Thẩm định dự thảo văn bản quy phạm pháp luật của hội đồng nhân dân và ủy ban nhân dân cấp tỉnh-qua thực tiễn thành phố Hà Nội - Pdf 25

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT

NGUYỄN THỊ THANH TÂM
THẨM ĐỊNH DỰ THẢO VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP
LUẬT
CỦA HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN VÀ ỦY BAN NHÂN DÂN
CẤP TỈNH -
QUA THỰC TIỄN THÀNH PHỐ HÀ NỘI Chuyên ngành: L lun v lịch s nh nƣc v php lut
Mã số: 60 38 01 01
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Cán bộ hướng dẫn khoa học: PGS.TS. BÙI XUÂN ĐỨC



MỤC LỤC

Trang
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Mục lục
Danh mục những chữ viết tắt
Danh mục các bảng
MỞ ĐẦU 1
Chƣơng 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THẨM ĐỊNH DỰ THẢO VĂN BẢN
QUY PHẠM PHÁP LUẬT CỦA HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN VÀ
ỦY BAN NHÂN DÂN CẤP TỈNH 11
1.1. Khi niệm, đặc điểm, thẩm quyền ban hnh văn bản quy
phạm php lut của Hội đồng nhân dân v Ủy ban nhân
dân cấp tỉnh 11
1.1.1. Khái niệm, đặc điểm 11
1.1.2. Thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Hội
đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh 15
1.2. Thẩm định dự thảo văn bản quy phạm php lut của Hội
đồng nhân dân v Ủy ban nhân dân cấp tỉnh 19
1.2.1. Khái niệm thẩm định 19
1.2.2. Chủ thể thẩm định 23
1.2.3. Đối tượng và phạm vi thẩm định 24

2.2.5. Việc tiếp thu, giải trình, gửi ý kiến phản hồi cho cơ quan thẩm
định chưa được chú trọng 66
2.2.6. Về chất lượng văn bản thẩm định 67
2.2.7. Về quy trình thẩm định 70
2.3. Nguyên nhân của những bất cp, hạn chế trong hoạt động
thẩm định văn bản quy phạm php lut của Hội đồng
nhân dân v Ủy ban nhân dân thnh phố H Nội 70 2.3.1. Hệ thống pháp luật nói chung và pháp luật xây dựng ban hành
văn bản quy phạm pháp luật của HĐND và UBND nói riêng
còn nhiều bất cập ảnh hưởng đến hoạt động thẩm định 70
2.3.2. Lực lượng cán bộ làm công tác thẩm định còn hạn chế về số
lượng và chất lượng 77
2.3.3. Sự phối hợp giữa cơ quan thẩm định với cơ quan tổ chức có
liên quan còn hạn chế, chưa đồng bộ kịp thời 79
2.3.4. Các điều kiện cơ sở vật chất kỹ thuật và kinh phí bảo đảm cho
công tác thẩm định chưa đủ đáp ứng cho công tác này trên thực tế 80
Kết lun chƣơng 2 82
Chƣơng 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƢỢNG
THẨM ĐỊNH DỰ THẢO VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP
LUẬT CỦA HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN VÀ ỦY BAN NHÂN
DÂN CẤP TỈNH 84
3.1. Yêu cầu đổi mi nhằm nâng cao chất lƣợng thẩm định dự thảo
văn bản quy phạm php lut của Hội đồng nhân dân v Ủy
ban nhân dân cấp tỉnh 84
3.2. Một số giải php nhằm nâng cao chất lƣợng thẩm định dự thảo
văn bản quy phạm php lut của Hội đồng nhân dân v Ủy
ban nhân dân cấp tỉnh 86
3.2.1. Giải pháp về tổ chức thực hiện việc thẩm định 86

Trang
Bảng 2.1.
Tổng số văn bản QPPL của HĐND và UBND từ năm
2008-2012
43
Bảng 2.2.
Tình hình quản lý hồ sơ gửi thẩm định từ năm 2008-2012
45
Bảng 2.3.
Tình hình thực hiện thẩm định dự thảo văn bản QPPL của
HĐND và UBND thành phố Hà Nội từ năm 2008-2012
48
Bảng 2.4.
Tỉ lệ văn bản QPPL của HĐND và UBND thành phố Hà
Nội được thẩm định từ năm 2008-2012
49
Bảng 2.5.
Số lượng Văn bản thẩm định và kiến nghị điều chỉnh về nội
dung bởi phòng Văn bản Pháp quy – Sở Tư Pháp thành phố
Hà Nội từ năm 2008-2012
60
Bảng 2.6.
Cơ cấu số lượng, trình độ công chức phòng Văn bản pháp
quy - Sở Tư pháp thành phố Hà Nội tính đến tháng 12-2013
77
và vì nhân dân; đổi mới căn bản cơ chế xây dựng và thực hiện pháp
luật; phát huy vai trò và hiệu lực của pháp luật để góp phần quản lý
xã hội, giữ vững ổn định chính trị, phát triển kinh tế, hội nhập quốc
tế, xây dựng Nhà nước trong sạch, vững mạnh, thực hiện quyền con
người, quyền tự do, dân chủ của công dân, góp phần đưa nước ta trở
thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại vào năm 2020 [15].
Theo quy định của Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm
2008, hoạt động xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật bao gồm 2
nhiều bước kế tiếp nhau bao gồm: Lập kế hoạch xây dựng văn bản quy
phạm pháp luật; Soạn thảo văn bản quy phạm pháp luật; Lấy ý kiến đóng
góp vào dự thảo văn bản quy phạm pháp luật; Thẩm định, thẩm tra dự thảo
văn bản quy phạm pháp luật; Thông qua văn bản quy phạm pháp luật[32].
Trong các hoạt động kể trên, thẩm định dự thảo văn bản quy phạm pháp
luật là hoạt động quan trọng, góp phần quyết định đến chất lượng của văn
bản quy phạm pháp luật.
Đối với dự thảo văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân và
Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, hoạt động thẩm định được tiến hành bởi Sở Tư
pháp. Sở Tư pháp có trách nhiệm thẩm định toàn bộ nội dung và hình thức
của dự thảo văn bản quy phạm pháp luật trước khi trình Hội đồng nhân dân và
Ủy ban nhân dân cấp tỉnh thông qua[31]. Tuy nhiên, thực tế hiện nay cho
thấy, quy định của pháp luật về thẩm định cũng như cách thức, chất lượng
thẩm định dự thảo văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân và Ủy
ban nhân dân cấp tỉnh còn có nhiều bất cập dẫn đến chất lượng ban hành văn
bản chưa tốt, chưa được đảm bảo được tính hợp pháp, hợp hiến cũng như tính
khả thi của văn bản trên thực tế.
Riêng thủ đô Hà Nội, với những đặc thù về vị trí địa lý, kinh tế, văn
hóa, xã hội, hoạt động thẩm định dự thảo văn bản quy phạm pháp luật của

nghiên cứu quan tâm đề cập:
- Giáo trình Xây dựng văn bản pháp luật của Trường Đại học Luật Hà
Nội. Quy trình xây dựng văn bản QPPL được quy định trực tiếp tại Chương II
của Giáo trình với những nội dung bao gồm: Những vấn đề chung về xây
dựng văn bản QPPL (về thẩm quyền, về thủ tục ban hành, về vai trò và thể
thức của văn bản QPPL); Soạn thảo các nội dung của văn bản QPPL (soạn
thảo lời nói đầu, soạn thảo các căn cứ, soạn thảo quy định về phạm vi tác
động, soạn thảo quy định về đối tượng tác động…). Cuốn giáo trình đã giúp 4
cho người đọc nắm được các vấn đề chung nhất của hoạt động xây dựng, ban
hành văn bản QPPL trong đó có hoạt động thẩm định dự thảo văn bản quy
phạm pháp luật, từ đó có được nền tảng để nghiên cứu hoạt động xây dựng,
ban hành văn bản QPPL nói chung cũng hoạt động thẩm định dự thảo văn bản
quy phạm pháp luật của HĐND, UBND cấp tỉnh nói riêng.
- Ths. Đoàn Thị Tố Uyên và Trần Hồng Nhung (2010), “Nhận diện đặc
trưng của văn bản quy phạm pháp luật, tiền đề của hoạt động thẩm tra, thẩm
định, Tài liệu hội thảo khoa học “thẩm định, thẩm tra dự thảo văn bản quy
phạm pháp luật”,[54]. Bài viết đã đưa ra cách nhận diện những đặc trưng cơ
bản của văn bản quy phạm pháp luật, là cơ sở tiền đề để hoạt động thẩm định
thực đúng đối tượng, từ đó góp phần nâng cao chất lượng của hoạt động xây
dựng ban hành văn bản quy phạm pháp luật nói chung của hoạt động thẩm
định dự thảo văn bản quy phạm pháp luật nói riêng.
- Nguyễn Cửu Việt trong bài viết “Trở lại khái niệm văn bản quy phạm
pháp luật”[56] đăng trên tạp chí Nghiên cứu lập pháp đã chỉ ra những khiếm
khuyết trong các định nghĩa về văn bản trong hệ thống pháp luật hiện hành.
Trên cơ sở đó tác giả đã đưa ra những phản biện để chứng minh cho quan
điểm: Văn bản QPPL không chỉ là những văn bản có hoặc chứa hoặc đề ra,
ban hành QPPL, mà bao gồm tất cả các văn bản có chức năng pháp lý như

Nội. [10]. Nội dung cuốn sổ tay này đã chỉ ra và phân tích các bước trong quy
trình xây dựng và ban hành văn bản quy phạm pháp luật của HĐND và
UBND, trong đó có hoạt động thẩm định dự thảo văn bản quy phạm pháp
luật. Tuy nhiên do phạm vi nghiên cứu rộng (gồm nhiều công đoạn trong quy
trình xây dựng và ban hành văn bản quy phạm pháp luật), nên mặc dù hoạt
động thẩm định cũng có được đề cập nhưng chưa được nghiên cứu một cách
chuyên sâu. 6
- Thạc sĩ Phí Thị Thanh Tuyền (Đại học Luật Hà Nội) trong bài viết
“Nâng cao hiệu quả hoạt động thẩm định, thẩm tra dự thảo văn bản quy
phạm pháp luật”[47] đăng trên tạp chí Nghiên cứu lập pháp năm 2012 đã đưa
ra các khái niệm về thẩm định, thẩm tra, phân biệt thẩm định với thẩm tra; vai
trò của hoạt động thẩm định, thẩm tra; một số giải pháp nâng cao hiệu quả
hoạt động thẩm định, thẩm tra. Tuy nhiên bài viết chủ yếu dừng lại ở góc độ
lý luận, chưa đưa ra được những số liệu, dẫn chứng thuyết phục.
- Thạc sĩ Đinh Công Tuấn (Viện Khoa học pháp lý – Bộ Tư pháp) trong
bài viết “Hoàn thiện pháp luật về thẩm định dự thảo văn bản quy phạm pháp
luật của cơ quan tư pháp địa phương”[46] đã chỉ ra những bất cập trong các
quy định của pháp luật về thẩm định, từ đó đề ra 7 kiến nghị trong đó tập
trung vào vấn đề cần quy định việc thẩm định tính khả thi là bắt buộc và nâng
cao giá trị pháp lý của văn bản thẩm định.
- Thạc sỹ Ngô Linh Ngọc, Đại học quốc gia Hà Nội, năm 2013 trong
luận văn thạc sỹ “Thẩm định và thẩm tra dự thảo văn bản quy phạm pháp
luật do cơ quan nhà nước địa phương ban hành”[26] đã có những nội dung
nghiên cứu về thẩm định dự thảo văn bản quy phạm pháp luật của chính
quyền địa phương, tuy nhiên phạm do phạm vi và đối tượng nghiên cứu rộng
(bao gồm cả hoạt động thẩm định và thẩm tra, phạm vi trên toàn quốc bao
gồm cả hai cấp hành chính cấp tỉnh và cấp huyện) nên nội dung về thẩm định

thành phố Hà Nội” nhằm mục đích sau:
Thứ nhất: Nghiên cứu những vấn đề lý luận về thẩm định dự thảo văn
bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân cấp tỉnh.
Thứ hai: Nêu ra những bất cập, tồn tại về thẩm định dự thảo văn bản
quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân cấp tỉnh,
đồng thời đưa ra các giải pháp nhằm hoàn thiện quy định của pháp luật về
thẩm định cũng như nâng cao chất lượng của hoạt động thẩm định dự thảo
văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân cấp 8
tỉnh trên thực tế.
Trên cơ sở mục đích nghiên cứu, nhiệm vụ cần phải triển khai bao gồm:
Thứ nhất: Phân tích và làm rõ những vấn đề lý luận về thẩm định văn
bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân cấp
tỉnh như: Khái niệm và đặc điểm văn bản quy phạm pháp luật của HĐND
và UBND; định nghĩa về thẩm định, đặc điểm, vai trò, giá trị pháp lý của
văn bản thẩm định; nguyên tắc thẩm định; các yếu tố tác động đến hoạt
động thẩm định
Thứ hai: Phân tích là làm rõ những bất cập, tồn tại về thẩm định dự
thảo văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân
dân cấp tỉnh.
Thứ ba: Đề xuất giải pháp nhằm nâng cao chất lượng thẩm định dự
thảo văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân
cấp tỉnh trên thực tế.
4. Đối tƣợng v phạm vi nghiên cứu của lun văn
- Đối tượng nghiên cứu: Thẩm định dự thảo văn bản quy phạm pháp
luật của Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân cấp tỉnh- qua thực tiễn thành
phố Hà Nội.
- Địa bàn nghiên cứu: Thành phố Hà Nội.

dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân và Ủy
ban nhân dân nói riêng, đặc biệt là các công trình nghiên cứu về thẩm định
dự thảo văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân và Ủy ban
nhân dân cấp tỉnh.
- Đưa ra những cách đánh giá tổng hợp, khái quát về thẩm định dự
thảo văn bản quy phạm pháp luật: vai trò, ý nghĩa, sự cần thiết của hoạt
động này đối với quy trình xây dựng văn bản quy phạm pháp luật của
HĐND và UBND cấp tỉnh. 10
- Có những kiến giải phù hợp, chính xác về nguyên nhân của những bất
cập, thiếu sót cũng như đưa ra những giải pháp logic, có sức thuyết phục làm
cơ sở cho việc nghiên cứu các định hướng đổi mới, cải tiến hoạt động thẩm
định và các quy định của pháp luật về thẩm định cũng như nâng cao được chất
lượng của hoạt động thẩm định dự thảo văn bản quy phạm pháp luật của Hội
đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân cấp tỉnh.
* Ý nghĩa thực tế
- Giúp nhìn nhận chính xác, khách quan thực trạng về thẩm định dự
thảo văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân
dân cấp tỉnh
- Có thể đề xuất áp dụng một vài giải pháp phù hợp vào chính hoạt
động thẩm định dự thảo văn bản quy phạm pháp luật của HĐND và UBND
cấp tỉnh trên thực tế.
7. Kết cấu của lun văn
Chương 1. Cơ sở lý luận về thẩm định dự thảo văn bản quy phạm
pháp luật của Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố thuộc
Trung ương (gọi chung là cấp tỉnh).
Chương 2. Thực trạng thẩm định dự thảo văn bản quy phạm pháp luật
của Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân cấp tỉnh (qua

Theo Luật Ban hành văn bản QPPL năm 2008 (sau đây gọi tắt là Luật
năm 2008) thì:
Văn bản quy phạm pháp luật là văn bản do cơ quan nhà
nước ban hành hoặc phối hợp ban hành theo thẩm quyền, hình
thức, trình tự, thủ tục được quy định trong Luật này hoặc trong
Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân
dân, Ủy ban nhân dân, trong đó có quy tắc xử sự chung, có hiệu
lực bắt buộc chung, được Nhà nước bảo đảm thực hiện để điều 12
chỉnh các quan hệ xã hội[32].
Cũng tại Điều 1 Luật Ban hành văn bản QPPL của Hội đồng nhân dân,
Ủy ban nhân dân năm 2004 (sau đây gọi tắt là Luật năm 2004) quy định về
khái niệm văn bản QPPL của HĐND, UBND như sau:
Văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Uỷ ban
nhân dân là văn bản do Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân ban
hành theo thẩm quyền, trình tự, thủ tục do Luật này quy định, trong
đó có quy tắc xử sự chung, có hiệu lực trong phạm vi địa phương,
được Nhà nước bảo đảm thực hiện nhằm điều chỉnh các quan hệ xã
hội ở địa phương theo định hướng xã hội chủ nghĩa[31].
Định nghĩa của Luật đã nêu được những dấu hiệu đặc trưng của văn
bản QPPL nói chung cũng như văn bản QPPL của HĐND, UBND cấp tỉnh
nói riêng như: do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành; hình thức, trình
tự, thủ tục được quy định trong Luật; có chứa quy tắc xử sự chung, có hiệu
lực bắt buộc chung, được Nhà nước bảo đảm thực hiện và có mục đích để
điều chỉnh các quan hệ xã hội.
Bàn về định nghĩa này, theo quan điểm của Đoàn Thị Tố Uyên trong
Luận án tiến sĩ “Kiểm tra và xử lý văn bản QPPL ở Việt Nam hiện nay”[55],
đã chỉ ra trong các dấu hiệu này, chứa đựng quy tắc xử sự chung được coi là

các chủ thể rơi vào các tình huống mà pháp luật quy định họ phải tuân theo.
Một trong những đặc điểm nữa của văn bản quy phạm pháp luật là nó
được áp dụng nhiều lần trên thực tế. Nếu như một văn bản áp dụng pháp luật
chỉ được áp dụng một lần trên thực tế và sau khi áp dụng nó tự mất đi hiệu lực
thì văn bản QPPL được áp dụng nhiều lần, trong mọi trường hợp khi có sự
kiện pháp lý xảy ra. Sau mỗi lần áp dụng văn bản QPPL không mất đi hiệu
lực. Nó chỉ bị mất hiệu lực khi có văn bản QPPL mới thay thế, huỷ bỏ, bãi bỏ.
Hai là, văn bản QPPL của HĐND, UBND cấp tỉnh do cơ quan nhà
nước có thẩm quyền ban hành và bảo đảm thực hiện. 14
Cụ thể, văn bản QPPL của HĐND, UBND cấp tỉnh phải do HĐND,
UBND cấp tỉnh ban hành theo thẩm quyền được quy định tại Luật Tổ chức
Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân và Luật ban hành văn bản quy phạm
pháp luật của HĐND và UBND năm 2004.
Tuy nhiên, không phải bất cứ văn bản nào của HĐND và UBND cấp
tỉnh ban hành đều là văn quy phạm pháp luật, ví dụ: Thông báo, công văn, kế
hoạch của UBND tỉnh; Quyết định cá biệt
Khi văn bản QPPL nói chung và văn bản QPPL của HĐND, UBND
cấp tỉnh nói riêng được ban hành, Nhà nước đảm bảo thực hiện trên thực tế.
Đây là đặc trưng cơ bản để phân biệt văn bản QPPL với các văn bản thông
thường khác của các cơ quan, tổ chức chính trị – xã hội không có thẩm quyền
ban hành văn bản QPPL. Văn bản QPPL được Nhà nước bảo đảm thi hành
bằng các biện pháp như: tuyên truyền, giáo dục, thuyết phục và các biện pháp
khác về tổ chức, hành chính, kinh tế; trong trường hợp cần thiết thì Nhà nước
áp dụng các biện pháp cưỡng chế bắt buộc thi hành và quy định chế tài áp
dụng đối với người có hành vi vi phạm.
Ba là, văn bản QPPL của HĐND, UBND cấp tỉnh được ban hành đúng
hình thức pháp luật quy định:

HĐND, UBND năm 2004 thì “Văn bản QPPL của HĐND được ban hành
dưới hình thức Nghị quyết. Văn bản QPPL của Uỷ ban nhân dân được ban
hành dưới hình thức quyết định, chỉ thị”[31].
Như vậy, thẩm quyền ban hành văn bản QPPL đã được quy định rõ.
Ngoài HĐND và tập thể UBND thì Thường trực HĐND, các ban của HĐND
hay các cơ quan chuyên môn thuộc UBND, Chủ tịch UBND đều không có
thẩm quyền được đặt ra các QPPL.
Tại Khoản 2 Điều 2 Nghị định số 91/2006/NĐ-CP ngày 06/09/2006
của Chính phủ Quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Ban hành văn
bản QPPL của HĐND, UBND, quy định những văn bản mặc dù được ban 16
hành dưới hình thức Nghị quyết, Quyết định, Chỉ thị nhưng không phải là
văn bản QPPL như:
Nghị quyết về miễn nhiệm, bãi nhiệm đại biểu HĐND và các
chức vụ khác; nghị quyết phê chuẩn kết quả bầu cử đại biểu HĐND
và bầu các chức vụ khác; nghị quyết về việc giải tán HĐND; nghị
quyết về việc phê chuẩn cơ cấu cơ quan chuyên môn thuộc UBND
tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, huyện, quận, thị xã, thành
phố thuộc tỉnh; nghị quyết về việc thành lập, sáp nhập, giải thể một
số cơ quan chuyên môn thuộc UBND; quyết định thành lập các ban,
ban chỉ đạo, hội đồng, Ủy ban lâm thời để thực hiện nhiệm vụ trong
một thời gian xác định; nghị quyết về chương trình xây dựng nghị
quyết của HĐND; nghị quyết hủy bỏ, bãi bỏ văn bản QPPL của
HĐND, UBND; nghị quyết về tổng biên chế ở địa phương; quyết
định về chương trình xây dựng quyết định, chỉ thị của UBND;
quyết định phê duyệt kế hoạch, quy hoạch phát triển đối với một
ngành, một đơn vị hành chính địa phương; quyết định giao chỉ tiêu
cho từng cơ quan, đơn vị; quyết định phê duyệt quy hoạch phát

(“quy chế” hay “quy định” hay “bản quy định”…) là tùy nghi. Việc thể hiện
nội dung các quy định cũng không kém phần linh hoạt. Có trường hợp, hiệu
lực và trách nhiệm thi hành văn bản (và thậm chí ký ban hành) được xác định
tại cả hai văn bản (chính và phụ). Khả năng sử dụng văn bản loại này và mối
quan hệ giữa văn bản chính – phụ không phải là vấn đề kỹ thuật đơn thuần,
mà là một nội dung quan trọng của hình thức văn bản QPPL.
1.1.2.2. Thẩm quyền nội dung
* Đối với văn bản QPPL của HĐND cấp tỉnh
Nội dung Nghị quyết của HĐND cấp tỉnh được xác định tại Điều 12
của Luật ban hành văn bản QPPL của HĐND, UBND năm 2004. Theo đó,

Trích đoạn Quá trình thẩm định chưa chú ý tới việc đánh giá tác động của Tổ chức phiên họp đôi khi còn mang tính hình thức, chưa lô Việc tiếp thu, giải trình, gửi ý kiến phản hồi cho cơ quan thẩm Nguyên nhân của những bất cập, hạn chế trong hoạt động Sự phối hợp giữa cơ quan thẩm định với cơ quan tổ chức có
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status