ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
PHẠM THỊ THU HƯỜNG
CẢI CÁCH THỦ TỤC HÀNH CHÍNH
TRONG LĨNH VỰC ĐĂNG KÝ KINH DOANH
TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HÀ NỘI LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Lý luận và lịch sử nhà nước và pháp luật
MÃ SỐ:
603801
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC Người hướng dẫn khoa học: TS. Nguyễn Thanh Bình
HÀ NỘI – NĂM 2006
3
MỤC LỤC
TRANG PHỤ BÌA 1
LỜI CAM ĐOAN 2
MỤC LỤC 3
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT 5
DANH MỤC CÁC BẢNG 6
DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ 6
ký kinh doanh ở Hà Nội thời gian qua 97
4
2.3. NHỮNG THÀNH CÔNG VÀ HẠN CHẾ CỦA THỦ TỤC ĐĂNG KÝ KINH
DOANH TRONG QUÁ TRÌNH THỰC HIỆN LUẬT DOANH NGHIỆP 1999 99
2.3.1. Những thành công 99
2.3.2. Những hạn chế 100
Chƣơng 3 111
NHỮNG GIẢI PHÁP CẢI CÁCH THỦ TỤC HÀNH CHÍNH 111
TRONG LĨNH VỰC ĐKKD THỜI GIAN TỚI 111
3.1. MỤC TIÊU CỦA CẢI CÁCH THỦ TỤC HÀNH CHÍNH 111
3.2. YÊU CẦU CỦA CẢI CÁCH THỦ TỤC HÀNH CHÍNH 111
3.2.1. Bảo đảm nguyên tắc thực hiện thủ tục hành chính 111
3.2.2. Bảo đảm tính thống nhất của hệ thống thủ tục hành chính 112
3.2.3. Bảo đảm tính hợp lý của thủ tục hành chính 113
3.2.4. Bảo đảm tính khoa học của quy trình thực hiện các thủ tục hành
chính đã ban hành 113
3.2.5. Bảo đảm tính rõ ràng và công khai của các thủ tục hành chính 115
3.2.6. Bảo đảm dễ hiểu, dễ tiếp cận của thủ tục hành chính 116
3.2.7. Bảo đảm có tính khả thi của thủ tục hành chính 117
3.2.8. Bảo đảm tính ổn định cần thiết của quy trình thủ tục hành chính117
3.2.9. Bảo đảm về năng lực của đội ngũ cán bộ, công chức 118
3.3. GIẢI PHÁP CẢI CÁCH THỦ TỤC HÀNH CHÍNH TRONG LĨNH VỰC ĐKKD
THỜI GIAN TỚI 119
3.3.1. Thay đổi, bổ sung các quy định, chính sách hiện hành 121
3.3.2 Nâng cao nhận thức, năng lực quản lý và trách nhiệm của bộ máy
chính quyền các cấp 130
3.3.3 Đào tạo, nâng cao trình độ, nhận thức về luật pháp, kỹ năng của
ngƣời quản lý doanh nghiệp 132
3.3.4. Các giải pháp khác 133
Thuế giá trị gia tăng
XHCN
Xã hội chủ nghĩa
UBND
Uỷ ban nhân dân
VNCI
Dự án Sáng kiến năng lực cạnh tranh
WTO
Tổ chức thƣơng mại Thế giới
6
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1: Tổng vốn đầu tƣ xã hội
Bảng 2.2: Cơ cấu vốn đầu tƣ xã hội
Bảng 2.3: Tổng sản phẩm nội địa
Bảng 2.4: Cơ cấu tổng sản phẩm nội địa
Bảng 2.5: Mức thuế trong ngân sách nhà nƣớc DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ
Trong đăng ký kinh doanh, thay vì phải xuất trình nhiều loại giấy tờ, qua
nhiều cơ quan nhƣ trƣớc đây, nay doanh nghiệp chỉ phải nộp một bộ hồ sơ tại
cơ quan đăng ký kinh doanh, và đƣợc cấp Giấy chứng nhận Đăng ký kinh
doanh trong vòng 10 ngày, kể từ ngày hồ sơ hợp lệ. Hiện tại thủ tục Đăng ký
kinh doanh đƣợc cộng đồng doanh nghiệp đánh giá là một trong những thủ
tục hành chính thuận lợi nhất đối với doanh nghiệp trong quá trình tham gia
thị trƣờng.
Bên cạnh những quy định ƣu việt về thủ tục hành chính trong lĩnh vực
đăng ký kinh doanh nhƣ: hồ sơ đơn giản và nộp tại một cơ quan, ngoài các
thủ tục quy định, cơ quan đăng ký kinh doanh không đƣợc yêu cầu ngƣời
dân, doanh nghiệp nộp bất kỳ một văn bản nào khác, thời gian đƣợc rút ngắn.
Tuy nhiên, hiện tại các quy định về thủ tục hành chính trong lĩnh vực đăng ký
8
kinh doanh cũng còn một số hạn chế nhất định chƣa đáp ứng đƣợc yêu cầu
thực tiễn nhƣ:
- Chƣa phù hợp với thông lệ quốc tế và chƣa đáp ứng đƣợc nhu cầu hội nhập
kinh tế quốc tế về: nội dung, thủ tục, thời gian, tổ chức bộ máy cơ quan đăng
ký kinh doanh, cơ quan quản lý doanh nghiệp.
- Quy trình giải quyết các loại hồ sơ đăng ký kinh doanh còn phức tạp (chƣa
giảm sự đi lại của ngƣời dân, doanh nghiệp trong quá trình giao dịch giải
quyết các thủ tục đăng ký kinh doanh).
- Quy trình cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh chƣa gắn với công tác quản
lý doanh nghiệp (nhƣ chƣa có sự phối hợp giữa cơ quan đăng ký kinh doanh, cơ
quan thuế, công an và các cơ quan quản lý chuyên ngành); Chƣa có sự phân cấp
mạnh mẽ trong công tác quản lý doanh nghiệp hoạt động theo Luật Doanh
nghiệp cho các cấp chính quyền địa phƣơng (quận, huyện và xã, phƣờng).
- Thiếu phƣơng thức giao tiếp trực tuyến qua hệ thống internet (hoặc thiết bị,
công cụ hiện đại) để ngƣời dân, các doanh nghiệp đƣợc hƣớng dẫn, giải đáp
một cách cụ thể, chi tiết các thủ tục hành chính liên quan đến hồ sơ đăng ký
Trên cơ sở nghiên cứu, tổng hợp một số quan điểm tƣ tƣởng, lý luận và
thực tiễn để có cơ sở đánh giá, so sánh giữa thủ tục đăng ký kinh doanh ở
Việt Nam với một số nƣớc trong khu vực và trên Thế giới. Qua đó nhằm phát
hiện những vƣớng mắc, tồn tại, đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện và
thực hiện tốt việc cải cách thủ tục hành chính trong công tác đăng ký kinh
doanh cho các Doanh nghiệp nói chung và doanh nghiệp trên địa bàn Thành
phố Hà Nội nói riêng.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Luận văn tập trung vào nghiên cứu về hoạt động cải cách thủ tục hành
chính trong công tác đăng ký kinh doanh trên địa bàn Thành phố Hà Nội.
10
5. Cơ sở khoa học của đề tài
- Cơ sở lý luận: Luận văn đƣợc nghiên cứu dựa trên phƣơng pháp luận của chủ
nghĩa duy vật lịch sử và chủ nghĩa duy vật biện chứng Macxit; tƣ tƣởng Hồ
Chí Minh; quan điểm của Đảng, Nhà nƣớc về xây dựng Nhà nƣớc pháp
quyền XHCN và chính sách hội nhập kinh tế quốc tế.
- Cơ sở thực tiễn: Thực tiễn công tác cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh
cho các doanh nghiệp trên địa bàn Thành phố Hà Nội.
6. Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng biện pháp nghiên cứu: Lịch sử, thống kê, tổng hợp,
phân tích, so sánh, đối chiếu
7. Điểm mới của đề tài
- Nghiên cứu, phân tích các quy định pháp luật và thực trạng về thủ tục đăng
ký kinh doanh một cách có hệ thống trên cơ sở lý luận và thực tiễn để thấy rõ
các trình tự, thủ tục pháp luật quy định: những ƣu điểm và hạn chế của trình
tự, thủ tục đó;
- Nêu ra một số giải pháp nhằm hoàn thiện quy trình, thủ tục cấp giấy chứng
nhận đăng ký kinh doanh cho các doanh nghiệp trên địa bàn Thành phố;
- Kiến nghị hoàn thiện các quy định pháp lý về đăng ký kinh doanh theo quy
Thực tế khi giải quyết một công việc nhất định, các cơ quan nhà nƣớc
cần phải thực hiện theo những nguyên tắc pháp lý đƣợc pháp luật quy định
một cách cụ thể. Đó là những quy định về trình tự, cách thức sử dụng thẩm
quyền đối với từng cơ quan khi giải quyết công việc mà luật pháp cho phép.
12
Khoa học pháp lý gọi đó là những quy phạm thủ tục. Những quy phạm về thủ
tục luôn luôn gắn liền với về nội dung của Luật hành chính và đƣợc xây dựng
phù hợp với đối tƣợng điều chỉnh của các quy định của pháp luật. Trong lĩnh
vực quản lý hành chính, các quy định về cách thức giải quyết các công việc
hành chính theo luật định chính là quy phạm về thủ tục hành chính, khi áp
dụng vào đời sống để giải quyết các công việc của công dân và các tổ chức
đó là các thủ tục hành chính. Nhƣ vậy, thủ tục hành chính là trình tự thực
hiện thẩm quyền trong hoạt động hành chính nhà nƣớc, là cách thức mà nhà
nƣớc áp dụng để làm cho các quy định của luật pháp có đƣợc sự bảo đảm
thống nhất trong quá trình thực thi và áp dụng vào đời sống [40].
Đây là một bộ phận cấu thành thể chế của nền hành chính. Nó cho biết
các quy phạm nội dung của luật pháp đƣợc thực hiện bằng cách nào, ví dụ
nhƣ bằng cách nào để có thể đăng ký đƣợc hộ khẩu, để quản lý hộ tịch? Cần
những giấy tờ gì để có giấy phép hành nghề hợp pháp? Bộ phận này của luật
pháp hành chính còn có tên gọi là quy phạm hình thức. Thiếu bộ phận này,
luật pháp sẽ không có đủ điều kiện để đi vào đời sống. Vì vậy, trong nhiều
văn bản quy phạm pháp luật, sau các quy định về nội dung là những quy định
có tính thủ tục để thực hiện nội dung đó.
Toàn bộ các quy tắc pháp lý quy định về trình tự, trật tự thực hiện thẩm
quyền của cơ quan nhà nƣớc trong việc giải quyết nhiệm vụ của nhà nƣớc và
công việc liên quan đến công dân tạo thành một hệ thống quy phạm về thủ
tục. Chúng là những nguyên tắc bắt buộc các cơ quan nhà nƣớc cũng nhƣ các
công chức nhà nƣớc phải tuân theo. Những nguyên tắc này thể hiện trên thực
tế mối quan hệ giữa các cơ quan nhà nƣớc trong quá trình giải quyết công
của các cơ quan và cán bộ, nhân viên nhà nước [41].
14
Hoặc có quan niệm khác cho rằng:
Thủ tục hành chính là một loại quy phạm pháp luật quy định trình tự
về thời gian, về không gian khi thực hiện một thẩm quyền nhất định
của bộ máy nhà nước, là cách thức giải quyết công việc của các cơ
quan hành chính nhà nước trong mối quan hệ với các cơ quan, tổ
chức và cá nhân công dân [40].
Thủ tục hành chính thuận tiện, đơn giản là một trong những điều kiện
giúp nâng cao năng lực, hiệu quả quản lý của bộ máy nhà nƣớc. Ngƣợc lại
thủ tục hành chính rƣờm rà, nặng nề không những gây ra tổn phí về sức
ngƣời, sức của, ngân sách nhà nƣớc, tài sản xã hội, kìm hãm sự năng động
trong hoạt động của mọi mặt đời sống mà còn là điều kiện thuận lợi cho nạn
tham ô, tham nhũng phát sinh, phát triển.
Hoàn thiện, cải tiến thủ tục hành chính nhằm làm cho các thủ tục hành
chính trở nên đơn giản, dễ làm, thuận tiện cho dân là một trong những
phƣơng hƣớng cải cách nền hành chính quốc gia. Những thủ tục hành chính
hữu hiệu là rất cần thiết vì đó đảm bảo cho tiến trình điều hành và giải quyết
các công việc không bị phá rối hoặc cản trở. Chúng có ý nghĩa to lớn trong
việc thực hiện các lợi ích xã hội khác nhau, bảo đảm sự kết hợp hài hoà và
quyền ƣu tiên của các lợi ích của Nhà nƣớc và công dân trong khuôn khổ
pháp luật quy định.
Cần nhấn mạnh rằng, thủ tục hành chính trƣớc hết là do các cơ quan nhà
nƣớc đề ra công bố để thực thi Hiến pháp và pháp luật nhằm thực hiện chức
năng quản lý của nền hành chính nhà nƣớc và hoàn thành nhiệm vụ của mình.
Đồng thời các cơ quan hành chính nhà nƣớc phải có trách nhiệm thực thi các
thủ tục đó. Đó là phƣơng tiện đƣợc sử dụng để đƣa Luật vật chất vào đời
sống xã hội. Theo cách nói của Các Mác, thủ tục là hình thức sống của đạo
luật, và nhƣ vậy, cần phải có pháp luật thủ tục để thực hiện pháp luật vật chất.
16
với các biện pháp thích ứng cho từng loại công việc và từng đối tƣợng để đảm
bảo công việc đƣợc giải quyết kịp thời theo từng trƣờng hợp cụ thể.
Thứ tư, nền hành chính nhà nƣớc hiện nay đang chuyển từ hành chính
cai quản (hành chính đơn thuần) sang hành chính phục vụ, làm dịch vụ cho
xã hội (hành chính công); từ quản lý tập trung sang quản lý theo cơ chế thị
trƣờng có sự điều tiết của nhà nƣớc, làm cho hoạt động quản lý hành chính
trở nên hết sức đa dạng về nội dung và phong phú, uyển chuyển về hình thức,
biện pháp. Đồng thời, đối tƣợng quản lý của nó là xã hội dân sự cũng muôn
hình, muôn vẻ. Nó không chỉ giới hạn trong phạm vi nội bộ công dân của
nƣớc ta mà còn liên quan đến các yếu tố nƣớc ngoài. Do đặc điểm này mà
quan hệ thủ tục hành chính hiện nay rất đa dạng, nhiều hình thức, nhiều vẻ,
nhiều cấp độ.
Thứ năm, các thủ tục hành chính do nhà nƣớc thực hiện chủ yếu tại văn
phòng công sở nhà nƣớc và phƣơng tiện truyền đạt quyết định cũng nhƣ các
thông tin quản lý phần lớn là văn bản (công văn, giấy tờ). Vì thế, nó rất gắn
chặt với công tác văn thƣ, với việc tổ chức ban hành, sử dụng và quản lý văn
bản trong các cơ quan nhà nƣớc. Thủ tục hành chính đƣợc xác định qua nhiều
giấy tờ khác nhau và đƣợc kiểm tra qua hoạt động của các văn phòng, các tổ
chức, các cá nhân có quyền thực thi công vụ.
Thứ sáu, trong bối cảnh của quá trình hội nhập và mở cửa nhƣ hiện nay,
thủ tục hành chính của các quốc gia trên thế giới cũng nhƣ của chúng ta đều
có ảnh hƣởng và tác động lẫn nhau, đặc biệt là trong việc cải thiện môi
trƣờng đầu tƣ trong nƣớc, thu hút đầu tƣ nƣớc ngoài, xuất nhập khẩu, hoạt
động mậu dịch quốc tế…. Do vậy khi xem xét và vận dụng các thủ tục hành
chính trong thực tế đối với những hoạt động có yếu tố nƣớc ngoài chúng ta
không thể không quan tâm đến các thông lệ quốc tế. Mặc dù, thủ tục hành
17
chính của mỗi quốc gia không thể thoát ly khỏi tập quán truyền thống của
dựng và vận dụng một cách hợp lý, các thủ tục hành chính sẽ tạo ra khả năng
sáng tạo trong việc thực hiện các quyết định quản lý đã đƣợc thông qua, đem
lại hiệu quả thiết thực cho quản lý nhà nƣớc. Thủ tục hành chính liên quan
đến quyền lợi của công dân, do vậy, khi đƣợc xây dựng hợp lý và vận dụng
tốt vào đời sống nó sẽ có ý nghĩa rất thiết thực, làm giảm sự phiền hà, củng
cố đƣợc quan hệ giữa nhà nƣớc và công dân. Công việc sẽ có thể đƣợc giải
quyết nhanh chóng, chính xác theo đúng yêu cầu của cơ quan nhà nƣớc, góp
phần chống đƣợc tệ nạn tham nhũng, sách nhiễu. Trong tình hình đó, vai trò
của thủ tục hành chính với tƣ cách là một bộ phận của thể chế hành chính
ngày càng có một vai trò hết sức to lớn, đặc biệt là từ khi chúng ta bắt đầu
thực hiện chủ trƣơng cải cách nền hành chính nhà nƣớc và bƣớc đầu cải cách
các thủ tục hành chính, ý nghĩa của thủ tục hành chính đã đƣợc đánh giá đúng
mức hơn.
Xét trong tổng thể chung của việc xây dựng nền hành chính nhà nƣớc, vì
thủ tục hành chính cũng là một bộ phận của pháp luật về hành chính nên nắm
vững và thực hiện tốt các quy định về thủ tục hành chính sẽ có ý nghĩa rất lớn
đối với quá trình củng cố bộ máy nhà nƣớc. Đặc biệt trong giai đoạn hiện
nay, khi đất nƣớc ta đang tiếp tục công cuộc cải cách nền hành chính nhà
nƣớc và xây dựng nhà nƣớc pháp quyền Việt Nam xã hội chủ nghĩa thì thủ
tục hành chính lại càng có vai trò quan trọng. Thực tế Đảng, Nhà nƣớc đã và
đang đề ra nhiều biện pháp nhằm cải tiến thủ tục hành chính để chúng ta
không những không cản đƣờng mà còn góp phần tích cực làm cho kinh tế có
điều kiện hội nhập và phát triển nhanh hơn. Thông qua đó là cho tiến trình cải
19
cách hành chính ngày càng có những bƣớc đi phù hợp với tiến trình đổi mới
kinh tế và xã hội của đất nƣớc.
Khi nói đến ý nghĩa tổng quan của thủ tục hành chính cũng cần nhấn
mạnh đến vị trí của nó trong thể chế của một nền hành chính mà nó góp phần
tạo nên. Chúng ta đều biết rằng các thể chế điều hành đƣợc hình thành trong
mối quan hệ của quá trình quản lý, làm cho nhà nƣớc ta thực sự là nhà nƣớc
của dân, do dân và vì dân. Chính vì vậy, thủ tục hành chính cần phải đƣợc
xây dựng một cách khoa học.
Thủ tục hành chính trên một phƣơng diện nhất định là sự biểu hiện trình
độ văn hoá của tổ chức. Đây là văn hoá giao tiếp trong bộ máy nhà nƣớc, văn
hoá điều hành. Nó cho thấy mức độ văn minh của một nền hành chính phát
triển. Chính vì lẽ đó, cải tiến thủ tục hành chính sẽ không chỉ đơn thuần liên
quan đến pháp luật, pháp chế xã hội chủ nghĩa của chúng ta mà còn liên quan
đến sự phát triển chung của đất nƣớc về các mặt chính trị, văn hoá, giáo dục
và đến sự mở rộng giao lƣu giữa nƣớc ta với các nƣớc trong khu vực và trên
thế giới.
b. Cải cách thủ tục hành chính
Cải cách là một thuật ngữ đƣợc hiểu là việc sửa đổi những cái cũ, không
còn hợp lý, thay bằng những cái mới hợp lý hơn. Vì vậy cải cách thủ tục hành
chính là sửa đổi những những thủ tục hành chính cũ, không còn phù hợp,
thay bằng những thủ tục mới hoặc xoá bỏ thủ tục cho hợp lý và đáp ứng yêu
cầu khách quan hơn. Theo ý nghĩa trên, để cải cách đƣợc thủ tục hành chính,
ít nhất chúng ta phải làm 2 việc:
Thứ nhất, nghiên cứu và phân tích xem những thủ tục hành chính đang
tồn tại ở từng lĩnh vực, những thủ tục nào không còn hợp lý, thậm chỉ đã trở
thành hủ tục, cần phải sửa đổi hoặc loại bỏ.
21
Thứ hai, nghiên cứu để tìm ra những thủ tục mới thay thế, hợp lý hơn nhằm
đáp ứng yêu cầu khách quan của giai đoạn hiện nay và những năm tiếp theo.
Thủ tục hành chính là một trong những biện pháp hành chính trong quản
lý, là vấn đề xã hội. Do đó, hai việc nêu trên nếu không thể thực hiện và đánh
giá đƣợc nhƣ kết quả ở trong phòng thí nghiệm. Đó phải là kết quả của một
quá trình nghiên cứu với tinh thần khách quan, khoa học. Muốn có đƣợc kết
quả ấy, trƣớc hết và quan trọng nhất phải có đội ngũ cán bộ công tâm, vì sự
phẩm hàng hoá, dịch vụ mới đáp ứng đƣợc nhu cầu ngày càng cao của thị
trƣờng. Trong Hiến pháp và luật của hầu hết các quốc gia, quyền tự do kinh
doanh với tƣ cách là một trong những quyền cơ bản của công dân đều đƣợc
đề cao và tôn trọng. Điều 57 Hiến pháp nƣớc Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt
Nam cũng đã quy định “Công dân có quyền tự do kinh doanh theo quy định
của pháp luật”. Tự do kinh doanh cũng nhƣ quyền tự do lựa chọn nghề
nghiệp và mƣu cầu hạnh phúc là những quyền công dân rất cơ bản đƣợc đảm
bảo trong nền kinh tế thị trƣờng phát triển.
Tự do kinh doanh đƣợc hiểu là bất kỳ một công dân, tổ chức nào khi đã
có đủ điều kiện do pháp luật quy định, nếu có nhu cầu đều có quyền tiến hành
hoạt động kinh doanh. Không một cơ quan, tổ chức hay cá nhân nào có quyền
ngăn cản hoặc hạn chế quyền tự do kinh doanh của họ. Quyền tự do kinh
doanh trƣớc hết là quyền lựa chọn ngành nghề kinh doanh, quy mô, địa điểm
kinh doanh, quyền tuyển chọn và thuê mƣớn lao động, quyền tổ chức và quản
lý hoạt động kinh doanh. Tuy nhiên, để đảm bảo tính hợp pháp cho hoạt động
kinh doanh của mình, tránh sự can thiệp trái pháp luật của các tổ chức, cá
nhân khác cũng nhƣ đảm bảo cho lợi ích của Nhà nƣớc, lợi ích công cộng,
quyền và lợi ích hợp pháp của ngƣời khác không bị xâm phạm, trƣớc khi
chính thức tham gia các quan hệ dân sự, kinh tế, thƣơng mại và các quan hệ
23
pháp luật khác trên thƣơng trƣờng, những chủ thể kinh doanh này cần phải
đăng ký hoạt động kinh doanh của mình với cơ quan nhà nƣớc có thẩm
quyền. Do đó có thể khẳng định rằng, đăng ký kinh doanh cũng là một trong
những công cụ giúp cho việc thực hiện quyền tự do kinh doanh của công dân.
Đăng ký kinh doanh là việc Nhà nƣớc ghi nhận về mặt pháp lý sự ra đời của
một chủ thể kinh doanh. Kể từ thời điểm đƣợc cấp giấy chứng nhận đăng ký
kinh doanh, chủ thể kinh doanh có đầy đủ năng lực pháp luật (hay tƣ cách
chủ thể) để tiến hành hoạt động kinh doanh theo quy định của pháp luật. Nhà
nƣớc cung cấp những bảo đảm đầy đủ về mặt chính trị - pháp lý để chủ thể
đăng ký kinh doanh và đăng ký thay đổi nội dung đăng ký kinh doanh cho
chủ thể kinh doanh. Quy trình này cũng phải đƣợc thực hiện theo đúng các
bƣớc và thời hạn nhƣ luật định.
Với việc đƣợc cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, chủ thể kinh doanh
công khai hoá sự ra đời của mình với giới thƣơng nhân, đồng thời tƣ cách chủ
thể của họ cũng đƣợc Nhà nƣớc công nhận về mặt pháp lý. Kể từ thời điểm
này, chủ thể kinh doanh có đầy đủ năng lực pháp luật để nhân danh mình
tham gia vào các quan hệ kinh tế, dân sự và các quan hệ pháp luật khác.
Trình tự, thủ tục đăng ký kinh doanh.
Trình tự, thủ tục đăng ký kinh doanh là những công đoạn (những bƣớc)
và thời hạn thực hiện mà cá nhân, tổ chức và cơ quan đăng ký kinh doanh
phải tuân thủ trong quá trình đăng ký kinh doanh và đăng ký thay đổi nội
dung đăng ký kinh doanh do pháp luật quy định. Thông thƣờng, việc đăng ký
kinh doanh đƣợc tiến hành theo các bƣớc:
Nộp và tiếp nhận hồ sơ đăng ký kinh doanh;
25
Xem xét tính hợp lệ của hồ sơ đăng ký kinh doanh và cấp giấy chứng nhận
đăng ký kinh doanh;
Công bố nội dung đăng ký kinh doanh.
Và thủ tục đăng ký kinh doanh hiện tại bao gồm:
Đơn đăng ký kinh doanh;
Điều lệ công ty (đối với Công ty TNHH, công ty cổ phần, công ty hợp danh);
Danh sách thành viên (đối với công ty TNHH), danh sách cổ đông đối với
công ty cổ phần.
Chứng chỉ hành nghề, xác nhận vốn pháp định (đối với doanh nghiệp kinh
doanh các các ngành nghề pháp luật yêu cầu phải có chứng chỉ hành nghề,
vốn pháp định).
Bản sao hợp lệ của một trong các giấy tờ chứng thực cá nhân hợp pháp theo
quy định.