Văn bản quy phạm pháp luật của hội đồng nhân dân qua thực tiễn tỉnh thanh hóa - Pdf 39

I HC QUC GIA H NI
KHOA LUT

PHAN TH THANH HUYN

Văn bản quy phạm pháp luật
của Hội đồng nhân dân - qua thực tiễn tỉnh Thanh Hóa

LUN VN THC S LUT HC

H NI - 2016


I HC QUC GIA H NI
KHOA LUT

PHAN TH THANH HUYN

Văn bản quy phạm pháp luật
của Hội đồng nhân dân - qua thực tiễn tỉnh Thanh Hóa
Chuyờn ngnh: Lý lun v Lch s Nh nc v Phỏp lut
Mó s: 60 38 01 01

LUN VN THC S LUT HC

Cỏn b hng dn khoa hc: TS. PHM TH DUYấN THO

H NI - 2016


LỜI CAM ĐOAN


1.2.1. Văn bản QPPL của HĐND là sự cụ thể hóa các qui định của
pháp luật và văn bản của cơ quan Nhà nước cấp trên ........................ 12
1.2.2. Văn bản QPPL của HĐND điều chỉnh các quan hệ xã hội phát
sinh ở địa phương ............................................................................... 13
1.3.

Nguyên tắc xây dựng, ban hành VBQPPL của HĐND ................ 14

1.4.

Thẩm quyền ban hành và hình thức văn bản QPPL của hội
đồng nhân dân .................................................................................. 15

1.5.

Trình tự, thủ tục ban hành văn bản QPPL của hội đồng nhân dân ..... 16

1.6.

Hiệu lực văn bản QPPL của hội đồng nhân dân ........................... 21

1.6.1. Hiệu lực theo thời gian ....................................................................... 21
1.6.2. Hiệu lực theo không gian ................................................................... 23
1.6.3. Hiệu lực theo đối tượng áp dụng ........................................................ 24
1.7.

Tiêu chuẩn đánh giá chất lƣợng văn bản quy phạm pháp luật
do hội đồng nhân dân ban hành...................................................... 25


Thực trạng hoạt động kiểm tra và xử lý VBQPPL của HĐND
các cấp trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa ............................................. 65

2.3.1. Những thành tựu đạt được.................................................................. 65
2.3.2. Những hạn chế còn tồn tại.................................................................. 66
2.3.3. Nguyên nhân của những tồn tại trong hoạt động kiểm tra và xử lý
văn bản QPPL của hội đồng nhân dân các cấp trên địa bàn tỉnh
Thanh Hóa ........................................................................................... 69
CHƢƠNG 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƢỢNG
VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT CỦA HỘI ĐỒNG
NHÂN DÂN CÁC CẤP TỈNH THANH HÓA .............................. 71
3.1.

Hoàn thiện hệ thống pháp luật một cách đồng bộ và thống nhất ..... 71

3.2.

Hoàn thiện hoạt động ban hành VBQPPL của HĐND các cấp ....... 73

3.3.

Tăng cƣờng công tác kiểm tra, xử lý đối với văn bản QPPL
và hoạt động ban hành văn bản QPPL .......................................... 81

KẾT LUẬN .................................................................................................... 84
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ..................................................... 87


DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
HĐND:

lý của địa phương mình. Tuy nhiên việc ban hành VBQPPL của địa phương
trong suốt một thời gian dài chưa có một văn bản luật nào điều chỉnh cụ thể,
mỗi địa phương phải dựa vào kinh nghiệm mà xây dựng cách thức, quy trình
ban hành VBQPPL của riêng mình, do vậy công tác ban hành văn bản trong
thời gian qua đã chưa thật sự đi vào nề nếp. Ngày 03 tháng 12 năm 2004, Luật
Ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân
dân được Quốc hội thông qua và có hiệu lực thi hành ngày 01 tháng 4 năm
2005 đã tạo cơ sở pháp lý quan trọng cho công tác ban hành VBQPPL của địa
phương. Đây là đạo luật quan trọng trong việc quy định về trình tự, thủ tục
soạn thảo, ban hành VBQPPL ở địa phương các cấp và có ý nghĩa rất lớn đối
với hoạt động quản lý điều hành ở địa phương.
Sau khi Luật có hiệu lực, hàng năm có hàng ngàn VBQPPL của địa

1


phương nhất là cấp tỉnh đã được xây dựng và ban hành.Các văn bản đó góp
phần rất lớn trong việc cùng với Trung ương giải quyết các vấn đề bức xúc
hiện nay của xã hội, nhằm góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội cũng
như xây dựng thành công công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.
Tuy nhiên, bên cạnh các kết quả đạt được thì chất lượng văn bản QPPL của
các cấp chính quyền địa phương nói chung, văn bản QPPL của HĐND nói
riêng vẫn còn nhiều hạn chế, chưa đáp ứng được yêu cầu đổi mới và hội nhập
trong giai đoạn hiện nay.
Thanh Hóa là tỉnh có nền kinh tế đang phát triển năng động, có nhiều
tiềm năng trong tương lai. Để đáp ứng được nhu cầu phát triển mạnh mẽ về
kinh tế xã hội của tỉnh, nâng cao năng lực cạnh tranh, thu hút đầu tư trong và
ngoài nước, vấn đề cải cách hành chính, nâng cao năng lực và hiệu quả quản
lý của các cấp chính quyền địa phương đang đặt ra cấp bách, trong đó, vấn đề
nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước thông qua các văn bản QPPL nói chung

thể sau:
- Phân tích các vấn đề lý luận về văn bản quy phạm pháp luật nói chung và
văn bản QPPL của HĐND nói riêng.
- Nghiên cứu quy định của pháp luật hiện hành về ban hành và kiểm tra, xử
lý văn bản QPPL của HĐND.
- Phân tích, đánh giá thực tiễn hoạt động ban hành và kiểm tra, xử lý văn
bản QPPL của HĐND các cấp trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa, trọng tâm là cấp tỉnh.
- Đề xuất giải pháp nhằm nâng cao chất lượng văn bản QPPL của HĐND
trong giai đoạn hiện nay.
3. Tính mới và những đóng góp của đề tài
Về văn bản quy phạm pháp luật nói chung và văn bản QPPL của chính
quyền địa phương nói riêng đã có một số đề tài nghiên cứu như: luận văn thạc
sỹ “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về ban hành văn bản quy phạm pháp
luật ở Việt Nam hiện nay” của Đoàn Thị Tố Uyên, luận văn thạc sỹ luật học “

3


Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về văn bản quy phạm pháp luật của chính
quyền địa phương ở Việt Nam hiện nay” của Hoàng Minh Hà… Tuy nhiên,
cho đến nay, chưa có đề tài nào nghiên cứu một cách toàn diện và có hệ thống
về văn bản QPPL của HĐND các cấp trong phạm vi địa phương cụ thể là tỉnh
Thanh Hóa, trên cơ sở đó đề ra các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng văn
bản QPPL của HĐND các cấp trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa nói riêng và ở
nước ta nói chung.
Những kết quả nghiên cứu trong luận văn có giá trị tham khảo cho việc
nghiên cứu, xây dựng và hoàn thiện pháp luật về hoạt động ban hành và kiểm
tra, xử lý văn bản QPPL của HĐND.Luận văn có thể sử dụng làm tài liệu
tham khảo trong quá trình giảng dạy và học tập trong các trường có đào tạo
chuyên ngành luật học.Luận văn còn có giá trị tham khảo đối với hoạt động

Nội, 2003;
- Đoàn Thị Tố Uyên, “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về văn bản
QPPL của chính quyền địa phương ở Việt Nam hiện nay”, luận văn thạc sỹ
luật học, Hà Nội, 2003;
- Hoàng Minh Hà, “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về văn bản
QPPL của chính quyền địa phương ở Việt Nam hiện nay”, luận văn thạc sỹ
luật học, Hà Nội, 2004;
- Trần Thị Vượng, Vấn đề chuẩn hóa thể thức văn bản QPPL, Tạp chí
luật học số 10, 2008;
- Hoàng Thị Ngân, trách nhiệm về việc ban hành văn bản QPPL sai
trái, Tạp chí Nhà nước và pháp luật số 5, 2008;
- Thạc sỹ Nguyễn Thị Phượng, Về xây dựng và ban hành văn bản
QPPL bảo đảm quyền công dân của chính quyền địa phương hiện nay, Tạp
chí quản lý nhà nước số 3, 2007, Học viện Hành chính Quốc gia;
- Một số tiêu chí cơ bản để ban hành văn bản QPPL có chất lượng tốt,
Tạp chí dân chủ và pháp luật số 5, 2008.

5


- GS.TS Phạm Hồng Thái, “Văn bản quy phạm pháp luật và pháp luật
về văn bản quy phạm pháp luật”, Tạp chí Dân chủ và pháp luật số 7, 2011
Các tác giả trong các công trình nghiên cứu trên đã đưa ra và phân tích
sâu sắc những cơ sở lý luận và thực tiễn của hoạt động ban hành văn bản quy
phạm pháp luật nói chung và của chính quyền địa phương nói riêng, trong đó
có hoạt động ban hành văn bản QPPL của HĐND các cấp, chỉ ra những điểm
bất cập, hạn chế trong quy định pháp luật về ban hành văn bản quy phạm
pháp luật và hoạt động ban hành văn bản QPPL hiện nay. Tuy nhiên, những
vấn đề thực tiễn của hoạt động ban hành văn bản QPPL của HĐND các cấp,
đặc biệt là trên một địa bàn cụ thể như tỉnh Thanh Hóa là một mảng nghiên

khoảng 150 km về phía Nam và cách thành phố Hồ Chí Minh 1.560 km về
hướng Bắc. Đây là một tỉnh lớn của Việt Nam, đứng thứ 5 về diện tích và
thứ 3 về dân số trong số các đơn vị hành chính trực thuộc trung ương, là một
tỉnh “đất rộng, người đông”, có bề dày lịch sử phát triển kinh tế, xã hội. Về
hành chính, Thanh Hóa là tỉnh cực bắc Trung Bộ, tiếp giáp với Tây Bắc Bộ
và đồng bằng Bắc Bộ. Thanh Hóa có 27 đơn vị hành chính trực thuộc, chỉ
đứng sau thành phố Hà Nội. Thanh Hóa có 1 thành phố, 2 thị xã và 24
huyện. Có 639 đơn vị hành chính cấp xã bao gồm 22 phường, 30 thị trấn và
587 xã. Thanh Hóa là tỉnh có nền kinh tế đang phát triển năng động, có
nhiều tiềm năng trong tương lai. Trong bảng xếp hạng về Chỉ số năng lực
cạnh tranh cấp tỉnh của Việt Nam năm 2011, tỉnh Thanh Hóa xếp ở vị trí thứ
24/63 tỉnh thành và trong tương lai, chỉ số này sẽ còn tăng cao hơn nữa với
sự phát triển của Khu kinh tế trọng điểm Nghi Sơn. Để đáp ứng được nhu
cầu phát triển mạnh mẽ về kinh tế xã hội của tỉnh, nâng cao năng lực cạnh
tranh, thu hút đầu tư trong và ngoài nước, vấn đề cải cách hành chính, nâng
cao năng lực và hiệu quả quản lý của các cấp chính quyền địa phương đang
đặt ra cấp bách, trong đó, hoạt động quản lý nhà nước thông qua văn bản
QPPL của các cấp chính quyền nói chung và của HĐND nói riêng có ý
nghĩa và tầm quan trọng đặc biệt.

7


7. Kết cấu luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung
của luận văn gồm 03 chương như sau:
Chương 1: Cơ sở lý luận về văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng
nhân dân
Chương 2: Thực trạng hoạt động ban hành và kiểm tra, xử lý văn bản
QPPL của Hội đồng nhân dân các cấp trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa

ban hành theo thẩm quyền, hình thức, trình tự, thủ tục được quy định trong
Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015. Dấu hiệu này đặt ra

9


yêu cầu chỉ có các cơ quan nhà nước được quy định trong Luật ban hành văn
bản quy phạm pháp luật năm 2015 mới có thẩm quyền ban hành văn bản quy
phạm pháp luật và dưới các hình thức nhất định, như Quốc hội, Uỷ ban
thường vụ Quốc hội, Chính phủ, Bộ, cơ quan ngang bộ... Việc ban hành văn
bản quy phạm pháp luật đòi hỏi phải tuân thủ theo đúng trình tự, thủ tục do
Luật này quy định.
Hai là,VBQPPLlà văn bản có chứa quy phạm pháp luật. Đây được coi
là đặc tính nổi trội của văn bản QPPL, là dấu hiệu cơ bản, mang tính quyết
định để phân biệt văn bản QPPL với văn bản áp dụng pháp luật và văn bản
hành chính thông dụng. Vì việc dự kiến ban hành một văn bản có chứa đựng
''quy phạm pháp luật'' là yếu tố đầu tiên được xác định trong toàn bộ quá trình
ban hành văn bản. Chính yếu tố này đặt ra yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm
quyền ban hành văn bản tuân phải theo trình tự, thủ tục của việc ban hành văn
bản quy phạm pháp luật. Nói cách khác, nếu không có quy phạm pháp luật thì
việc soạn thảo và ban hành văn bản cũng không phải tuân theo trình tự, thủ
tục soạn thảo của văn bản quy phạm pháp luật và cũng không đòi hỏi phải
được ban hành bởi cơ quan nhà nước có thẩm quyền được pháp luật quy định.
Ba là, văn bản QPPL có tính bắt buộc chung. Tính bắt buộc chung của
văn bản QPPL được hiểu là văn bản có hiệu lực bắt buộc đối với mọi chủ thể
khi ở vào điều kiện, hoàn cảnh mà văn bản QPPL quy định. Văn bản QPPL
không đặt ra quy định cho đối tượng chủ thể xác định mà nhằm tới các đối
tượng khái quát, trừu tượng (mọi đối tượng hoặc một, vài nhóm đối tượng)
như công dân, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội… Đây là điểm khác biệt so với
văn bản áp dụng pháp luật, vì đối tượng thi hành của văn bản này luôn được

thể dùng lực lượng công quyền để bảo đảm cho việc áp dụng quy phạm pháp
luật bằng việc áp dụng các chế tài. Các chế tài có thể rất đa dạng: chế tài hình
sự như hình phạt tù hoặc phạt tiền, chế tài dân sự như huỷ bỏ hợp đồng dân
sự, bồi thường thiệt hại dân sự ngoài hợp đồng… Như vậy, bất luận là văn

11


bản quy phạm pháp luật do cơ quan nào có thẩm quyền ban hành hay bất luận
là hình thức văn bản nào (luật, pháp lệnh, nghị quyết, nghị định, quyết định…
do cơ quan nhà nước trung ương hay các cấp chính quyền địa phương ban
hành) thì chúng đều phải được tuân thủ và thực hiện.
1.2. Đặc điểm VBQPPL do HĐND ban hành
Luật Ban hành VBQPPL của HĐND, UBND năm 2004 định nghĩa về
VBQPPL của HĐND và UBND tại khoản 1 Điều 1 như sau: “Văn bản quy
phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân là văn bản do Hội
đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân ban hành theo thẩm quyền, trình tự, thủ tụ
do Luật quy định, trong đó có quy tắc xử sự chung có hiệu lực trong phạm vi
địa phương, được Nhà nước đảm bảo thực hiện nhằm điều chỉnh các quan hệ
xã hội ở địa phương theo định hướng XHCN”.
Luật ban hành văn bản QPPL 2015 đã thống nhất định nghĩa VBQPPL
của HĐND và UBND vào định nghĩa VBQPPL nói chung. Tuy nhiên, bên
cạnh những đặc điểm của văn bản QPPL nói chung, văn bản QPPL của
HĐND còn có những đặc điểm riêng như sau:
1.2.1. Văn bản QPPL của HĐND là sự cụ thể hóa các qui định của
pháp luật và văn bản của cơ quan Nhà nước cấp trên
Về phương diện lý luận và thực tiễn, các cơ quan Nhà nước ở trung
ương không thể ban hành được một hệ thống pháp luật phù hợp với yêu cầu
của mọi địa phương trong toàn quốc.Vì mỗi địa phương có những đặc điểm
riêng về điều kiện địa lý, dân cư, kinh tế xã hội. Chính vì vậy, để phù hợp với

chính trị, văn hóa, xã hội nào do chính quyền địa phương tiến hành quản lý
mà lại không đòi hỏi trách nhiệm của chính quyền địa phương trong việc bảo
đảm thi hành Hiến pháp và pháp luật. Vì vậy, hoạt động ban hành văn bản
QPPL của HĐND luôn gắn liền với hoạt động quản lý các lĩnh vực của đời
sống xã hội ở địa phương và trên cơ sở đó điều chỉnh các quan hệ xã hội đầy
năng động, phức tạp luôn diễn ra hàng ngày ở địa phương. Ngoài ra, hoạt

13


động ban hành văn bản QPPL của HĐND không chỉ giới hạn trong việc bảo
vệ các quyền, các lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức hoặc công dân cụ thể
nào đó, mà trách nhiệm chủ yếu, quan trọng hơn cả là quyết định mọi biện
pháp nhằm tạo điều kiện thuận lợi nhất để các cơ quan, tổ chức và công dân ở
địa phương thực hiện được trên thực tế các quyền và lợi ích hợp pháp của
mình, đồng thời thi hành nghiêm chỉnh các nghĩa vụ pháp lý được Hiến pháp
và pháp luật quy định. Chính vì vậy đối với những quan hệ mới phát sinh mà
chưa được điều chỉnh bởi văn bản QPPL của cơ quan Nhà nước cấp trên, thì
HĐND căn cứ vào chức năng, quyền hạn của mình theo luật định chủ động
ban hành các văn bản QPPL phù hợp với các văn bản của các cơ quan Nhà
nước cấp trên để điều chỉnh các quan hệ này.
1.3. Nguyên tắc xây dựng, ban hành VBQPPL của HĐND
Theo Điều 5 Luật ban hành VBQPPL 2015, việc xây dựng, ban hành
văn bản quy phạm pháp luật phải đảm bảo tuân thủ các nguyên tắc sau:
+ Bảo đảm tính hợp hiến, tính hợp pháp và tính thống nhất của văn bản
quy phạm pháp luật trong hệ thống pháp luật.
+ Tuân thủ đúng thẩm quyền, hình thức, trình tự, thủ tục xây dựng, ban
hành văn bản quy phạm pháp luật.
+ Bảo đảm tính minh bạch trong quy định của văn bản quy phạm
pháp luật.

hành được quy định cụ thể tại các điều 27, 29, 30 của Luật. Theo đó:
+ Hội đồng nhân dân cấp tỉnh ban hành nghị quyết để quy định:
- Chi tiết điều, khoản, điểm được giao trong văn bản quy phạm pháp
luật của cơ quan nhà nước cấp trên;
- Chính sách, biện pháp nhằm bảo đảm thi hành Hiến pháp, luật, văn
bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước cấp trên;
- Biện pháp nhằm phát triển kinh tế - xã hội, ngân sách, quốc phòng, an
ninh ở địa phương;

15


- Biện pháp có tính chất đặc thù phù hợp với điều kiện phát triển kinh
tế - xã hội của địa phương.
+ Hội đồng nhân dân ở đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt ban hành
nghị quyết, Ủy ban nhân dân ở đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt ban hành
quyết định theo quy định của Luật này và các luật khác có liên quan.
+ Hội đồng nhân dân cấp huyện, cấp xã ban hành nghị quyếtđể quy
định những vấn đề được luật giao.
Việc quy định rõ hình thức văn bản QPPL nói chung và của HĐND nói
riêng còn có ý nghĩa thực tiễn sâu sắc, đặc biệt là trong quan hệ giữa Nhà
nước với nhân dân. Bằng hình thức văn bản, đối tượng thi hành có thể nhận
biết ngay ai đã ban hành văn bản đó (ví dụ với hình thức văn bản là nghị
quyết người dân có thể nhận biết ngay đó là văn bản của HĐND).Sự phân biệt
này góp phần thể hiện tính công khai, minh bạch của hệ thống pháp luật.Đồng
thời, việc tuân thủ hình thức của văn bản cũng là một yếu tố chứng minh tính
hợp pháp của văn bản.
1.5. Trình tự, thủ tục ban hành văn bản QPPL của hội đồng nhân dân
Văn bản QPPL của HĐND và UBND có vai trò quan trọng, ảnh hưởng
trực tiếp đến quyền và lợi ích của nhiều tầng lớp nhân dân, do đó cần phải

địa phương, bảo đảm thực hiện các văn bản của cơ quan Nhà nước cấp trên,
bảo đảm các quyền và nghĩa vụ của công dân ở địa phương. Việc lập dự kiến
chương trình xây dựng nghị quyết của HĐND do Thường trực HĐND chủ trì,
phối hợp với UBND và trình HĐND quyết định tại kỳ họp cuối năm. Trong
trường hợp cần điều chỉnh chương trình xây dựng nghị quyết của HĐND thì
Thường trực HĐND phối hợp với UBND điều chỉnh và báo cáo HĐND tại kỳ
họp gần nhất.
Việc dự thảo nghị quyết của HĐND cấp tỉnh do UBND trình hoặc do
cơ quan, tổ chức khác trình theo sự phân công của Thường trực HĐND.
Việc lấy ý kiến về dự thảo nghị quyết của HĐND cấp tỉnh như sau: Căn

17


cứ vào tính chất và nội dung của dự thảo nghị quyết, cơ quan soạn thảo tổ chức
lấy ý kiến của cơ quan, tổ chức hữu quan, đối tượng chịu sự tác động trực tiếp
của nghị quyết. Cơ quan, tổ chức hữu quan được lấy ý kiến có trách nhiệm trả
lời bằng văn bản trong thời hạn năm ngày, kể từ ngày nhận được dự thảo nghị
quyết. Trong trường hợp lấy ý kiến của đối tượng chịu sự tác động trực tiếp của
nghị quyết thì cơ quan lấy ý kiến có trách nhiệm xác định những vấn đề cần lấy
ý kiến, địa chỉ nhận ý kiến và dành ít nhất bảy ngày, kể từ ngày tổ chức lấy ý
kiến để các đối tượng được lấy ý kiến góp ý vào dự thảo nghị quyết.
Nghị quyết của HĐND cấp tỉnh phải được cơ quan tư pháp cùng cấp
thẩm định. Cơ quan tư pháp sau khi nhận được yêu cầu thẩm định phải làm
báo cáo thẩm định và gửi đến cơ quan soạn thảo chậm nhất bảy ngày trước
ngày UBND họp. Cơ quan soạn thảo có trách nhiệm nghiên cứu, tiếp thu ý
kiến thẩm định để chỉnh lý dự thảo nghị quyết.
Sau khi có kết quả thẩm định của cơ quan tư pháp, UBND có trách
nhiệm xem xét, thảo luận tập thể và biểu quyết theo đa số để quyết định việc
trình dự thảo nghị quyết ra HĐND cùng cấp (đối với dự thảo nghị quyết do

phố, khu phố, khối phố về dự thảo nghị quyết bằng các hình thức thích hợp.
+ Xem xét, thông qua dự thảo nghị quyết của Hội đồng nhân dân cấp xã
- Dự thảo nghị quyết của Hội đồng nhân dân cấp xã phải được Ban của
Hội đồng nhân dân cùng cấp thẩm tra trước khi trình Hội đồng nhân dân cấp
xã. Chậm nhất là 03 ngày trước ngày khai mạc kỳ họp Hội đồng nhân dân, Ủy
ban nhân dân gửi tờ trình, dự thảo nghị quyết và các tài liệu có liên quan đến
các đại biểu Hội đồng nhân dân.
- Việc xem xét, thông qua dự thảo nghị quyết tại kỳ họp Hội đồng nhân
dân được tiến hành theo trình tự sau đây:
. Đại diện Ủy ban nhân dân thuyết trình dự thảo nghị quyết;
. Đại diện Ban của Hội đồng nhân dân được phân công thẩm tra trình
bày báo cáo thẩm tra;
. Hội đồng nhân dân thảo luận và biểu quyết thông qua dự thảo nghị quyết.

19



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status