Thẩm định dự thảo văn bản quy phạm pháp luật của hội đồng nhân dân và uỷ ban nhân dân - Pdf 48

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ TƯ PHÁP

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

VŨ THỊ THANH TÚ

THẨM ĐỊNH DỰ THẢO VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT
CỦA HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN VÀ ỦY BAN NHÂN DÂN

Chuyên ngành: Luật Hành chính
Mã số: 60 38 20

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS. BÙI THỊ ĐÀO

HÀ NỘI - 2011


MỤC LỤC
Phần mở đầu
Chương 1: Thẩm định dự thảo văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân
và Ủy ban nhân dân, một số vấn đề lý luận……………….

Trang
1
6

1.1 Khái niệm thẩm định dự thảo văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân và

2.5 Tính thống nhất……………………………………………………………
2.6 Tính khả thi………………………………………………………………..
2.7 Ngôn ngữ, kỹ thuật soạn thảo văn bản…………………………………….
2.8 Tính hợp lý………………………………………………………………...
Kết luận chương 2……………………………………………………………..
Chương 3: Thực trạng thẩm định dự thảo văn bản quy phạm pháp luật của Hội
đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân, phương hướng nâng cao hiệu quả công tác
thẩm định………………………………………………...

24
26
27
29
31
35
38
41
45

16

21
23
24

46

3.1 Thực trạng thẩm định dự thảo văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân và
Ủy ban nhân dân…………………………………………………


Để đạt được mục đích này, một trong những nhiệm vụ cấp thiết là
chúng ta phải sớm hoàn thiện hệ thống pháp luật theo hướng đồng bộ, hiệu
lực và hiệu quả.
Nhu cầu đổi mới tư duy pháp lý đã được đặt ra và quán triệt trong giai
đoạn đấu tranh loại bỏ cơ chế pháp lý của nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung
bao cấp. Hiện tại, nhu cầu đó còn vượt ra khỏi khuôn khổ có tính truyền thống
trong việc xây dựng pháp luật.
Xây dựng và ban hành văn bản quy phạm pháp luật phải dựa trên các
điều kiện khách quan của đời sống xã hội; thực hiện một cách khoa học, minh
bạch; phục vụ quản lý Nhà nước, đồng thời đảm bảo và phù hợp với lợi ích
của cộng đồng. Nói cách khác, xây dựng và ban hành văn bản quy phạm pháp
luật là hoạt động hết sức phức tạp, đòi hỏi tính sáng tạo và độ chính xác cao…
Trong hệ thống pháp luật Việt Nam, văn bản quy phạm pháp luật của
địa phương do Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân chiếm số lượng rất


2

lớn. Các văn bản này là cầu nối quan trọng trong việc triển khai các chủ
trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước đến người dân. Tuy
nhiên, không phải văn bản quy phạm pháp luật nào của Hội đồng nhân dân và
Ủy ban nhân dân cũng được xây dựng và ban hành đáp ứng được các tiêu chí
nêu trên. Thậm chí, có văn bản còn được xây dựng và ban hành căn cứ chủ
yếu vào ý chí của người quản lý, mang tính giải quyết sự vụ, dẫn đến thiếu
tính khả thi, vi phạm pháp chế…
Thẩm định văn bản quy phạm pháp luật là một giai đoạn trong quy
trình xây dựng văn bản quy phạm pháp luật, nhằm mục đích nâng cao chất
lượng dự thảo văn bản trước khi trình cơ quan có thẩm quyền ban hành. Thực
hiện tốt công tác thẩm định sẽ khắc phục những hạn chế, bất cập của việc xây
dựng và ban hành văn bản quy phạm pháp luật.

nhiên, cho đến nay, hoạt động thẩm định văn bản quy phạm chưa được xây
dựng là một môn học và nội dung thẩm định văn bản quy phạm pháp luật ở
địa phương chưa được tính nghiên cứu sâu sắc và toàn diện.
3. Phạm vi nghiên cứu của luận văn
Phạm vi nghiên cứu của Luận văn bao gồm những quy định của pháp
luật về xây dựng văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân và Ủy
ban nhân dân được xác định theo các giới hạn sau đây:
- Thứ nhất, đối với vấn đề lý luận thẩm định trong xây dựng văn bản
quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân, Luận văn chỉ
nghiên cứu những vấn đề cơ bản được quy định trong Luật ban hành văn bản
quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân.
- Thứ hai, về vấn đề thực thi trong công tác thẩm định, Luận văn chỉ
nghiên cứu chủ yếu công tác thẩm định của Sở tư pháp thuộc Ủy ban nhân
dân cấp tỉnh.
- Thứ ba, về phương hướng và giải pháp, Luận văn chỉ tập trung đề
xuất một số giải pháp cụ thể, với mục đích tiếp tục hoàn thiện hoạt động thẩm


4

định dự thảo văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân và Ủy ban
nhân dân.
4. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của Luận văn
Mục đích nghiên cứu của Luận văn là: Xác định những lý luận cơ bản
của thẩm định dự thảo văn bản quy phạm. Qua đó, chỉ ra những bất cập còn
tồn tại, đồng thời đề xuất một số giải pháp hoàn thiện việc thẩm định dự thảo
văn bản quy phạm pháp luật thực sự có hiệu lực và hiệu quả.
Với mục đích như vậy, nhiệm vụ nghiên cứu của Luận văn là:
- Phân tích, làm rõ những vấn đề lý luận cơ bản về thẩm định dự thảo
văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân.

Chương 1
THẨM ĐỊNH DỰ THẢO VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT
CỦA HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN VÀ ỦY BAN NHÂN DÂN MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ LÍ LUẬN
1.1 Khái niệm thẩm định dự thảo văn bản quy phạm pháp luật của
Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân.
Hiện nay thuật ngữ “thẩm định” có nhiều cách hiểu khác nhau. Với
cách hiểu thông thường, Từ điển Tiếng Việt thông dụng giải thích “thẩm
định” là xem xét để xác định về chất lượng [22]. Dưới góc độ pháp lý, theo
Từ điển Luật học do Viện khoa học pháp lý Bộ Tư pháp biên soạn, đã đưa ra
cách hiểu
Thẩm định có nghĩa là việc xem xét, đánh giá và đưa ra kết
luận mang tính pháp lý bằng văn bản về một vấn đề nào đó. Hoạt
động này do tổ chức hoặc cá nhân có chuyên môn, nghiệp vụ thực
hiện… Việc thẩm định có thể tiến hành với nhiều đối tượng khác
nhau như thẩm định dự án, thẩm định báo cáo, thẩm định hồ sơ,
thẩm định thiết kế, thẩm định đồ án quy hoạch, thẩm định dự thảo
văn bản quy phạm pháp luật… [20].
Như vậy, thẩm định trước hết là hoạt động của một chủ thể được tiến
hành nhằm kiểm tra, đánh giá văn bản theo những tiêu chí nhất định. Tính
đúng đắn của văn bản có thể được nhìn nhận từ nhiều góc độ khác khau, tùy
thuộc vào loại, tính chất của văn bản. Nhưng nhìn chung, bất kỳ một văn bản
nào cũng được coi là tiền thân của chân lý nếu nó phản ánh một cách chân
thành hiện thực khách quan các quy luật, các quá trình và hiện tượng tự nhiên,
xã hội. Xét về bản chất, thẩm định là việc kiểm tra trước nhằm phát hiện
những vi phạm, khiếm khuyết, hạn chế và dự báo, phòng ngừa những sai trái
có thể có trong dự thảo [17].


7


thuộc thẩm quyền ban hành của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân. Dự
thảo văn bản quy phạm pháp luật có thể được coi là “tiền thân” của văn bản
quy phạm pháp luật. Dự thảo văn bản quy phạm pháp luật là văn bản chưa có
hiệu lực pháp lý. Khi được cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành, thông
qua, dự thảo trở thành văn bản quy phạm pháp luật và được sử dụng để điều
chỉnh các quan hệ xã hội trong một hay một số lĩnh vực nhất định. Hiện tại,
chưa có khái niệm dự thảo văn bản quy phạm pháp luật, mà chỉ có khái niệm
về văn bản quy phạm pháp luật được quy định trong Luật ban hành văn bản
quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân. Do vậy, để
nhận biết dự thảo văn bản có phải là đối tượng để thẩm định hay không, cần
phải căn cứ vào dấu hiệu đặc trưng của văn bản quy phạm pháp luật của Hội
đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân để nhận diện.
Điều 1, Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân
dân, Ủy ban nhân dân năm 2004 quy định:
Văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Ủy ban
nhân dân do Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân ban hành theo
thẩm quyền, trình tự, thủ tục do Luật này quy định, trong đó
chứa các quy tắc xử sự chung, có hiệu lực trong phạm vi địa
phương, được Nhà nước bảo đảm thực hiện nhằm điều chỉnh các
quan hệ xã hội ở địa phương theo định hướng xã hội chủ nghĩa.
Theo khái niệm này, văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân
dân và Ủy ban nhân dân có bốn dấu hiệu: một là, thẩm quyền ban hành; hai
là, thủ tục ban hành; ba là, có chứa quy tắc xử sự chung; bốn là, có hiệu lực
trong phạm vi địa phương, được Nhà nước bảo đảm thực hiện.
Sử dụng phương pháp suy luận thì một dự thảo văn bản quy phạm
pháp luật của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân phải có ba dấu hiệu: một
là, thẩm quyền sẽ ban hành; hai là, thủ tục xây dựng văn bản quy phạm pháp


9


quy phạm pháp luật là chưa phù hợp, đồng thời cũng không thống nhất với
Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2008.
Thẩm quyền về nội dung:
Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân
và Ủy ban nhân dân quy định thẩm quyền của Hội đồng nhân dân, Ủy ban
nhân dân trong hoạt động soạn thảo, ban hành văn bản quy phạm pháp luật
theo sự phân công, phân định ở từng cấp chính quyền địa phương, và trong
phạm vi, lĩnh vực cụ thể [12 Điều 2].
Cần phân biệt thẩm quyền quản lý nhà nước ở địa phương và thẩm
quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật của các chủ thể do pháp luật quy
định. Thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân
dân, Ủy ban nhân dân hẹp hơn nhiều so với thẩm quyền quản lý nhà nước.
Hoạt động quản lý nhà nước của Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân có
thể được tiến hành bằng nhiều hình thức khác nhau như ban hành văn bản quy
phạm pháp luật, ban hành văn bản cá biệt, tổ chức thực hiện pháp luật... Mỗi
lĩnh vực quản lý nhà nước thường bao gồm nhiều vấn đề và chỉ một số trong
đó cần được ban hành bằng các quy phạm pháp luật.
Bên cạnh đó, cũng cần phân định thẩm quyền của Hội đồng nhân dân
và Ủy ban nhân dân đối với các vấn đề thuộc nội dung được đề cập trong dự
thảo văn bản quy phạm pháp luật, xét theo tính chất, mức độ, hay phạm vi
điều chỉnh.
Hai là, về thủ tục xây dựng văn bản quy phạm pháp luật
Thủ tục ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân
dân và Ủy ban nhân dân được xác định bởi Luật ban hành văn bản quy phạm
pháp luật của Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân. Sự khác biệt giữa thủ
tục ban hành văn bản quy phạm pháp luật với các văn bản khác ở chỗ quy


11

12

Mặt trận tổ quốc và các tổ chức thành viên của Mặt trận,
cơ quan, tổ chức khác và cá nhân khác có quyền tham gia góp ý
kiến xây dựng văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân
dân, Ủy ban nhân dân và Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân
phải tạo điều kiện để các đối tường này tham gia góp ý kiến vào
dự thảo văn bản.
Đây là quyền của cơ quan, tổ chức và cá nhân có liên quan trong quá
trình soạn thảo văn bản quy phạm pháp luật và trách nhiệm tương ứng của
Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân trong việc bảo đảm các quyền đó. Hơn
nữa, bảng tổng hợp ý kiến là một tài liệu bắt buộc trong hồ sơ gửi cơ quan
thẩm định [12 Điều 24; 38; 42].
Bản tổng hợp ý kiến là tài liệu quan trọng mà cơ quan thẩm định
phải xem xét khi đánh giá về sự cần thiết ban hành và tính khả thi của văn
bản. Cho nên, nếu cơ quan soạn thảo bỏ qua bước này, cơ quan thẩm định
phải trả lại dự thảo để thực hiện lấy và tổng hợp ý kiến.
Tuy nhiên, Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng
nhân dân và Ủy ban nhân dân chỉ quy định chung chung là cơ quan soạn thảo
quyết định việc tổ chức lấy ý kiến của cá nhân, tổ chức căn cứ vào tính chất
và nội dung của dự thảo văn bản quy phạm pháp luật. Quy định như vậy có
thể tạo ra sự tùy tiện trong việc quyết định có lấy ý kiến của tổ chức, cá nhân
có liên quan hay không; đối tượng và hình thức lấy ý kiến. Trên thực tế, nhiều
cơ quan soạn thảo đã không thực hiện bước này hoặc chỉ lấy ý kiến của những
cá nhân, tổ chức mà quyền lợi của họ ít bị ảnh hưởng.
Ba là, nội dung chứa đựng quy tắc xử sự chung
Quy tắc xử sự pháp luật chung là quy tắc được đặt ra không phải để
điều chỉnh một quan hệ xã hội cụ thể mà là những khuôn mẫu, chuẩn mực để



14

Dự thảo văn bản quy phạm pháp luật thường phản ánh chí chủ quan
của cơ quan soạn thảo. Bởi vậy, có thể có những quy định đặt ích cục bộ trên
yêu cầu quản lý nhà nước. Trên thực tế, ý kiến thẩm định cũng chứa đựng yếu
tố chủ quan. Cùng một vấn đề, một dự thảo văn bản quy phạm pháp luật, những
người được giao thẩm định khác nhau có thể đưa ra những ý kiến khác nhau.
Nguyên tắc khách quan cũng đòi hỏi vị trí độc lập của cơ quan thẩm
định đối với cơ quan soạn thảo và cơ quan ban hành. Cơ quan thẩm định cũng
có thể tham gia vào quá trình soạn thảo văn bản để nâng cao chất lượng thẩm
định, thể hiện ở việc cơ quan được phân công chủ trì soạn thảo có trách nhiệm
mời cơ quan thẩm định tham gia vào quá trình soạn thảo văn bản [4 Điều 21].
Yêu cầu về tính độc lập và sự tham gia soạn thảo văn bản của cơ quan
thẩm định là một mâu thuẫn. Dưới góc độ lý luận, có quan điểm cho rằng cần
bỏ quy định này đảm bảo tính khách quan của ý kiến thẩm định [8]. Rõ ràng,
khi tham gia soạn thảo, cơ quan thẩm định có thể bị chi phối bởi cơ quan soạn
thảo. Thậm chí, dẫn đến việc những người được giao thực hiện của hai cơ
quan thống nhất với nhau để bảo vệ cho lợi ích cục bộ nào đó. Cũng có nghĩa,
vai trò của thẩm định không đạt được.
Bên cạnh đó, cũng có quan điểm cho rằng, nếu cơ quan thẩm định tham
gia giai đoạn soạn thảo văn bản sẽ hỗ trợ rất nhiều cho cơ quan soạn thảo. Bởi
vì, cơ quan soạn thảo là cơ quan chuyên môn ở các lĩnh vực khác nhau, không
phải cơ quan chuyên ngành về pháp luật nên trình độ lập pháp, lập quy còn
hạn chế. Ngược lại, cơ quan thẩm định thường thiếu kiến thức chuyên ngành
thuộc lĩnh vực dự thảo văn bản điều chỉnh. Qua đó, văn bản quy phạm pháp
luật được xây dựng và ban hành vừa đảm bảo tính pháp lý, vừa mang lại tính
khả thi cao. Hơn nữa, điều đó còn giúp cho người làm công tác soạn thảo,
thẩm định bổ sung cho nhau về trình độ pháp luật và trình độ chuyên môn
thuộc đối tượng điều chỉnh của văn bản.



16

các luật gia, chuyên gia am hiểu vấn đề chuyên môn tham gia... Nguyên tắc
này tạo thuận lợi cho cơ quan thẩm định địa phương trong việc đánh giá dự
thảo văn bản một cách chính xác, khách quan hơn.
“Đảm bảo sự thảo luận, trao đổi tập thể” không phải là nguyên tắc bắt
buộc thực hiện trong thẩm định văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng
nhân dân và Ủy ban nhân dân. Tuy vậy, xuất phát từ thực tế, để hạn chế việc
đánh giá chỉ xuất phát từ ý chí chủ quan của người thẩm định, sự thảo luận,
trao đổi tập thể sẽ càng đảm bảo tính khách quan. Đây là nguyên tắc bắt buộc
đối với thẩm định dự thảo văn bản quy phạm pháp luật ở trung ương, với yêu
cầu thành lập Hội đồng thẩm định, trong trường hợp không thành lập Hội
đồng thẩm định thì việc tổ chức thẩm định cũng giao cho nhóm chuyên viên
thực hiện. Các cơ quan tư pháp địa phương cần hướng tới thực hiện nguyên
tắc này, nhất là đối với những văn bản có nội dung phức tạp, đối tượng điều
chỉnh rộng, liên quan đến nhiều ngành, nhiều cấp. Tuy nhiên, thực hiện
nguyên tắc này trên thực tế có khả thi hay không còn phụ thuộc vào nhiều yếu
tố, khi mà các cơ quan tư pháp địa phương luôn thiếu người làm việc, kinh phí
hạn chế, áp lực về thời gian, số lượng văn bản gửi đến để thẩm định quá tải…
Đối với văn bản có tính chất phức tạp, đối tượng điều chỉnh rộng, liên
quan đến nhiều ngành, nhiều lĩnh vực cần quy định là yêu cầu bắt buộc nhằm
đảm bảo chất lượng thẩm định cũng như xây dựng, ban hành văn bản quy
phạm pháp luật ở địa phương.
1.4 Chủ thể thẩm định dự thảo văn bản quy phạm pháp luật của
Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân
Dự thảo văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân và Ủy
ban nhân dân ban hành do cơ quan tư pháp địa phương thẩm định. Cụ thể: Sở
Tư pháp thẩm định dự thảo nghị quyết của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh do Ủy
ban nhân dân cùng cấp trình; dự thảo quyết định, chỉ thị của Ủy ban nhân dân



18

Theo quy định của Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Hội
đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân, cơ quan tư pháp địa phương bắt buộc
phải thẩm định bốn nội dung: sự cần thiết phải ban hành; đối tượng, phạm vi
điều chỉnh; tính hợp hiến, hợp pháp, tính thống nhất; ngôn ngữ, kỹ thuật soạn
thảo của văn bản. Nội dung thứ năm, không mang tính bắt buộc là cơ quan tư
pháp có thể đánh giá về tính khả thi của văn bản. Nội dung bắt buộc thẩm
định nhằm đảm bảo giá trị pháp lý, nội dung không bắt buộc liên quan đến giá
trị thực tế của văn bản. Như vậy, thẩm định tính pháp lý được coi trọng hơn
thẩm định tính thực tế của văn bản. Trên thực tế, cơ quan thẩm định địa
phương thường tập trung đánh giá dự thảo văn bản ở khía cạnh pháp lý. Văn
bản được thông qua hay không, được thông qua với nội dung như thế nào còn
phụ thuộc vào quan điểm, kỹ thuật thực hiện của cơ quan soạn thảo, ban hành,
khi xem xét văn bản ở cả khía cạnh pháp lý và góc độ thực tiễn.
Ngược lại, báo cáo thẩm định văn bản quy phạm pháp luật do cơ quan
trung ương ban hành phải đánh giá dự thảo văn bản cả về tính pháp lý và khả
năng thực thi. Nói cách khác, tính khả thi của văn bản là một tiêu chí bắt buộc
phải thẩm định.
Về nguyên tắc, một văn bản quy phạm pháp luật được ban hành phải
đảm bảo cả giá trị pháp lý và giá trị thực tế. Tại sao pháp luật lại quy định cơ
quan tư pháp địa phương không bắt buộc phải đánh giá tính khả thi của dự
thảo văn bản? Đây cũng có thể là nguyên nhân khiến cho nhiều văn bản quy
phạm pháp luật của địa phương được ban hành, nhưng không phát huy hiệu
quả trong đời sống xã hội, và vị trí của cơ quan thẩm định địa phương đôi khi
chưa được coi trọng.
Sự không bắt buộc thực hiện văn bản thẩm định của cơ quan tư pháp
địa phương biểu hiện ở hình thức và thẩm quyền. Về hình thức, văn bản thẩm

Áp lực công việc và thời gian thẩm định là yếu tố cần chú ý khi xem
xét trách nhiệm pháp lý. Chẳng hạn, năm 2010, Phòng Văn bản pháp quy - Sở


20

Tư pháp Hà Nội thẩm định gần 200 dự thảo văn bản quy phạm pháp luật [14].
Một công chức được giao thẩm định nhiều dự thảo văn bản thuộc các lĩnh vực
chuyên ngành khác nhau. Trách nhiệm pháp lý là yêu cầu để họ thực hiện tốt
công việc, nhưng cũng có thể tạo ra tâm lý đùn đẩy, né tránh những dự thảo
văn bản phức tạp, hoặc đề xuất lấy ý kiến tập thể để quy trách nhiệm tập thể,
làm ảnh hưởng đến tiến độ và chất lượng của công tác thẩm định.
Mặt khác, xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật là một quá
trình có sự liên kết chặt chẽ giữa các giai đoạn lập chương trình, soạn thảo,
thẩm tra, thẩm định, thảo luận, thông qua, công bố văn bản. Hiện tại, pháp
luật chưa quy định cụ thể chế tài đối với các chủ thể không thực hiện công tác
phối hợp. Ví dụ: cơ quan soạn thảo không thuyết trình dự thảo khi cơ quan
thẩm định yêu cầu, không nghiên cứu tiếp thu ý kiến thẩm định hoặc cơ quan
ban hành không xem xét báo cáo thẩm định trước khi ban hành văn bản…
1.6 Giá trị pháp lý của báo cáo thẩm định
Mặc dù thẩm định được coi là hoạt động quan trọng trong việc xây
dựng văn bản quy phạm pháp luật, song báo cáo thẩm định của cơ quan tư
pháp địa phương chỉ được coi là tài liệu có tính chất tham mưu, không có tính
chất bắt buộc cơ quan soạn thảo, cơ quan ban hành phải thực hiện.
Giá trị pháp lý của báo cáo thẩm định được pháp luật quy định “Sau khi
nhận được báo cáo thẩm định, cơ quan chủ trì soạn thảo có trách nhiệm
nghiên cứu tiếp thu ý kiến của cơ quan thẩm định” [4 Điều 21]. Đối với cơ
quan ban hành, báo cáo thẩm định là một tài liệu trong hồ sơ trình để ban
hành văn bản [12 Điều 24; 38;42], và chỉ xem xét khi có văn bản thẩm định
của cơ quan tư pháp [4 Điều 21]. Dưới góc độ pháp lý, quy định như vậy rất

hợp pháp, tính thống nhất, đồng bộ của văn bản trước khi ban hành.
Ý kiến thẩm định nhằm đưa ra những đánh giá, tư vấn xây dựng các
quy phạm pháp luật phù hợp với yêu cầu của các điều kiện kinh tế xã hội,
quản lý nhà nước, với hệ thống pháp luật. Khi một văn bản quy phạm pháp


22

luật được thẩm định và ý kiến thẩm định có giá trị thì sẽ tạo ra một văn bản có
hiệu quả, góp phần thúc đẩy sự phát triển xã hội và quản lý nhà nước. Ngược
lại nếu chất lượng của báo cáo thẩm định không đưa ra được những đánh giá
chuẩn mực, xác đáng thì thậm chí sẽ gây thiệt hại lớn cho cơ quan quản lý
cũng như đối tượng điều chỉnh.
Thẩm định giúp chủ thể ban hành sẽ dễ dàng tiếp cận tính hợp hiến,
hợp pháp, khả thi của dự thảo văn bản quy phạm pháp luật một cách nhanh
nhất, có trọng tâm, đúng pháp luật. Với tư cách là những đánh giá, xem xét rất
cơ bản, trung thực, khách quan về dự thảo văn bản quy phạm pháp luật và đưa
ra nhận xét nên thẩm định còn mang tính chất định hướng, chỉ dẫn và cung
cấp các thông tin dưới góc độ pháp lý cần thiết cho chủ thể ban hành dự thảo
cũng như chủ thể soạn thảo. Trong quá trình thẩm định, cơ quan thẩm định có
thể phát hiện được những bất hợp lý, bất hợp pháp mà cơ quan soạn thảo đã
vô tình hoặc cố ý tạo ra. Hơn nữa, trong trường hợp có nhiều quan điểm trái
chiều nhau về cùng một vấn đề, kết quả thẩm định là cơ sở để Hội đồng nhân
dân, Ủy ban nhân dân xem xét ban hành văn bản.
Thẩm định còn tạo ra cơ chế phối hợp và giám sát lẫn nhau giữa các
cơ quan tham gia xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật - một hoạt
động quan trọng của quản lý nhà nước ở địa phương. Để báo cáo thẩm định
có chất lượng, cơ quan thẩm định, soạn thảo văn bản, cũng như các tổ chức,
cá nhân có liên quan phải phối hợp chặt chẽ với nhau, tạo điều kiện cho nhau
thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ.



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status