1
2
đại học quốc gia hà nội
khoa lut
doãn đình tiến
kiểm tra và xử lý
đối với văn bản quy phạm pháp luật
của hội đồng nhân dân và ủy ban nhân dân
(qua thực tiễn trên địa bàn tỉnh thanh hóa)
Chuyên ngành : Lý luận và lịch sử nhà nc và pháp luật
Mã số : 60 38 01
luận văn thạc sĩ luật học
hà nội - 2012
Danh mục các chữ viết tắt Danh mục các bảng MỞ ĐẦU
1
Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT VỀ KIỂM
TRA VÀ XỬ LÝ ĐỐI VỚI VĂN BẢN QUY PHẠM
PHÁP LUẬT
8
1.1.
Khái quát về văn bản quy phạm pháp pháp luật của Hội đồng
nhân dân và Ủy ban nhân dân
8
1.1.1.
Khái niệm, các dấu hiệu đặc trưng của văn bản quy phạm pháp
luật do Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân ban hành
8
1.1.2.
Vai trò của văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân
và Ủy ban nhân dân trong quản lý nhà nước và phát triển
12
1.2.
Khái quát về kiểm tra và xử lý đối với văn bản quy phạm pháp
luật của Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân
Phương thức tiến hành kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật
28
1.3.5.
Thẩm quyền kiểm tra, xử lý đối với văn bản quy phạm pháp
luật của Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân và vai trò của
cơ quan tư pháp địa phương trong hoạt động kiểm tra
33
1.4.
Các quy định về xử lý văn bản quy phạm pháp luật của hội
đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân
38
1.4.1.
Thông báo văn bản trái pháp luật
38
1.4.2.
Công bố kết quả xử lý văn bản trái pháp luật
39
1.4.3.
Biện pháp xử lý đối với cơ quan, người ban hành văn bản trái
pháp luật
40
1.4.4.
Các hình thức xử lý văn bản sai trái
42
1.4.5.
Trình tự, thủ tục kiểm tra, xử lý văn bản trái pháp luật
46
Chương 2: THỰC TRẠNG KIỂM TRA VÀ XỬ LÝ ĐỐI VỚI VĂN
BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT CỦA HỘI ĐỒNG
KIỂM TRA VÀ XỬ LÝ ĐỐI VỚI VĂN BẢN QUY PHẠM
PHÁP LUẬT CỦA HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN VÀ ỦY BAN
NHÂN DÂN TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH THANH HÓA
95
3.1.
Giải pháp hoàn thiện pháp luật về kiểm tra, xử lý văn bản quy
phạm pháp luật
96
3.1.1.
Sửa đổi, bổ sung một số văn bản hiện hành
96
3.1.2.
Xây dựng, ban hành văn bản mới
98
3.1.3.
Tăng cường hoạt động rà soát, hệ thống hóa văn bản quy phạm
pháp luật
99
3.2.
Giải pháp xây dựng quy trình kiểm tra, xử lý văn bản quy phạm
pháp luật của chính quyền địa phương
99
3.2.1.
Xác định văn bản cần kiểm tra, mục đích, phạm vi kiểm tra
100
3.2.2.
Lập kế hoạch kiểm tra
100
3.2.3.
Thu thập thông tin và minh chứng
Về kinh phí, trang thiết bị làm việc
107
3.4.3.
Tổ chức mạng lưới thông tin
107
3.5.
Các giải pháp khác: xây dựng hệ cơ sở dữ liệu; nguồn thông tin
và các yếu tố tổ chức kỹ thuật phục vụ hoạt động kiểm tra văn
bản quy phạm pháp luật
108
KẾT LUẬN
110
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
113
2
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam, xây dựng Nhà
nước pháp quyền, phát huy dân chủ, tăng cường pháp chế, chủ động hội nhập
quốc tế là những quyết sách quan trọng đã được Đảng ta xác định và khẳng định
trong nhiều văn kiện quan trọng như: Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 02 tháng
01 năm 2002 của Bộ Chính trị về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp
trong thời gian tới; Nghị quyết số 48-NQ/TW ngày 24 tháng 5 năm 2005 của
Bộ Chính trị về Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt
Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020; Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày
02 tháng 6 năm 2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến
công cụ quan trọng, hiệu quả để quản lý và phát triển. VBQPPL của chính
quyền địa phương ban hành cũng đã và đang phục vụ đắc lực cho sự nghiệp
phát triển kinh tế - xã hội ở địa phương.
Theo quy định của Luật ban hành VBQPPL của HĐND và UBND
năm 2004, Luật ban hành VBQPPL năm 2008 thì HĐND và UBND các cấp
được ban hành VBQPPL theo thẩm quyền, hình thức, trình tự, thủ tục luật
định để thực hiện việc quản lý nhà nước ở địa phương.
Trong thời kỳ đổi mới chính quyền địa phương đang rất quan tâm tới
việc xây dựng và ban hành VBQPPL theo thẩm quyền, các văn bản này được
ban hành chủ yếu để cụ thể hóa và thực hiện những quy định của các
VBQPPL của cơ quan nhà nước ở Trung ương cho phù hợp với tình hình thực
tiễn ở địa phương hoặc quy định những vấn đề mà chính quyền địa phương
được ủy quyền ban hành. Tuy nhiên, trong quá trình ban hành VBQPPL, ở
một số nơi chính quyền các cấp vẫn còn ban hành văn có nội dung trái pháp
4
luật, không đúng thẩm quyền, sai về thể thức và kỹ thuật trình bày văn bản,
trình tự thủ tục ban hành…
Trong bối cảnh đó, việc tăng cường công tác kiểm tra VBQPPL là
trách nhiệm của các cơ quan hành pháp nhằm hoàn thiện các VBQPPL, trước
hết là các VBQPPL do các bộ, cơ quan ngang bộ, HĐND và UBND các cấp
ban hành, bảo đảm văn bản của các cơ quan hành chính nhà nước từ trung
ương tới địa phương, tôn trọng thứ bậc hiệu lực của văn bản pháp luật - một
trong những nguyên tắc quan trọng của nhà nước pháp quyền.
Do tính thời sự, cấp bách của vấn đề nên tác giả đã chọn đề tài: "Kiểm
tra và xử lý đối với văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân và ?y ban nhân dân
(qua thực tiễn trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa)" cho luận văn thạc sĩ của mình.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Ở nước ta hiện nay, các vấn đề về VBQPPL, văn bản hành chính
(VBHC), quyết định quản lý nhà nước đã và đang được nhiều nhà khoa học
VBQPPL, quyết định quản lý nhà nước, VBHC nói chung. Tuy nhiên chưa có
nhiều công trình nghiên cứu một cách riêng lẻ, cụ thể về ban hành văn bản
của chính quyền địa phương và đặc biệt về vấn đề kiểm tra và xử lý VBQPPL
của chính quyền địa phương.
3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu đề tài
* Mục đích
Xuất phát từ những quan điểm, chủ trương cải cách nền hành chính
và kiện toàn bộ máy nhà nước, trên cơ sở những thành tựu lý luận hành
6
chính- luật học, từ khảo sát thực tế hoạt động ban hành, kiểm tra VBQPPL
của các cấp chính quyền địa phương tại Thanh Hóa, với mục đích nâng cao
hiệu quả công tác kiểm tra, xử lý VBQPPL của HĐND và UBND trên địa
bàn tỉnh Thanh Hóa. Do đó, nội dung đề tài không chỉ tập trung đánh giá
riêng hoạt động kiểm tra, xử lý VBQPPL, mà còn có cả một số đánh giá
liên quan đến hoạt động xây dựng, ban hành VBQPPL. Trên cơ sở đó rút ra
được những ưu điểm, những tồn tại, nguyên nhân của những tồn tại và
quan trọng hơn là đề ra được các giải pháp về hoàn thiện hoạt động kiểm
tra VBQPPL của chính quyền địa phương và đưa hoạt động kiểm tra, xử lý
đối với VBQPPL của HĐND và UBND trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa đi vào
nề nếp, đúng pháp luật, bảo đảm tính hợp hiến, hợp pháp và tính khả thi
trong thực tiễn.
* Nhiệm vụ
Để thực hiện mục đích trên, tác giả tập trung thực hiện những nhiệm
vụ sau:
- Tổng hợp những thành tựu lý luận cơ bản về hoạt động ban hành,
kiểm tra VBQPPL;
- Phân tích thực trạng hoạt động ban hành, kiểm tra VBQPPL của
chính quyền địa phương qua khảo sát thưc tiễn tại tỉnh Thanh Hóa, từ đó rút
ra các kết luận đánh giá và kinh nghiệm đúc kết;
Vì vậy luận văn có ý nghĩa:
8
- Góp phần hoàn thiện hoạt động kiểm tra đối VBQPPL của HĐND
và UBND.
- Đóng góp cho công tác tăng cường chất lượng, hiệu quả hoạt động
xây dựng và ban hành, xử lý VBQPPL của HĐND và UBND;
- Góp phần hoàn thiện chương trình các môn học về kỹ thuật soạn
thảo và ban hành văn bản.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội
dung của luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Một số vấn đề lý luận và pháp luật về kiểm tra và xử lý văn
bản quy phạm pháp luật.
Chương 2: Thực trạng kiểm tra và xử lý đối với văn bản quy phạm
pháp luật của Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân trên địa bàn tỉnh Thanh
Hóa từ năm 2004 đến nay.
Chương 3: Giải pháp hoàn thiện hoạt động kiểm tra và xử lý đối với
văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân trên
địa bàn tỉnh Thanh Hóa.
9
Chương 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT VỀ KIỂM TRA
VÀ XỬ LÝ ĐỐI VỚI VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT
1.1. KHÁI QUÁT VỀ VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP PHÁP LUẬT CỦA
HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN VÀ ỦY BAN NHÂN DÂN
1.1.1. Khái niệm, các dấu hiệu đặc trƣng của văn bản quy phạm
pháp luật do Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân ban hành
các quan hệ xã hội [43].
Tuy nhiên, đây là khái niệm dùng cho VBQPPL của các cơ quan nhà
nước nói chung nên chưa thể phân định rõ VBQPPL do các cơ quan nhà nước
ở Trung ương ban hành và VBQPPL do các cơ quan chính quyền địa phương
ban hành.
Để phân biệt VBQPPL do cơ quan nhà nước ở Trung ương ban hành
và VBQPPL do các cơ quan chính quyền địa phương ban hành, khoản 1 Điều 1
Luật ban hành VBQPPL của HĐND và UBND số 31/2004/QH11 được Quốc
Hội thông qua ngày 03/12/2004 quy định khái niệm VBQPPL của HĐND và
UBND như sau:
Văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân và Ủy
ban nhân dân là văn bản do Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân
dân ban hành theo thẩm quyền, trình tự, thủ tục do Luật này quy
định, trong đó có quy tắc xử sự chung, có hiệu lực trong phạm vi
địa phương, được Nhà nước bảo đảm thực hiện nhằm điều chỉnh
11
các quan hệ xã hội ở địa phương theo định hướng xã hội chủ
nghĩa [42].
Theo định nghĩa trên, VBQPPL của HĐND, UBND, về nguyên tắc,
hoàn toàn là một VBQPPL theo định nghĩa của Luật ban hành VBQPPL và
điều này đã được chính Luật năm 2008 khẳng định tại Điều 1; VBQPPL do
địa phương ban hành cũng phải nằm trong tổng thể hệ thống pháp luật quốc gia.
Như vậy, VBQPPL của HĐND, UBND có những đặc điểm chung của VBQPPL
theo quy định của Luật năm 2008, chỉ khác về chủ thể có thẩm quyền ban hành
là HĐND, UBND các cấp và phạm vi áp dụng văn bản là tại địa phương.
Tuy nhiên, định nghĩa về VBQPPL nói chung cũng như VBQPPL của
HĐND, UBND nói riêng chưa thực sự thỏa mãn yêu cầu của các cán bộ thực
thi pháp luật, bởi vì, trên thực tế, dù đã có định nghĩa, nhưng chúng ta thường
gặp khó khăn khi xác định một văn bản cụ thể có phải là VBQPPL hay không.
- Do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành
Thẩm quyền ban hành VBQPPL của HĐND và UBND bao gồm: thẩm
quyền về hình thức và thẩm quyền về nội dung
+ Thẩm quyền về hình thức: Luật ban hành VBQPPL quy định cho
mỗi cơ quan có thẩm quyền được ban hành hình thức văn bản nhất định, nếu
việc ban hành không đúng hình thức là vi phạm thẩm quyền. Thẩm quyền về
hình thức được quy định tại Điều 1 Luật ban hành VBQPPL của HĐND và
UBND gắn với hệ thống VBQPPL đó là:
Hội đồng nhân dân ban hành VBQPPL là nghị quyết;
Ủy ban nhân dân ban hành VBQPPL là quyết định, chỉ thị.
13
+ Thẩm quyền về nội dung: Khác với thẩm quyền về hình thức, thẩm
quyền về nội dung không được quy định trong Luật ban hành VBQPPL, mà
thẩm quyền về nội dung được căn cứ vào chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn
của các cơ quan trong tổ chức bộ máy nhà nước.
Theo đó thẩm quyền ban hành VBQPPL của HĐND và UBND căn cứ
vào Luật tổ chức HĐND và UBND năm 2003.
Như vậy, thẩm quyền ban hành VBQPPL của chính quyền địa phương
xuất phát từ thẩm quyền quản lý nhà nước đã được quy định và phân cấp tại Hiến
pháp, Luật, Pháp lệnh và các VBQPPL khác của Chính phủ. Cũng chính vì vậy
mà ngay cả thẩm quyền đặt ra các quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ xã
hội khác nhau cũng cần phải phân biệt chủ thể nào có thẩm quyền ban hành.
- Được Nhà nước bảo đảm thi hành
Thông thường việc bảo đảm này được thực hiện bằng một loạt các
biện pháp như tuyên truyền, phổ biến, giáo dục bằng công tác thuyết phục,
bằng việc tạo điều kiện về cơ chế tổ chức thực hiện và cơ sở tài chính nhất
định trong trường hợp cần thiết, áp dụng biện pháp cưỡng chế bắt buộc thực
hiện và chế tài xử lý nếu có hành vi vi phạm.
1.1.2. Vai trò của văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân
biện pháp để quản lý tốt các trường học, bệnh viện, xây dựng và quản lý tốt
hệ thống nước sạch, đường giao thông… Bằng các VBQPPL, chính quyền địa
phương đưa ra các biện pháp thu hút đầu tư, khuyến khích sự phát triển của
các doanh nghiệp, các cơ chế thực thi hiệu quả.
1.1.2.3. Văn bản quy phạm pháp luật có thể tạo ra, phân bổ, phát
huy các nguồn lực nhằm phát triển kinh tế
15
Pháp luật có thể tạo điều kiện để tăng việc làm và tăng thu nhập. Pháp
luật tạo điều kiện cho các chủ sở hữu tiếp cận với các công nghệ thông tin và
thị trường, với các kỹ năng về tín dụng và quản lý, qua đó giúp họ tăng năng
suất lao động và tăng thu nhập. Trong trường hợp pháp luật thiếu hiệu quả
dẫn đến việc đất nước hay từng vùng địa phương nghèo đói và kém phát triển,
người ta gọi đó là "thể chế có vấn đề". Đặc điểm ở các vùng nông thôn là
người dân có mức vốn thấp, hoạt động dựa vào các công nghệ có chi phí thấp
và có sẵn ở địa phương, sử dụng các công cụ làm bằng tay nhiều hơn là sử
dụng máy móc hay thiết bị hiện đại; hơn nữa, nông thôn còn có nhiều người
thất nghiệp. Các nhà soạn thảo cần phải chú ý đưa ra các biện pháp pháp lý để
mở rộng thị trường tiêu thụ hàng hóa, thị trường lao động… đồng thời phát
huy được các nguồn lực. Có thể thấy rõ pháp luật không chỉ góp phần làm ổn
định trật tự xã hội mà còn tạo cơ hội quản lý tốt và phát triển.
1.1.2.4. Văn bản quy phạm pháp luật góp phần làm ổn định trật tự
xã hội, tạo cơ hội quản lý tốt và phát triển
Cần phân biệt quy phạm pháp luật với các quy phạm xã hội khác. Trong
khi các quy phạm mang tính xã hội, dù được xã hội thừa nhận, nhưng vẫn không
được bảo đảm bằng các biện pháp cưỡng chế của nhà nước, thì trái lại, quy phạm
pháp luật luôn luôn được bảo đảm bằng sức mạnh cưỡng chế của nhà nước.
Có thể nói luật pháp có một sức mạnh vô cùng to lớn và nhờ nó việc
quản lý xã hội đã đạt được những hiệu quả lớn, trong thực tế: nếu không có
luật bầu cử đại biểu HĐND thì mọi người không có điều kiện bỏ phiếu trong các
Ngày nay, người ta không nhấn mạnh đến yếu tố "cai trị" của nhà nước mà
nhấn mạnh đến trách nhiệm của nhà nước đối với công dân, trách nhiệm duy
trì và bảo đảm cuộc sống tốt đẹp cho từng người dân, bảo đảm các quyền và
tự do cơ bản cho họ trong một xã hội công bằng, văn minh, dân chủ. Từ trách
nhiệm chung của nhà nước, của quốc gia, mỗi cấp chính quyền địa phương có
17
thể thấy được trọng trách của mình. Công cụ để các cấp chính quyền địa
phương thực hiện quản lý và bảo đảm phát triển chính là pháp luật.
1.2. KHÁI QUÁT VỀ KIỂM TRA VÀ XỬ LÝ ĐỐI VỚI VĂN BẢN QUY
PHẠM PHÁP LUẬT CỦA HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN VÀ ỦY BAN NHÂN DÂN
1.2.1. Khái niệm kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật
1.2.1.1. Khái niệm kiểm tra
Theo Từ điển tiếng Việt năm 1996 do Nhà xuất bản Đà Nẵng phát
hành thì khái niệm kiểm tra, theo nghĩa chung nhất, là "xem xét tình hình thực
tế để đánh giá, nhận xét" [52, tr. 1062]. Theo Thuật ngữ pháp lý do nhà xuất
bản Đại học Pháp phát hành, tái bản lần thứ 2 năm 1990 (Gérard Cornu chủ
biên) thuật ngữ "kiểm tra" được hiểu dưới các góc độ sau:
1. Là kiểm tra sự phù hợp của một quyết định, một tình trạng, một xử
sự… với một chuẩn mực (tiêu chuẩn, quy phạm); là hoạt động nhằm kiểm tra
xem một cơ quan công quyền, một cá nhân hoặc một văn bản có tôn trọng hay
không tôn trọng yêu cầu về chức năng, nhiệm vụ hoặc các quy tắc được đặt ra;
Ví dụ: kiểm tra của cơ quan hành chính: là hoạt động kiểm tra tính
đúng đắn của các văn bản của cơ quan hành chính so với các quy tắc về hình
thức và về nội dung mà các văn bản này phải tuân theo.
2. Là kiểm tra một sự việc, một hoạt động nhằm bảo đảm tính chính xác
của một sự việc hay một lời khai. Ví dụ: kiểm tra chứng minh thư nhân dân
Hoạt động kiểm tra nói chung có nhiệm vụ cơ bản là xem xét, đánh
giá về mặt nội dung và hình thức trên cơ sở đối chiếu với các quy định pháp
luật hiện hành. Có hình thức kiểm tra đối chiếu với quy định, tức kiểm tra tính
đối với các VBQPPL theo quy định của pháp luật, qua đó, phát hiện những
dấu hiệu trái pháp luật về hình thức, về nội dung để kịp thời xử lý, hoặc đề
19
xuất với cơ quan có thẩm quyền xử lý văn bản trái pháp luật nhằm góp phần
bảo đảm tính hợp hiến, hợp pháp, tính thống nhất của hệ thống pháp luật.
1.2.2. Mục đích, ý nghĩa của công tác kiểm tra, xử lý đối với văn
bản quy phạm pháp luật
1.2.2.1. Mục đích
Theo quy định tại Điều 2 Nghị định số 40/2010/NĐ-CP, việc kiểm tra
văn bản được tiến hành nhằm phát hiện những nội dung trái pháp luật của văn
bản để kịp thời đình chỉ việc thi hành, hủy bỏ hoặc bãi bỏ văn bản, bảo đảm
tính hợp hiến, hợp pháp và tính thống nhất của hệ thống pháp luật, đồng thời
kiến nghị cơ quan, người có thẩm quyền xác định trách nhiệm của cơ quan,
người có thẩm quyền đã ban hành văn bản trái pháp luật, góp phần nâng cao
chất lượng, hiệu quả công tác xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật.
Như vậy, theo nội dung của điều luật này, mục đích kiểm tra văn bản
bao gồm:
Thứ nhất, phát hiện những nội dung trái pháp luật của văn bản. Đây là
mục đích trực tiếp của hoạt động kiểm tra. Người kiểm tra phải xem xét kỹ
toàn bộ nội dung cũng như hình thức thể hiện của văn bản được kiểm tra, từ
tiêu ngữ, quốc hiệu, tên cơ quan ban hành, số và ký hiệu, địa danh, ngày,
tháng, năm ban hành văn bản, tên loại văn bản, trích yếu, nội dung đến nơi
nhận, chữ ký, đóng dấu. Trong phần nội dung của văn bản, người kiểm tra
phải xem xét kỹ, xác định được những điểm trái pháp luật về căn cứ pháp lý,
về thẩm quyền ban hành, về nội dung từng quy định cụ thể, về ngày có hiệu
lực của văn bản ;
Thứ hai, căn cứ vào tính chất, mức độ trái pháp luật của nội dung văn
bản, người kiểm tra kiến nghị các hình thức xử lý thích hợp đối với nội dung
sai trái đó: đình chỉ việc thi hành, hủy bỏ, bãi bỏ một phần hoặc toàn bộ nội
Việc kiểm tra VBQPPL của HĐND, UBND không chỉ có ý nghĩa
dưới góc độ quản lý nhà nước mà còn có ý nghĩa dưới góc độ dân chủ, bảo
đảm quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức. Thực vậy, một số văn
bản trái pháp luật đã làm ảnh hưởng tới quyền và lợi ích hợp pháp của cơ
quan, tổ chức và công dân, nếu không được đình chỉ việc thi hành, bãi bỏ
hoặc hủy bỏ kịp thời sẽ làm giảm lòng tin của nhân dân đối với cơ quan nhà
nước và đối với tính pháp chế XHCN.
Kiểm tra VBQPPL của HĐND, UBND là một hoạt động quản lý nhà
nước và nó góp phần vào việc bảo đảm tính kỷ luật trong công tác ban hành
VBQPPL. Sự tồn tại của hoạt động kiểm tra đòi hỏi các cơ quan ban hành
VBQPPL có trách nhiệm hơn, nghiêm túc hơn trong hoạt động xây dựng, ban
hành VBQPPL, góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả của VBQPPL. Kiểm
tra VBQPPL cũng góp phần tích cực cho công tác rà soát, tập hợp hóa, hệ
thống hóa, pháp điển hóa VBQPPL.
1.2.3. Đặc trƣng của kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật
1.2.3.1. Kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật là hoạt động mang
tính quyền lực nhà nước
Kiểm tra văn bản là hoạt động mang tính quyền lực nhà nước bởi xuất
phát từ mục đích của kiểm tra VBQPPL là nhằm bảo đảm tính hợp hiến, tính
hợp pháp, tính thống nhất của văn bản trong hệ thống pháp luật. Việc kiểm tra
VBQPPL được thực hiện bởi chủ thể là cơ quan công quyền có thẩm quyền
riêng được pháp luật quy định. Vì vậy, các cơ quan ban hành văn bản, cơ
quan nhà nước có liên quan có trách nhiệm tạo điều kiện cho cơ quan kiểm tra
thực hiện nhiệm vụ.
1.2.3.2. Kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật là hoạt động có tính
chất phòng ngừa.
22
Kiểm tra văn bản là hoạt động có tính chất phòng ngừa được áp dụng
với VBQPPL do bộ, cơ quan ngang bộ, HĐND và UBND các cấp ban hành.
định cho các chủ thể khác nhau. Chính phủ, các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ
quan thuộc Chính phủ, Chủ tịch UBND cấp tỉnh, cấp huyện thực hiện quyền
kiểm tra; Ủy ban thường vụ Quốc hội, Đoàn đại biểu Quốc hội, đại biểu Quốc
hội giám sát VBQPPL của HĐND, UBND; HĐND, Thường trực HĐND, đại
biểu HĐND, UBND, Chủ tịch UBND giám sát, kiểm tra VBQPPL của
HĐND, UBND cấp dưới trực tiếp; HĐND giám sát VBQPPL của UBND
cùng cấp. Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên của Mặt trận,
cơ quan, tổ chức khác và nhân dân địa phương tham gia giám sát VBQPPL
của HĐND, UBND và kiến nghị với cơ quan, cá nhân có thẩm quyền xử lý
VBQPPL trái pháp luật.
Tuy nhiên, giám sát và kiểm tra văn bản đều hướng tới mục đích nhằm
bảo đảm tính hợp hiến, hợp pháp, tính thống nhất của văn bản trong hệ thống
pháp luật.
1.2.4.2. Phân biệt kiểm tra văn bản và thẩm tra, thẩm định dự thảo
văn bản quy phạm pháp luật
Hoạt động dễ gây nhầm lẫn với kiểm tra VBQPPL là thẩm định dự
thảo VBQPPL. Thẩm định dự thảo VBQPPL có mối quan hệ chặt chẽ, hữu cơ
với kiểm tra VBQPPL và điểm chung giữa chúng là hướng tới việc bảo đảm
tính hợp hiến, hợp pháp, tính thống nhất của văn bản trong hệ thống VBQPPL.
Tuy nhiên, bản chất của thẩm định là kiểm tra trước khi ban hành
VBQPPL ''nhằm phát hiện những vi phạm, khiếm khuyết, hạn chế và dự báo,
phòng ngừa những điểm sai trái có thể có trong dự thảo'' [53, tr. 7]. Thẩm
định là hoạt động tiến hành trước khi VBQPPL được ban hành, khác với kiểm
tra văn bản chỉ tiến hành sau khi văn bản được ban hành.
24
Thẩm định có nội dung rộng hơn kiểm tra, có xem xét, đánh giá tính
khả thi, kỹ thuật soạn thảo của dự thảo. Kiểm tra văn bản không đánh giá tính
khả thi, kỹ thuật soạn thảo của văn bản như hoạt động thẩm định. Nếu như
hoạt động thẩm định nhằm hạn chế tối đa sự mâu thuẫn, chồng chéo, không