP-HT; Những vấn đề lý luận cơ bản về GDPL; GDPL cho
công chức TP-HT và những yếu tố tác động đến GDPL cho công chức TP-HT.
Đề cập và phân tích được thực trạng GDPL cho công chức TP-HT trên địa bàn
thành phố Hà Nội. Luận văn phải tập trung làm rõ thực trạng đội ngũ công chức TPHT và thực tiễn GDPL cho công chức TP-HT trên địa bàn thành phố Hà Nội.
Đưa ra những quan điểm, giải pháp về GDPL cho công chức TP-HT trên địa
bàn thành phố Hà Nội hiện nay.

qua thực tiễn thành phố Hà Nội.
- Chương 3: Quan điểm và giải pháp về giáo dục pháp luật cho công chức tư
pháp – hộ tịch trên địa bàn thành phố Hà Nội hiện nay.

5


Chƣơng 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ GIÁO DỤC PHÁP LUẬT CHO
CÔNG CHỨC TƢ PHÁP – HỘ TỊCH
1.1. NHẬN THỨC CHUNG VỀ CÔNG CHỨC TƢ PHÁP – HỘ TỊCH
1.1.1. Khái niệm công chức tư pháp – hộ tịch
Thứ nhất, về khái niệm công chức.
Ở nước ta, khái niệm “cán bộ”, “công chức” có từ lâu. Văn bản đầu tiên là Sắc
lệnh số 76/SL ngày 20/5/1950 của Chủ tịch Nước Việt Nam dân chủ cộng hòa. Điều
1 Sắc lệnh ghi: “Những công dân Việt Nam được chính quyền nhân dân tuyển để giữ
một chức vụ thường xuyên trong cơ quan Chính phủ, ở trong nước hay ở nước ngoài đều
là công chức theo quy chế này, trừ trường hợp riêng biệt do Chính phủ quy định”.
Cuối những năm 80 của thế kỷ trước, khái niệm “cán bộ, công chức” được gọi
chung là “cán bộ, công nhân viên chức nhà nước”. Đến thời kỳ đổi mới (sau năm
1986), yêu cầu khách quan đòi hỏi phải chuẩn hóa đội ngũ cán bộ công chức nhà
nước, khái niệm công chức được sử dụng trở lại trong Nghị định 169/HĐBT ngày
25/5/1991 của Chính phủ. Nghị định nêu rõ: “Công dân Việt Nam được tuyển dụng,
bổ nhiệm giữ một công vụ thường xuyên trong một công sở của nhà nước ở Trung
ương hay địa phương, ở trong nước, ngoài nước, đã được xếp vào một ngạch,
hưởng lương do ngân sách nhà nước cấp gọi là công chức nhà nước”.
Năm 1998, Pháp lệnh Cán bộ, công chức ra đời, là văn bản pháp lý cao nhất
của nước ta về cán bộ, công chức. Dưới Pháp lệnh là Nghị định số 95/1998/NĐ-CP
ngày 17/11/1998 về tuyển dụng, sử dụng và quản lý công chức. Nghị định đã cụ thể
hóa khái niệm công chức“là công dân Việt Nam, trong biên chế và hưởng lương từ

01/2008/TT-BTP. Ngoài ra, tất cả các văn bản pháp luật khác từ năm 2003 đến nay
khi quy định về chức danh này đều thống nhất quy định rõ là “công chức TP-HT”.
Do vậy, việc viết “cán bộ TP-HT là công chức cấp xã…” tại khoản 1, Điều 81 Nghị
định 158/2005/NĐ-CP là chưa chính xác. Bởi lẽ, trước đó, Nghị định số 114/2003/NĐ-CP
đã quy định rõ 07 chức danh làm việc tại UBND cấp xã là công chức cấp xã trong đó có
công chức TP-HT. Tuy vậy, nghị định 158/2005/NĐ-CP vẫn sử dụng thuật ngữ “cán bộ
TP-HT” mà không dùng thuật ngữ “công chức TP-HT” là không phù hợp.
7


Khi Luật cán bộ, công chức 2008 ra đời, các văn bản pháp luật đã có sự thống
nhất duy nhất thuật ngữ “công chức tư pháp hộ tịch”. Việc quy định “Cán bộ TPHT” hay “công chức TP-HT” đều không làm ảnh hưởng đến nhiệm vụ và quyền hạn
của chức danh này. Nội dung cần quan tâm hơn cả đó là cụm từ “TP-HT”, nhằm
mục đích phân biệt với công chức làm công tác tư pháp tại Phòng Tư pháp thuộc
UBND cấp huyện; công chức làm công tác tư pháp tại các phòng chuyên môn,
nghiệp vụ của Sở Tư pháp. Ngoài ra, theo quy định của Luật hộ tịch 2014 (có hiệu
lực từ ngày 01/01/2016), cụm từ TP-HT cũng là cơ sở để phân biệt đội ngũ công
chức TP-HT với công chức làm công tác hộ tịch tại Phòng Tư pháp, viên chức
ngoại giao, lãnh sự làm công tác hộ tịch tại Cơ quan đại diện.
Theo quy định của pháp luật, công chức TP-HT có những nhiệm vụ, quyền
hạn nhất định trong cả hai công tác tư pháp, công tác hộ tịch.
Về công tác tư pháp, công chức TP-HT tham mưu giúp UBND cấp xã thực
hiện các nhiệm vụ:
- Xây dựng chương trình, kế hoạch, quyết định, chỉ thị về công tác tư pháp cấp
xã trình UBND cấp xã phê duyệt và tổ chức thực hiện; thực hiện nhiệm vụ kiểm soát
thủ tục hành chính; tự kiểm tra, xử lý và rà soát, hệ thống hóa văn bản quy phạm pháp
luật do Hội đồng nhân dân và UBND cấp xã ban hành; hướng dẫn việc xây dựng quy
ước, hương ước thôn, tổ dân phố phù hợp với quy định của pháp luật hiện hành.
- Quản lý và thực hiện công tác thi hành pháp luật về xử lý vi phạm hành
chính theo quy định của pháp luật; theo dõi tình hình thi hành pháp luật tại địa

Việc biên chế đội ngũ công chức này do Chủ tịch UBND cấp huyện quyết
định trong tổng biên chế công chức của cấp huyện được cấp trên phê duyệt. Bố trí
công tác đối với công chức của Phòng Tư pháp được căn cứ vào vị trí việc làm,
chức danh, tiêu chuẩn, cơ cấu ngạch công chức theo quy định và đảm bảo đủ lực lực
lượng để đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ được giao. Do vậy, công chức tư pháp của
Phòng Tư pháp thường chỉ đảm nhận một nhiệm vụ đặc thù với chuyên môn cao và
ổn định. Việc đảm nhận công việc có tính chuyên môn cao này nhằm thực hiện
nhiệm vụ chung của Phòng Tư pháp để có thể tham mưu cho UBND cấp huyện
trong việc thực hiện các nhiệm vụ về công tác xây dựng và thi hành pháp luật; theo
9


dõi thi hành pháp luật; kiểm tra, xử lý văn bản quy phạm pháp luật; kiểm soát thủ
tục hành chính; PBGDPL; hòa giải ở cơ s ở; nuôi con nuôi; hộ tịch; chứng thực; bồi
thường nhà nước; trơ ̣ giúp pháp lý ; quản lý công tác thi hành pháp luật về xử lý vi
phạm hành chính và công tác tư pháp khác theo quy đ ịnh của pháp luật.
Đối với công chức làm công tác tư pháp tại Sở tư pháp thuộc UBND cấp tỉnh.
Đây là đội ngũ công chức được tuyển dụng để đảm nhận các công tác tư pháp
căn cứ vào vị trí làm việc, chức danh, tiêu chuẩn, cơ cấu ngạch công chức, và chức
danh nghề nghiệp của họ. Theo đó, công chức làm công tác tư pháp tại Sở Tư pháp
làm việc tại phòng chuyên môn, nghiệp vụ của Sở Tư pháp.
Các phòng chuyên môn, nghiệp vụ của Sở Tư pháp bao gồm: Phòng Xây dựng
và kiểm tra văn bản quy pha ̣m pháp luâ ̣t

(quản lý công tác xây dựng , kiểm tra, rà

soát, hệ thống hóa văn bản quy phạm pháp luật, công tác pháp chế , hỗ trơ ̣ pháp lý
cho doanh nghiê ̣p); phòng Kiểm soát thủ tục hành chính (quản lý công tác kiểm soát
thủ tục hành chính); phòng Quản lý xử lý vi phạm hành chính và theo dõi thi hành
pháp luật (quản lý công tác xử lý vi phạm hành chính và theo dõi thi hành pháp

TP-HT cũng thực hiện một cách thường xuyên, liên tục các nhiệm vụ trong công tác
chứng thực và đăng ký, quản lý hộ tịch trên địa bàn xã, phường, thị trấn.
Theo quy định tại Luật hộ tịch năm 2014 (có hiệu lực từ ngày 01/01/216).
Bên cạnh việc quy định chức danh công chức TP-HT, Luật hộ tịch năm 2014
quy định thêm công chức làm công tác hộ tịch ở Phòng Tư pháp thuộc UBND cấp
huyện; viên chức ngoại giao, lãnh sự làm công tác hộ tịch tại Cơ quan đại diện. Về
nhiệm vụ, quyền hạn thì 03 chức danh này đều có nhiệm vụ quyền hạn theo quy
định tại khoản 1 Điều 73 Luật hộ tịch năm 2014. Về tiêu chuẩn, đối với công chức
TP-HT thì tiêu chuẩn phải có trình độ trung cấp luật trở lên, được bồi dưỡng nghiệp
vụ hộ tịch, có chữ viết rõ ràng, trình độ tin học phù hợp. Đối với công chức làm
công tác hộ tịch tại Phòng Tư pháp phải có trình độ cử nhân luật trở lên và đã được
bồi dưỡng nghiệp vụ hộ tịch. Viên chức ngoại giao, lãnh sự làm công tác hộ tịch tại
Cơ quan đại diện đã được bồi dưỡng nghiệp vụ hộ tịch. Tuy nhiên, đối với công
chức TP-HT, phải kiêm nhiệm thêm cả công tác tư pháp mà không chuyên trách
lĩnh vực hộ tịch như công chức tại Phòng Tư pháp và Viên chức ngoại giao, lãnh sự.
Qua việc nghiên cứu nhiệm vụ, quyền hạn của công chức TP-HT và phân biệt
đặc điểm nghề nghiệp của công chức TP-HT với một số chức danh công chức làm
11


công tác tư pháp và công tác hộ tịch khác, theo cá nhân học viên thì việc ra đời chức
danh công chức TP-HT là trên cơ sở lồng ghép công tác tư pháp với công tác hộ
tịch. Nhà nước có thể áp dụng chung một suất về chế độ, chính sách cho cả hai lĩnh
vực tư pháp và hộ tịch đối với một chức danh công chức. Công chức TP-HT phải
đảm nhận cả hai công việc cùng lúc đó là các công tác tư pháp và công tác hộ tịch.
Thực tế, tính chất chuyên môn của công tác hộ tịch và công tác tư pháp khác (văn
bản, tuyên truyền pháp luật, hòa giải…) rất khác nhau. Công tác tư pháp khác mang
tính chất “hành chính trật tự” của chính quyền, công tác hộ tịch đòi hỏi sự ổn định,
thường xuyên, liên tục và chuyên môn cao.
Như vậy, công chức TP-HT là một chức danh chuyên môn, nghiệp vụ thuộc

Tiếp đó, Nghị định số 183/1998/NĐ-CP ngày 10/10/1998 của Chính phủ quy định
về đăng ký hộ tịch thì thuật ngữ Cán bộ TP-HT xuất hiện tại Điều 11và là người
làm việc tại UBND cấp xã.
Giai đoạn từ năm 2003 đến nay, chức danh Công chức TP-HT lần đầu tiên
xuất hiện trong Nghị định số 114/2003/NĐ-CP ngày 10/10/2003 của Chính phủ quy
định về cán bộ, công chức xã, phường, thị trấn. Tại điểm e khoản 2 Điều 2 thì
những người được tuyển dụng, giao giữ chức danh chuyên môn, nghiệp vụ thuộc
UBND cấp xã, trong đó có chức danh TP-HT. Sau khi Nghị định 114/2003/NĐ-CP
ra đời thì các văn bản khác của nhà nước ta đều nhắc tới chức danh công chức này.
Cụ thể, đó là các văn bản như:
Nghị định số 121/2003/NĐ-CP ngày 21/10/2003 của Chính phủ về chế độ,
chính sách đối với cán bộ, công chức ở xã, phường, thị trấn; Quyết định số
04/2004/QĐ0BNV ngày 16/01/2004 của Bộ trưởng Bộ nội vụ về việc ban hành quy
định tiêu chuẩn cụ thể đối với cán bộ, công chức, xã phường thị trấn; Nghị định số
158/2005/NĐ-CP về đăng ký, quản lý hộ tịch; Nghị định số 79/2007/NĐ-CP về cấp
bản sao từ số gốc, chứng thực bản sao từ bản chính, chứng thực chữ ký; Thông tư số
01/2008/TT-BTP hướng dẫn thực hiện một số quy định của Nghị định số
158/2005/NĐ-CP ngày 27/12/2005 của Chính phủ về đăng ký và quản lý hộ tịch;
Thông tư số 01/2009/TTLT-BTP-BNV hướng dẫn chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn
và cơ cấu tổ chức của Sở Tư pháp thuộc UBND tỉnh, Phòng Tư pháp thuộc UBND
cấp huyện và công tác Tư pháp của UBND cấp xã; Nghị định số 92/2009/NĐ-CP
về chức danh, số lượng, một số chế độ chính sách đối với cán bộ, công chức cấp xã

13


và những người hoạt động chuyên trách ở cấp xã; Nghị định số 06/2012/NĐ-CP của
Chính phủ sửa đổi bổ sung một số điều cảu các Nghị định về hộ tịch, hôn nhân và
gia đình và chứng thực; Nghị định số 112/2011/NĐ-CP của Chính phủ về công
chức cấp xã; Thông tư số 06/2012/TT-BNV của Bộ Nội vụ hướng dẫn về chức

thể nhằm nâng cao nhận thức, ý thức pháp luật cho họ. Khi phân tách hai khái niệm
này, việc xác định các chủ thể thực hiện, cách thức thực hiện GDPL sẽ khó tách
bạch mà có sự trùng lắp, vì hoạt động GDPL không giới hạn chỉ là việc GDPL trong
nhà trường với các chủ thể và đối tượng cụ thể là nhà giáo và người học.
Nếu thống nhất hai khái niệm, PBGDPL có mối liên hệ mật thiết với nhau,
trong phổ biến có giáo dục, trong giáo dục có phổ biến. Nếu tách riêng hai khái
niệm thì đây là một tập hợp từ ghép giữa hai từ “phổ biến” và “giáo dục” nên xét về
bản chất ngữ nghĩa là khác nhau, đồng thời hai hoạt động này có chủ thể thực hiện,
đối tượng điều chỉnh cũng như cách thức thực hiện khác nhau. Tuy nhiên, các ý
kiến theo quan điểm tách biết chưa đi sâu phân tích và chỉ ra được những khác biệt
cụ thể nói trên về nội hàm hoạt động liên quan đến hai khái niệm.
Về khái niệm PBGDPL, theo “Sổ tay hướng dẫn nghiệp vụ PBGDPL”[22]
PBGDPL là một từ ghép hai từ PBPL và GDPL. Cả cụm từ PBGDPL có hai nghĩa:
Thứ nhất, theo nghĩa hẹp, đó là việc truyền bá pháp luật cho đối tượng nhằm nâng
cao tri thức, tình cảm, niềm tin pháp luật cho đối tượng, từ đó nâng cao ý thức tôn
trọng pháp luật, nghiêm chỉnh chấp hành pháp luật của đối tượng. Thứ hai, theo
nghĩa rộng, đó là một quá trình tác động có định hướng của chủ thể PBGDPL đến ý
thức của con người. Do vậy, PBGDPL bao gồm tất cả các công đoạn phục vụ cho
công tác PBGDPL. Nó được xác định là một khâu của hoạt động tổ chức thực hiện
pháp luật, là hoạt động có định hướng có tổ chức, có chủ định nhằm mục đích hình
thành ở đối tượng được tác động tri thức pháp lý, tình cảm và hành vi xử sự phù
hợp với các đòi hỏi của hệ thống pháp luật hiện hành với các hình thức, phương
tiện, phương pháp đặc thù; là quá trình tác động thường xuyên, liên tục, lâu dài của
chủ thể lên đối tượng; là cầu nối để truyền tải pháp luật vào cuộc sống.
Đối với khái niệm phổ biến pháp luật:
Theo Từ điển Tiếng Việt, “phổ biến là làm cho đông đảo mọi người biết đến
một vấn đề, một tri thức bằng cách truyền đạt trực tiếp hay thông qua hình thức nào
15



văn bản pháp luật, nghĩa là số đông nhân dân lao động trong xã hội chưa có điều
17



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status