ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT TRỊNH PHƢƠNG THẢO
CẢI CÁCH THỦ TỤC HÀNH CHÍNH
TRONG NGÀNH HẢI QUAN HIỆN NAY LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI - 2011
HÀ NỘI - 2011
MỤC LỤC
Trang
Trang phụ bìa Lời cam đoan Mục lục Danh mục từ viết tắt Danh mục các bảng Danh mục các hình
Cải cách thủ tục chính áp dụng phương pháp quản lý hiện đại
28
1.3
Phân loại thủ tục hành chính trong ngành Hải quan
31
1.4.
Ý nghĩa của cải cách thủ tục hành chính trong ngành Hải quan
33
Chương 2: THỰC TRẠNG CẢI CÁCH THỦ TỤC HÀNH CHÍNH
TRONG NGÀNH HẢI QUAN HIỆN NAY
37
2.1.
Quan điểm của nhà nước về cải cách thủ tục hành chính trong
ngành Hải quan
37
2.2.
Thực trạng cải cách thủ tục hành chính trong ngành Hải quan
39
2.2.1.
Thực trạng pháp luật về thủ tục hải quan với xu hướng cải cách
39
2.2.2.
Thực trạng cải cách thủ tục hành chính đối với hoạt động xuất
nhập khẩu
45
2.2.3.
Thực trạng thực hiện thủ tục hải quan điện tử
52
2.2.4.
106
3.4.1.
Tiêu chuẩn hóa và hài hòa hóa quy trình thủ tục
106
3.4.2.
Tiêu chuẩn hóa và hài hóa yêu cầu thông tin, chứng từ
108
3.4.3.
Đẩy mạnh sự phối kết hợp với cơ quan nhà nước có liên quan
111
3.5.
Phát triển công nghệ thông tin
113
KẾT LUẬN
116
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
118 DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
CNTT
: Công nghệ thông tin
GDĐT
: Giao dịch điện tử
Tªn h×nh
Trang
2.1
Sơ đồ quy trình TTHQĐT
59
2.2
Sơ đồ quản lý hàng hóa xuất nhập khẩu
71
2.3
Mô tả quy trình cấp phép
74
2.4
Quy trình thông quan hàng hóa
75
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong khoảng thời gian từ hơn một chục năm trở lại đây, đất nước
ngày càng đổi mới theo chủ trương của Đảng đề ra, đặc biệt kể từ khi chúng ta
bắt đầu thực hiện chủ trương cải cách nền hành chính nhà nước và bước đầu cải
cách thủ tục hành chính (TTHC), ý nghĩa của TTHC đã được đánh giá đúng mức
hơn. Vai trò của TTHC với tư cách là một bộ phận của cơ chế hành chính ngày
càng có vai trò to lớn. TTHC là cơ sở và điều kiện cần thiết để cơ quan nhà nước
giải quyết công việc của người dân và các tổ chức theo pháp luật, bảo đảm
quyền và lợi ích hợp pháp của các cá nhân, tổ chức và các cơ quan có công việc
cần giải quyết. Với tư cách là một bộ phận của TTHC, trong những năm qua
cầu tổng thể về hiện đại hóa: sửa đổi hệ thống pháp luật, tái cơ cấu tổ chức và
sử dụng hợp lý nguồn nhân lực, phát triển và ứng dụng đồng bộ hệ thống
công nghệ thông tin (CNTT) trong các khâu nghiệp vụ quản lý và tích hợp các
hệ thống, TTHQ với dây chuyền cung ứng. Dưới sự tác động này, các chương
trình, dự án về cải cách TTHC trong ngành Hải quan đã được chú trọng thực
hiện trong nhiều năm qua và đã thu được nhiều kết quả tích cực.
Do đó, việc nghiên cứu Đề tài "Cải cách thủ tục hành chính trong
ngành Hải quan hiện nay" giữa bối cảnh hiện nay, hết sức có ý nghĩa về cả
lý luận, thực tiễn và tính thời sự, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quàn lý nhà
nước về hải quan, đáp ứng yêu cầu cải cách, hiện đại hóa hải quan theo định
hướng chung của Đảng và của Nhà nước.
2. Tình hình nghiên cứu
2.1. Tình hình nghiên cứu ngoài nước
Hiện nay, việc cải cách TTHC được triển khai ở nhiều nước trên thế
giới đặc biệt trong lĩnh vực hải quan bởi đây là một lĩnh vực liên quan trực
tiếp đến tạo thuận lợi thương mại, thu hút đầu tư và làm tăng khả năng cạnh
tranh của mỗi quốc gia khi tham gia vào chuỗi cung ứng toàn cầu.
Các nghiên cứu của thế giới liên quan đến cải cách thủ tục hải quan
hiện nay có thể kể tới các tài liệu như: Cải cách thủ tục xuất nhập khẩu hướng
dẫn cho đối tượng thực thi (9/2008) của Ngân hàng thế giới, Sổ tay hiện đại
hóa hải quan (2007); Kinh nghiệm cải cách thủ tục hải quan của các nước
ASEAN (2009)
2.2. Tình hình nghiên cứu trong nước
Các nghiên cứu trong nước đối với cải cách thủ tục hành chính nói
chung và đối với thủ tục hải quan nói riêng trong thời gian qua khá nhiều. Bởi
đây là một vấn đề mang tính thời sự, là đòi hỏi đặt ra trong bối cảnh hội nhập
kinh tế quốc tế, được Đảng và Nhà nước coi là một trong những khâu đột phá
của cải cách nền hành chính quốc gia.
Các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài "Cải cách thủ tục
hành chính trong ngành Hải quan hiện nay" bao gồm: Hoàn thiện thủ tục
Dựa trên chủ nghĩa Mác- Lê nin về chủ nghĩa duy vật biện chứng và
duy vật lịch sử, tư tưởng Hồ Chí Minh về quan điểm của Đảng cộng sản Việt
Nam về đường lối phát triển kinh tế ở Việt Nam, về hội nhập kinh tế quốc tế.
5.2. Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
- Phương pháp tổng hợp, phân tích
Đề tài có sử dụng phương pháp tổng hợp, phân tích nhằm hệ thống
hóa một cách cơ bản các TTHC cơ bản, cốt lõi của ngành hải quan. Đó là các
TTHC liên quan đến hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu hàng hóa qua biên giới.
Qua đó, đưa ra các nhận định về hiện trạng TTHC hiện hành nhằm phát hiện
các ưu, nhược điểm và đề xuất các biện pháp khắc phục.
- Phương pháp so sánh dùng để phân biệt các đối tượng nghiên cứu
trong đề tài để từ đó có cách hiểu thống nhất đối với vấn đề đưa ra.
6. Đóng góp khoa học của đề tài
Đây là đề tài đầu tiên nghiên cứu một cách có hệ thống về cải cách
TTHC trong lĩnh vực hải quan trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế, đặc
biệt là việc triển khai thủ tục hải quan điện tử và cơ chế một cửa quốc gia của
ngành hải quan hiện nay.
Đóng góp khoa học của đề tài thể hiện ở những khía cạnh sau:
- Làm sáng tỏ các vấn đề lý luận cơ bản về thủ tục hành chính trong
ngành hải quan;
- Đánh giá thực trạng cải cách thủ tục trong ngành hải quan trong xu
thế hội nhập hiện nay;
- Đề ra các giải pháp để cải cách thủ tục hành tục hành chính trong
ngành hải quan.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội
dung của luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Một số vấn đề lý luận cơ bản về thủ tục hành chính trong
ngành hải quan.
Chương 2: Thực trạng cải cách thủ tục hành chính trong ngành hải
cách khái quát nội dung công việc của hải quan, đó là phụ trách việc kiểm tra,
giám sát, kiểm soát hàng hóa, phương tiện vận tải đưa vào, đưa ra khỏi lãnh
thổ quốc gia và thu thuế các hoạt động này.
Theo nguồn gốc lịch sử, từ Hải quan bắt nguồn từ từ "Douane" của
người Ai Cập, từ này có nghĩa là "thu quốc gia". Người Anh gọi là
"Customs", người Đức và Hy Lạp gọi là "Zull" Sự tan rã của xã hội cộng sản
nguyên thủy, giai cấp chủ nô ra đời, xuất hiện những thành phần dư dả vật
chất trong xã hội, cơ cấu xã hội thay đổi là những điều kiện về chính trị của
việc xuất hiện hoạt động hải quan. Xã hội loài người càng phát triển, nhu cầu
của con người ngày càng đa dạng, phong phú và ngày một đòi hỏi cao hơn sự
thỏa mãn về hàng hóa. Do vậy, các dịch vụ trao đổi, mua bán, chuyển nhượng
ngày càng phát triển. Dường như các mặt hàng trong nước không đủ để đáp
ứng nhu cầu của người dân, chính vì thế việc xuất nhập khẩu tăng lên không
ngừng và do đó vai trò của cơ quan hải quan ngày càng quan trọng.
Thời kỳ đầu, hải quan về cơ bản có các chức năng chính như việc thu
thuế tạo nguồn thu cho ngân khố, củng cố địa vị thống trị của giai cấp bóc lột.
Tại Hy Lạp, người ta thu thuế ở các chợ hàng nhập khẩu, xuất khẩu. Tàu
thuyền nhập khẩu đậu ở cảng đều phải nộp thuế, thuế này được gọi là
"inforium" khoảng 2% trị giá hàng hóa. Tại La Mã thu thuế "inforium" do
một số người đứng đầu phụ trách. Cũng vì chức năng cơ bản này mà hiện nay
cơ quan hải quan nhiều nước vẫn trực thuộc Bộ Tài chính. Hiện nay, chức
năng của Hải quan đã được mở rộng hơn không dừng lại ở việc thu thuế mà
còn phòng chống buôn lậu, gian lận thương mại
Chức năng truyền thống của Hải quan là bảo vệ an ninh kinh tế quốc
gia. Mục tiêu tổng quát của chức năng này là việc bảo vệ và tạo điều kiện
thuận lợi cho phát triển kinh tế của đất nước. Chức năng của Hải quan thể
hiện qua những mục tiêu mà Hải quan nhằm đạt được thông qua các hoạt
động của mình. Những mục tiêu này thay đổi tùy theo hình thái ý thức xã hội
và mô hình phát triển kinh tế của mỗi quốc gia.
Ở Việt Nam, cơ quan hải quan được thành lập ngay sau khi nước Việt
thi pháp luật hải quan trong phạm vi cả nước. Hệ thống tổ chức của hải quan
không được củng cố, hoàn thiện trong những năm qua, đáp ứng các yêu cầu
đặt ra từ thực tiễn phát triển kinh tế- xã hội của đất nước, theo chủ trương của
Đảng và Nhà nước đặt ra.
Hải quan được tổ chức theo mô hình 3 cấp, đứng đầu là Tổng cục Hải
quan- được coi là cơ quan đầu não của toàn ngành; Cục Hải quan tỉnh, liên
tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương; Chi cục Hải quan cửa khẩu, Đội kiểm
soát hải quan và đơn vị tương đương. Tổng cục trưởng Tổng cục Hải quan
thống nhất quản lý, điều hành hoạt động của Hải quan các cấp; Hải quan cấp
dưới chịu sự quản lý, chỉ đạo của Hải quan cấp trên.
Ở các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương hoặc liên tỉnh có Cục Hải
quan tỉnh hoặc liên tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương trực thuộc Tổng cục
Hải quan. Cục Hải quan do Thủ tướng Chính phủ quyết định thành lập mới, tổ
chức lại và giải thể. Cục Hải quan thực hiện các công việc về hải quan trong
phạm vi lãnh thổ mà mình được phép quản lý theo quy định của pháp luật.
Ở cửa khẩu, cảng biển quốc tế, cảng sông quốc tế, bưu điện ngoại
dịch, khu vực kiểm soát hải quan trên biên giới, bờ biển, vùng lãnh hải, vùng
tiếp giáp lãnh hải, khu chế xuất hoặc các địa điểm khác theo quy định của
pháp luật có Chi cục Hải quan cửa khẩu, Đội kiểm soát hải quan hoặc đơn vị
tương đương. Việc thành lập Chi cục Hải quan cửa khẩu, Đội kiểm soát hải
quan hoặc đơn vị tương đương do Tổng cục trưởng Tổng cục Hải quan quyết
định theo quy hoạch tổ chức mạng lưới hải quan đã được Thủ tướng Chính
phủ phê duyệt. Chi cục Hải quan cửa khẩu, Đội kiểm soát hải quan và các đơn
vị tương đương là các đơn vị trực tiếp thực hiện những hoạt động nghiệp vụ
cụ thể về hải quan theo quy định của pháp luật.
Như vậy, nguyên tắc tập trung, thống nhất thể hiện một cách rõ nét
trong tổ chức bộ máy của cơ quan hải quan. Đứng đầu ngành là Tổng cục
trưởng Tổng cục Hải quan do Thủ tướng Chính phủ bổ nhiệm theo đề nghị
của Bộ trưởng Bộ Tài chính và chịu trách nhiệm trước Bộ trưởng Bộ Tài
chính về hoạt động của toàn ngành. Cục trưởng Cục Hải quan các tỉnh, liên
của hoạt động hải quan thể hiện qua những phương diện sau đây:
Thứ nhất, hải quan là công cụ quan trọng của mỗi quốc gia trong việc
bảo hộ và thúc đẩy phát triển nền sản xuất trong nước. Thông qua việc kiểm
soát chặt chẽ hàng hóa xuất, nhập khẩu, đấu tranh mạnh mẽ với các hoạt động
buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hóa, tiền tệ và các phương tiện thanh
toán khác qua biên giới, hoạt động hải quan góp phần đảm bảo cho nền kinh
tế phát triển ổn định, kích thích và bảo hộ sản xuất trong nước. Cũng chính
thông qua việc trực tiếp thực hiện hoạt động thu thuế xuất - nhập khẩu, thuế
gián thu đối với hàng nhập khẩu, hoạt động hải quan đã trở thành công cụ rất
quan trọng trong việc bảo vệ hàng rào thuế quan nhằm góp phần điều tiết hoạt
động kinh tế diễn ra ở bên trong mỗi quốc gia. Bên cạnh đó, thông qua việc
thu thuế đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu hoạt động hải quan đã đóng
góp một phần không nhỏ vào nguồn thu cho ngân sách của các quốc gia.
Thứ hai, hải quan được xác định là một trong những công cụ quan
trọng góp phần vào việc bảo vệ an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội của
mỗi quốc gia. Vai trò này của hải quan được đặc biệt nhấn mạnh trong việc
phát hiện và xử lý kịp thời các hành vi vi phạm pháp luật về hải quan nói
riêng và vi phạm pháp luật nói chung nhằm đảm bảo an ninh về văn hóa tư
tưởng, an toàn vệ sinh - dịch tễ, bảo vệ sức khỏe của nhân dân, bảo vệ lợi ích
của người tiêu dùng, chủ quyền và an ninh của các quốc gia.
Thứ ba, ngày nay, các quốc gia đang có nhu cầu thu hút vốn đầu tư
của các nhà đầu tư nước ngoài nhằm xây dựng và phát triển nền kinh tế của
quốc gia mình đều đặc biệt quan tâm tới việc cải thiện môi trường đầu tư,
trong đó phải kể đến việc thay đổi luật lệ và chính sách về hải quan, xúc tiến
việc cải cách TTHC trong lĩnh vực hải quan. Đây là việc làm cần thiết bởi luật
lệ và chính sách hải quan, TTHQ là những vấn đề có liên quan trực tiếp đến
lợi ích của các nhà đầu tư nước ngoài. Như vậy, hải quan là lĩnh vực hoạt
động có tầm quan trọng đặc biệt đối với việc cải thiện môi trường đầu tư, thúc
đẩy và thu hút vốn đầu tư nước ngoài đối với mỗi quốc gia.
Nội dung chủ yếu của hoạt động hải quan bao gồm TTHQ và chế độ
tổng thể các quy phạm pháp luật điều chỉnh một nhóm quan hệ xã hội trong
lĩnh vực quàn lý nhà nước về hải quan, tức là điều chỉnh hoạt động của cơ
quan hải quan cũng như các chủ thể khác tham gia các quan hệ xã hội được
hình thành trong quá trình tổ chức và hiện hoạt động chấp hành- điều hành
của nhà nước trong lĩnh vực hải quan (thi hành các chế độ kiểm tra, giám sát,
quàn lý nhà nước đối với hàng hóa, hành lý; phương tiện vận tải xuất nhập
cảnh, chống buôn lậu, gian lận thương mại, thu thuế và các khoản thu khác )
nhằm bảo vệ và thúc đẩy sản xuất trong nước, bảo vệ chủ quyền đất nước về
mặt kinh tế.
Như vậy, tổ chức và hoạt động của ngành Hải quan tuân thủ những
nguyên tắc nhất định và theo quy định của pháp luật. Trong những năm qua,
tổ chức và hoạt động của ngành Hải quan không ngừng được hoàn thiện đặc
biệt trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế xứng đáng là người gác cửa nền
kinh tế của quốc gia.
1.1.2. Khái niệm thủ tục hành chính trong ngành Hải quan
Trong quản lý, các công việc cần phải được giải quyết theo những thủ
tục phù hợp. Với ý nghĩa chung nhất, "thủ tục (procedure) là phương thức,
cách thức giải quyết công việc theo một trình tự nhất định, một thể lệ thống
nhất, gồm một loạt nhiệm vụ liên quan chặt chẽ với nhau nhằm đạt được kết
quả mong muốn" [10, tr. 5].
Trong hoạt động của các cơ quan nhà nước, thủ tục trước hết được
hiểu là những trình tự được quy định phải tuân theo khi thực hiện công việc.
Theo quan niệm này, ở nhiều nước có luật thủ tục cho các hoạt động của các
cơ quan nhà nước tương đối cụ thể. Những thủ tục như vậy không đơn thuần
chỉ là yêu cầu về giấy tờ hành chính cần có mà còn là trật tự hoạt động của cơ
quan nhà nước được quy định.
Theo quy định của pháp luật và thực tiễn quàn lý nhà nước ở nước ta,
hoạt động chấp hành và điều hành (hành pháp) của hệ thống cơ quan hành
chính nhà nước được thực hiện bằng hành động liên tục theo một trình tự nhất
định nhằm đạt mục đích quản lý đã được đề ra. Đó là thủ tục quản lý hành
công chức nhà nước khi ban hành và tổ chức thực hiện các quyết định quản lý
hành chính nhà nước đều phải tuân theo một quy trình đã được quy phạm
TTHC quy định, nhằm thực hiện một cách tốt nhất các chủ trương, chính sách
của Đảng và Nhà nước theo pháp luật cũng như phục vụ nhu cầu hàng ngày
của công dân.
TTHC là một chế định tất yếu của luật hành chính. Nói khác đi, TTHC
là loại quy phạm hành chính có tính công cụ để cho cơ quan nhà nước có điều
kiện thực hiện chức năng của mình. TTHC bảo đảm cho các quy phạm vật
chất của luật hành chính được thực hiện có hiệu quả trong đời sống xã hội.
Xây dựng một quan niệm chung, thống nhất về TTHC là rất quan
trọng. Điều đó chẳng những có ý nghĩa, vai trò to lớn trong hoạt động lập
pháp, lập quy mà còn hết sức cần thiết để có nhận thức hành động đúng đắn
trong hoạt động quản lý hành chính nhà nước; đặc biệt là trong tiến trình cải
cách nền hành chính nhà nước.
Như vậy, TTHC là trình tự, cách thức giải quyết công việc của cơ
quan hành chính nhà nước có thẩm quyền trong mối quan hệ nội bộ của hành
chính và giữa các cơ quan hành chính nhà nước với các tổ chức và công dân.
Nó giữ vai trò đảm bảo cho công việc đạt được mục đích đã định, phù hợp với
thẩm quyền của các cơ quan nhà nước hoặc của các cá nhân, tổ chức được ủy
quyền trong việc thực hiện chức năng quàn lý nhà nước.
Trên cơ sở khái niệm chung về TTHC có thể hiểu TTHC trong lĩnh
vực hải quan (thủ tục hải quan) là trình tự thực hiện các công việc thuộc thẩm
quyền của cơ quan hải quan, trình tự thực hiện quyền và nghĩa vụ của các tổ
chức và cá nhân liên quan trong quá trình tiến hành hoạt động hải quan theo
quy định của pháp luật.
Theo quy định của pháp luật hiện hành, hàng hóa xuất khẩu, nhập
khẩu, quá cảnh, phương tiện vận tải xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh phải được
làm TTHQ theo đúng các nguyên tắc của TTHC, đó là "công khai, nhanh
chóng và theo đúng các quy định của pháp luật".
Nội dung của khái niệm TTHQ thể hiện qua ba yếu tố: Chủ thể tham
Trường hợp hệ thống thông báo bị cưỡng chế nhưng doanh
nghiệp có hồ sơ chứng minh đã nộp thuế hoặc thanh khoản, công
chức kiểm tra thấy phù hợp thì báo cáo lãnh đạo chi cục chấp nhận,
lưu kèm hồ sơ và tiến hành các bước tiếp theo.
2.2. Kiểm tra thực hiện chính sách mặt hàng (giấy phép,
điều kiện xuất khẩu, nhập khẩu).
2.3. Xử lý kết quả kiểm tra điều kiện đăng ký tờ khai:
a) Nếu hồ sơ không đủ điều kiện để đăng ký tờ khai thì trả
hồ sơ và thông báo bằng Phiếu yêu cầu nghiệp cho người khai hải
quan biết rõ lý do;
b) Nếu đủ điều kiện để đăng ký tờ khai thì tiến hành tiếp các
công việc dưới đây.
3. Nhập thông tin khai trên tờ khai hải quan hoặc khai qua
mạng, hệ thống sẽ tự động cấp số tờ khai và phân luồng hồ sơ.
4. Đăng ký tờ khai (ghi số tờ khai do hệ thống cấp lên tờ khai)
4.1. Ghi số, ký hiệu loại hình, mã Chi cục Hải quan (do hệ
thống cấp) và ghi ngày, tháng, năm đăng ký lên tờ khai hải quan.
4.2. Ký, đóng dấu công chức vào ô "cán bộ đăng ký tờ khai".
5. In Lệnh hình thức, mức độ kiểm tra hải quan.
Lệnh chỉ in 01 bản để sử dụng trong nội bộ hải quan và lưu
cùng hồ sơ hải quan. Hình thức, mức độ kiểm tra hải quan bao gồm:
5.1. Hồ sơ hải quan:
a) Kiểm tra sơ bộ đối với hồ sơ của chủ hàng chấp hành tốt
pháp luật hải quan và pháp luật về thuế theo quy định của pháp luật;
b) Kiểm tra chi tiết đối với hồ sơ của chủ hàng khác theo
quy định của pháp luật.
5.2. Thực tế hàng hóa:
a) Miễn kiểm tra thực tế đối với hàng hóa;
b) Kiểm tra thực tế đối với hàng hóa, cụ thể:
b1) Mức (1): Kiểm tra tỷ lệ (%);