CẢI CÁCH THỦ TỤC HÀNH CHÍNH TRONG TỔ CHỨC TIẾP
CÔNG DÂN VÀ GIẢI QUYẾT KHIẾU NẠI TỐ CÁO
Mã số: 97 – 98 – 065/ĐT
Chủ nhiệm đề tài: LÊ ĐÌNH ĐẤU
Vụ trưởng Vụ Thanh tra xét khiếu tố
Nghiệm thu năm: 1999
BÁO CÁO KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
LỜI NÓI ĐẦU
Trong những năm gần đây, thự hiện đường lối đổi mới, nền kinh tế
nước ta đã từng bước phát triển, đời sống của nhân dân ngày càng được cải
thiện và nâng lên rõ rệt. Quyền dân chủ của nhân dân, trong đó có quyền
khiếu nại, tố cáo không ngừng được phát huy.
Cùng với những thành tựu đạt được trong nhiều lĩnh vực đời sống
kinh tế - xã hội, tình hình khiếu nại, tố cáo của công dân cũng có những diễn
biến mới.
Hội nghị Ban chấp hành Trung ương Đảng lần thứ tám khóa VIII đã
ra Nghị quyết về tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước Cộng hòa xã hội
chủ nghĩa Việt Nam mà trọng tâm là cải cách một bước nền hành chính nhà
nước nhằm xây dựng Nhà nước ta thực sự là “Nhà nước của dân, do dân và
vì dân”. Một trong các vấn đề bức xúc mà Nghị quyết Trung ương 8 nhấn
mạnh là các cấp, các ngành cần tập trung giải quyết có hiệu quả các khiếu
nại, tố cáo của công dân.
Thực hiện Nghị quyết của Trung ương và sự chỉ đạo của Chính phủ,
trong thời gian qua, các cấp, các ngành đã tập trung chỉ đạo tổ chức tiếp
công dân, tiếp nhân, xem xét, giải quyết các khiếu nại, tố cáo của công dân,
và đã đạt được những kết quả đáng kể. Nhiều khiếu nại, tố cáo của công dân
đã được xem xét, giải quyết kịp thời, đúng chính sách, pháp luật, qua đó góp
phần vàp việc duy trì trật tự kỷ cương, pháp luật, giữ vững ổn định tình hình
chính trị - xã hội của đất nước.
Tuy nhiên, tình hình khiếu nại, tố cáo hiện nay vẫn đang có chiếu
hướng ngày càng gia tăng, số người trực tiếp đi khiếu nại, tố cáo ngày càng
TIẾP CÔNG DÂN VÀ GIẢI QUYẾT KHIẾU NẠI, TỐ CÁO
I. QUẢN LÝ HÀNH CHÍNH VÀ THỦ TỤC HÀNH CHÍNH
1. Những vấn đề chung về quản lý hành chính nhà nước
Quản lý hành chính nhà nước là một công việc đa dạng và phức tạp, là
đòi hởi tự thân, khách quan của hoạt động nhà nươc, của sự phát triển xã hội
và mang tíh liên tục, kế thừa. Điều này thể hiện rõ nhất ở chỗ các hoạt động
trong xã hội luôn diễn ra không ngừng, nêng cũng luôn cần có sự quản lý,
điều hành quá trình đó.
Đối với một quốc gia thì vấn đề quản lý nhà nước bao giờ cũng giữ
vai trò đặc biệt quan trọng, nó quyết định sự lạc hậu hay phát triển của đất
nước. Điều đó, xét cho cùng, đều phụ thuộc vào nghệ thuật quản lý, điều
hành của Nhà nứơc, mà đại diện là các cơ quan có thẩm quỳên.
Sự đa dạng và phức tạp của quản lý nhà nước được quy định bởi sự
đa dạng và phức tạp của các lĩnh vực hoạt động của Nhà nước, của xã hội;
bởi các công việc quản lý trong từng lĩnh vực họat động đó; bởi sự phong
phú của các chủ thể quản lý; cuối cùng là bởi mối quan hệ theo chiều dọc,
chiều ngang trong nội bộ từng cơ quan quản lý, giữa các cơ quan quản lý với
nhau hoặc giữa cơ quan quản lý với công dân và các tổ chức khác. Nhà nước
có bao nhiêu lĩnh vực hoạt động thì có bấy nhiêu dạng quản lý. Mỗi một lĩnh
vực hoạt động lại có những đặc thù riêng, phạm vi, môi trường quản lý
riêng, đối tượng chịu sự quản lý khác nhau, nên các phương pháp, biện pháp
quản lý, điều hành đối với từng lĩnh vực là không giống nhau. Từ đấy phải
có nhiều loại cơ quan khác nhau để thực hiện chức năng quản lý nhà nước
trong các lĩnh. Cơ quan quản lý có thẩm quyền chung: Chính phủ, Ủy ban
nhân dân các cấp; cơ quan quản lý thẩm quyền riêng: Bộ ngành, sở, phòng,
ban…
Quản lý hành chính nhà nước chủ yếu được thực hiện bằng các cơ
quan thuộc hệ thống hành pháp. Song trong thực tế, các cơ quan quyền lực:
Quốc hội, Hội đồng nhân dân các cấp, các cơ quan thuộc hệ thống Tòa án,
Viện kiểm sát, các tổ chức chính trị - xã hội, các tổ chức kinh tế cũng thực
doanh nghiệp và các đối tượng quản lý khác thực hịên và bảo vệ các quyền
và nghĩa vụ của mình, là phương tiện để kiểm tra, kiểm soát tính đúng đắn
trong hoạt động quản lý của các cơ quan, công chức nhà nước, ngăn ngừa vi
phạm pháp luật đối với các hoạt động công vụ, buộc các cơ quan hành chính
và công chức tôn trọng các quyền hợp pháp của công dân.
Nếu thủ tục hành chính rõ ràng, không phức tạp, công khai, dễ thực
hiện sẽ thúc đẩy, mở rộng và củng cố nguyên tắc dân chủ xã hội chủ nghĩa
trong quản lý nhà nước, tiết kiệm thời gian, sức lực, nó thể hiện trình độ
pháp lý cũng như kỹ thuật ban hành pháp luật của đất nước.
Chính phủ có Nghị định số 38/CP ngày 4/8/1994 về cải cách một
bước thủ tục hành chính trong giải quyết công việc của công dân và tổ chức,
coi đây là khâu đột phá trong cải cách hành chính nhà nước, Tính năng động
của nền kinh tế thị trường đòi hỏi các thủ tục hành chính, phong cách làm
việc của viên chức trong việc giải quyết các yêu cầu, đòi hỏi của nhân dân
và các nhà đầu tư nước ngoài phải đơn giản, nhanh ngọn. Các thủ tục rườm
rà trong giải quyết một đề nghị; thái độ thiếu sẵn sàng của viên chức hành
chính, thủ tục thiếu công khai; nhiều cấp, nhiều ngành ban hành thủ tục hành
4
chính dẫn đến tình trạng phổ biến là gây ách tác, chậm trễ, làm cho nhân dân
và các nhà đầu tư đánh giá sai về bộ máy hành chính nhà nứoc là bộ máy
nặng nề, quan liêu.
Thủ tục hành chính trực tiếp ảnh hưởng đến cuộc sống hàng ngày của
nhân dân, liên quan đến phục vụ cho họat động của các cơ quan, tổ chức và
cá nhân trong kinh doanh, xây dưngj, xuất nhập khẩu, khai sinh, khai tử, giá
thú, đăng ký kết hôn, thay đổi chỗ ở, nơi làm việc, giải quyết khiếu nại, tố
cáo… Cho nên, quy trình thực hiện thủ tục hành chính cần phải nhanh gọn,
đúng quy định của Nhà nước nhằm tạo thuận lợi cho mọi họat động phục vụ
đắc lực đời sống của nhân dân.
Hiện nay có nhiều cách hỏi khác nhau về thủ tục hành chính. Có quan
niệm cho rằng thủ tục hành chính là cách thức, lề lối làm việc, là mối quan
Thủ tục lập và tổ chức và thi tuyển, bổ nhiệm cán bộ, công chức nhà
nước.
+ Thủ tục khen thưởng và kỷ luật.
b) Thủ tục hành chính liên hệ là thủ tục tiến hành giải quyết các công
việc liên quan đến tự do, quyền và lợi ích hợp pháp, phòng ngừa, ngăn chặn,
xử phạt các hành vi vi phạm hành chính, trưng thu, trưng mua các động sản
của công dân và tổ chức như:
+ Thủ tục xem xét kiến nghị, yêu cầu, khiếu nại, tố cáo của công dân.
+ Thủ tục giải quyết các yêu cầu của các cơ quan, tổ chức khác của
Nhà nước.
+ Thủ tục áp dụng các biện pháp phòng ngừa, ngăn chặn hành chính.
+ Thủ tục xử phạt vi phạm hành chính.
Khi thực hiện thủ tục hành chính phải bảo đảm tính chính xác, khách
quan, công minh. Yêu cầu này được bảo đảm bởi hoạt động của các cơ quan
nhà nước. Do vậy, cơ quan được phép tiến hành thủ tục phải có đủ các loại
giấy tờ, tài liệu, chứng cứ cần thiết và có quyền đòi hỏi đối tượng giải trình,
cung cấp thông tin, áp dụng các biện pháp khác. Các cá nhân, tổ chức có
trách nhiệm cung cấp đầy đủ thông tin, tư liệu cần thiết để thực hiện thủ tục
hành chính thuận lợi.
Thủ tục hành chính được thực hiện công khai. Do đó phải niêm yết
công khai các loại thủ tục hành chính tại trụ sở cơ quan nơi tiếp nhận và giải
quyết công việc để nhân dân biết, đồng thời khi tiến hành thủ tục cũng phải
công khai, theo đúng quy định của pháp luật, trừ trường hợp phải bảo đảm bí
mật theo quy định chung hoặc theo yêu cầu của các bên tham gia.
Các bên tham gia thủ tục hành chính bình đẳng trước pháp luật, điều
này có ý nghĩa là cơ quan hành chính nhà nước phải giải quyết các quyền
chủ thể của công dân, tổ chức khi đề ngị của họ có đủ điều kiện luật định
bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự.
Thủ tục hành chính được thực hiện đơn giản, tiết kiệm, trước hết cần
giảm bớt các cấp, các khâu, các cửa, đồng thời tăng quyền và trách nhiệm
Thủ tục hành chính trong tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo là
một bộ phận của thủ tục hành chính nói chung. Thủ tục giải quyết khiếu nại,
tố cáo cũng mang đầy đủ những tính chất, đặc trưng và những nguyên tắc
như bất kỳ thủ tục hành chính nào khác.
Trước hết, nó bảo đảm cho việc tiếp nhận, giải quyết khiếu nại, tố cáo
đúng pháp luật và thực hiện được thuận lợi.
Thứ hai, nó bảo đảm cho các cơ quan hành chính thực hiện đúng chức
năng, thẩm quyền. Thông qua việc quy định các trình tự, thủ tục và thẩm
quyền giải quyết khiếu nại, tố cáo để làm tõ thứ bậc trong bộ máy quản lý
hành chính, sự hiệp đồng chặt chẽ với nhau để công việc được tiến hành có
trật tự, tạo sự thống nhất, tránh sự chồng chéo trong giải quyết hoặc lạm
quyền để đơn từ của công dân chạy lòng vong, mặt khác làm cơ sở cho việc
giám sát các cơ quan, công chức hành hính được tiến hành mộtc cách tích
cực, hiệu quả.
Ba là, thủ tục phải đơn giản, dễ thực hiện, tiện lợi. Có nghĩa là mọi thủ
tục hành chính phải vì sự thuận lợi cho công dân chứ không phải vì mang lại
thuận tiện và an nhàn cho cơ quan nàh nước mà dẫn đến sách nhiễu nhân
dân,
7
Bốn là, mọi thủ tục giải quyết khiếu nại, tố cáo phải quy định thành
văn bản công khai, niêm yết tại trụ sở tiếp công dân để công dân biết và thực
hiện quyền giám sát của mình.
Trong thực tế, vị trí trụ sở tiếp công dân, cách bố trím tổ chức, trang
trì các ghi thức ở nơi tiếp công dân có ảnh hướng rất lớn tới môi trường tiếp
công dân. Đôi khi những hòm thư góp ý: hòm thư kiến nghị, đề bạt, hòm thư
tố cáo… đặt tại trụ sở tiếp công dân; những bản thông báo trả lời kịp thời
của chính quyền về những vấn đề trên có sức thuyết phục hơn cả trăm lần
những khẩu hiệu. Người dân chỉ mong sao chính quyền đã đề ra cái gì thì
phải thực hiện bằng được, chính những biện páp cụ thể trong quá trình thực
hiện mới đem lại hiệu quả cao và niềm tin cho người dân.
Việc tiếp nhận đơn thư khiếu tố gắn liền với việc thực hiện một nhiệm
vụ có tính chất bắt buộc đối với tất cả các cơ quan nhà nứoc, tổ chức, đó là
hoạt động tiếp công dân. Họat động này phải được tiến hành thường xuyên
bởi vì có rất nhiều trường hợp công dân trực tiếp đến trụ sở cơ quan nhà
nước để đưa đơn khiếu nại, tố cáo hoặc trực tóêp trình bày về nội dung khiếu
nại, tố cáo. Thực tế cho thấy những năm gần đây, công dân trực tiếp đến
khiếu nại, tố cáo tại các cơ quan nhà nước ngày càng tăng.
Điều 17 Luật khiếu nại, tố cáo quy định người khiếu nại có quyền “tự
mình khiếu nại hoặc thông qua người đại diện hợp pháp để khiếu nại”. Như
vậy là công dân có thể lực chọn một trong hai khả năng hoặc tự mình khiếu
nại hoặc thông qua người đại diện hợp pháp để thực hiện quyền khiếu nại
của mình và việc nhận đơn, tiếp công dân là nghĩa vụ của cơ quan nhà nước
có thẩm quyền.
Thủ trưởng các cơ quan, đơn vị có trách nhiệm bố trí cán bộ chuyên
trách tiếp công dân và bản thân họ phải hành thời gian nhất định trực tiếp
tiếp công dân (Điều 7, Điều 8 Quy chế tổ chức tiếp công dân ban hành kèm
theo Nghị định 89/ Cp ngày 7/8/1997).
Cán bộ trực tiếp làm công tác tiếp công dân phải liêm khiếy, trung
thực, có năng lực chuyên môn, am hiểu thực tế, nắm vững đường lối, chính
sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, phải có thái độ lịch thiệp, nhã nhặn,
quan tâm đến yêu cầu và đòi hỏi của người dân. Sự tinh tế trong giao tiếp,
thái độ quan tâm thực sự có thể tạo nên cảm giác tin cậy, hài lòng cho người
khiếu nại.
Cán bộ khi tiếp công dân phải cố gắng tạo dựng bầu không khí thân
thiện, hướng tới đối thoại thẳng thắn vì công việc, tỏ thái độ thân mật, chân
tình đối với người khiếu nại. ngay cả khi không thể giúp gì cho họ thì cũng
có thể làm cho họ hài lòng bằng cách chăm chú lắng nghe họ trình bày và
giải thích cặn kẽ cho họ về những quy định của pháp luật có liên quan.
Nghe trình bày về nội dung khiếu nại, tố cáo là một quá trình tích cực,
đòi hỏi sự tập trung cao độ. Trong tất cả các điều kiện dẫn đến thành công
đại diện thì người đại diện phải có giấy từo chứng minh tính hợp pháp của
việc đại diện và việc khiếu nại phải thực hiện theo đúng thủ tục quy định tại
khoản 1 và khoản 2 điều này.
Về thủ tục tố cáo, Điều 65 Luật khiếu nại, tố cáo quy đinh: Người tố
cáo phải gửi đơn đến cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền. Trong đơn tố
cáo phải ghi rõ họ, tên, địa chỉ người tố cáo, có chữ ký của người tố cáo.
Không kể khiếu nại, tố cáo được gửi đến cơ quan nhà nước bằng cách
nào, việc cần làm trước tiên là ghi vào sổ tiếp nhận. Việc vào sổ là sự xác
nhận chính thức rằng khiếu nại, tố cáo đã được tiếp nhận để xem xét tại cơ
quan có thẩm quyền và là cơ sở cho việc kiểm tra quá trình giải quyết tiếp
theo. Nội dung của việc vào sổ là ghi lại những dữ liệu chủ yếu về người gửi
đơn, nội dung đề nghị, ngày gửi đơn, số thứ tự đăng ký đơn… Người nhận
và vào sổ các khiếu nại phải hàon toàn chịu trách nhiệm trong trường hợp để
thất lạc đơn khiếu nại, tố cáo.
Về việc th ụ lý để giải quyết khiếu nại, Điều 34 Luật khiếu nại, tố cáo
quy định: Trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày nhận được đơn khiếu nại
thuộc thẩm quỳên giải quyết của mình và khôg thuộc một trong các trường
hợp quy định tài Điều 32 của Luật này, người giải quyết khiếu nại lần đầu
phải thụ lý để giải quyết và thông báo bằng văn bản cho người khiếu nại
biết; trường hợp không thụ lý để giải quyết thì phải nêu rõ lý do.
10
Điều 41 Luật khiếu nại, tố cáo quy định: Trong thời hạn 10 ngày, kể
từ ngày nhận được khiếu nại thuộc thẩm quyền giải quyết của mình và
không thuộc một trong các trường hợp quy định tại Điều 32 của Luật này,
người giải quyết khiếu nại tiếp theo phải thụ lý để giải quyết và thông báo
bằng văn bản cho người khiếu nại, người giải quyết khiếu nại trước đó biết;
trường hợp không thụ lý để giải quyết thì phải nêu rõ lý do.
Về thủ tục thụ lý giải quyết tố cáo, Điều 66 Luật khiếu nại, tố cáo quy
định: Chậm nhất là 10 ngày kể từ ngày nhận được tố cáo, cơ quan, tổ chức,
cá nhân tiếp nhận tố cáo phải thụ lý để giải quyết; trong trường hợp tố cáo
liệu và được lưu giữ theo quy định của pháp luật. Trong trường hợp người
11
khiếu nại tiếp tục khiếu nại hoặc khởi kiện vụ án hành chính tại Tòa án thì
hồ sơ đó phải được chuyển cho cơ quan hoặc Tòa án có thẩm quyền giải
quyết khi có yêu cầu.
Trong quá trình giải quyết khiếu nại, nếu xét thấy việc thi hành quyết
định bị khiếu nại sẽ gây hậu quả khó khắc phục, thì người giải quyết khiếu
nại lần đầu phải ra quyết định tạm đình chỉ việc thi hành quyết định đó để
thẩm tra, xác minh. Khi xét thấy quyết định tạm đình chỉ không cần thiếy
nữa thì phải ra quyết định tạm hủy bỏ (Điều 42).
Điều 44 Luật khiếu nại, tố cáo quy định:
1. Trong qua trình giải quyết khiếu nại các lần tiếp theo, người giải
quyết khiếu nại có quyền:
a) Yêu cầu người khiếu nại cung cấp thông tin, tài liệu và những bằng
chứng về nội dung khiếu nại;
b) Yêu cầu người bị khiếu nại giải trình bằng văn bản về những nội
dung bị khiếu nại;
c) Yêu cầu người giải quyết khiếu nại trước đó, cá nhân, cơ quan, tổ
chức hữu quan cung cấp thông tin, tài liệu và những bằng chứng liên quan
đến nội dung khiếu nại;
d) Triệu tập người bị khiếu nại, người khiếu nại để tổ chức đối thoại
khi cần thiết;
đ) Xác minh tại chỗ;
e) Trưng cầu giám định, tiến hành các biện pháp khác theo quy định
của pháp luật.
3. Cá nhân, cơ quan, tổ chức khi nhận được yêu cầu quy định tại
khoản 1 Điều này phải thực hiện đúng các yêu cầu đó.
Điều 70 Luật khiếu nại, tố cáo quy định: Trong quá trình xác minh
việc tố cáo, người giải quyết tố cáo có các quyền và nghĩa vụ sau đây:
a) Đảm bảo khách quan, trung thực, đúng pháp luật trong việc giải
2. Hồ sơ giải quyết tố cáo phải được đánh số trang theo thứ tự tài liệu
và được lưu giữ theo quy định của pháp luật. Trong trường hợp cơ quan, tổ
chức, cá nhân có thẩm quyền yêu cầu thì hồ sơ được chuyển cho cơ quan, tổ
chức, cá nhân đo.
Quá trình thẩm tra, xác minh, thu thập chứng cứ (gọi tắt là quá trình
thẩm tra) phải đáp ứng những yêu cầu sau đây:
+ Phải thẩm tra tất cả những nội dung được đề cập trong đơn khiếu
nại, tố cáo.
+ Việc thẩm tra phải do cán bộ có thẩm quyền tiến hành.
+ Cán bộ có thẩm quyền phải yêu cầu cả người bị khiếu nại, tố cáo và
người khiếu nại, tố cáo giải thích những điểm chưa rõ về nội dung khiếu nại,
tố cáo và những vấn đề liên quan đến nội dung đó để đảm bảo tính khách
quan và toàn diện của việc thẩm tra.
+ Cần quy định thời hạn thẩm tra một cách cụ thể để bảo đảm giải
quyết dứt điểm khiếu nại, tố cáo đúng thời hạn do pháp luật quy định (thời
hạn dành cho việc thẩm tra nằm trong thời hạn giải quyết khiếu nại nói
chung).
+ Người có trách nhiệm thẩm tra phải ký dưới các hồ sơ, tài liệu thu
thập được trong quá trình thẩm tra và chịu trách nhiệm về tính xác thực của
những hồ sơ, tài liệu này.
Trong khi tiến hành thẩm tra, người có trách nhiệm thẩm tra phải nắm
vững tính hợp pháp và tính có căn cứ của những yêu cầu của công dân. Trên
thực tế, đôi khi người ta cho rằng tính hợp pháp và tính có căn cứ chỉ là một.
13
Thực chất, nội dung những khái niệm này rất khác nhau và nếu người có
trách nhiệm thẩm tra không phân biệt được sự khác nhau đó thì có thể mắc
phải những sai lầm nghiêm trong trong giải quyết khiếu nại.
Tính hợp pháp của khiếu nại thể hiện ở chỗ nội dung của khiếu nại
phải phù hợp với quy định của pháp luật. Không nhất thiết là mỗi yêu cầu
phải được xác định bởi một quy phạm pháp luật, nhưng xét về tổng thể thì
thỏa mãn toàn bộ hay từng phần hoặc bị bác bỏ.
Quyết định giải quyết khiếu nại của công dân phải đáp ứng những yêu
cầu nhất định, cụ thể là:
+ Phải do cơ quan hoặc cán bộ có thẩm quyền ban hành.
14
+ Phải bao hàm lập luận chặt chẽ trên cơ sở những tư liệu đã được
thẩm tra.
+ Phải giải quyết tất cả các yêu cầu nêu ra trong khiếu nại và nếu vì lý
do nào đó mà có những yêu cầu chưa được giải quyết thì phải định rõ thời
hạn giải quyết và người có trách nhiệ giải quyết tiếp theo.
+ Phải trả lời cụ thể, rõ ràng, chính xác về những điều công dân khiếu
nại sao cho từ quyết định có thể thấy rõ cơ quan có thẩm quyền xác nhận
hay không xác nhận sự kiện được nêu tron khiếu nại, thỏa mãn hay bác bỏ
yêu cầu của người khiếu nại.
+ Phải yêu cầu cơ quan hay cán bộ có thẩm quyền tiến hành những
hoạt động nhất định nhằm khôi phục các quyền và lợi ích hợp pháp bị xâm
hại, khôi phục hoạt động bình thừơng của cơ quan, tổ chức.
+ Phải nêu rõ biện pháp xử lý những người có lỗi trong những hành vi
bị khiếu nại hoặc giao nhiệm vụ xử lý những người có lỗi cho cơ quan hoặc
cán bộ có thẩm quyền.
+ Phải định rõ thời hạn thực hiện quyết định, những người có trách
nhiệm thực hiện quyết định và những cơ quan, cán bộ có trách nhiệm kiểm
tra việc thực hiện quyết định.
+ Phải hướng dẫn trình tự thực hiện quyết trong những vụ việc phức
tạp, liên quan đến nhiều cơ quan, tổ chức và cá nhân.
+ Phải được thể hiện dưới hình thức do pháp luật quy định, đó là
quyết định giải quyết khiếu nại, do người có thẩm quyền ra quyết định ký,
ghi rõ ngày, tháng, năm, họ, tên và đóng dấu của cơ quan.
Thời hạn giải quyết khiếu nại lần đầu không quá 30 ngày, kể từ ngày
nhận được khiếu nại, các lần tiếp theo mỗi lần không quá 60 ngày, kể từ
với vụ việc phức tạp thì thời hạn giải quyết khiếu nại có thể kéo dài hơn,
nhưng không quá 60 ngày, kể từ ngày thụ lý để giải quyết.
Ở vùng sâu, vùng xa, đi lại khó khăn thì thời hạn giải quyết khiếu nại
mỗi lần tiếp theo không quá 60 ngày, kể từ ngày thụ lý để giải quyết; đối với
vụ việc phức tạp thì thời hạn giải quyết có thể kéo dài hơn, nhưng không quá
70 ngày, kể từ ngày thụ lý để giải quyết.
Về quyết định giải quyết khiếu nại, Điều 38 Luật khiếu nại, tố cáo quy
định:
Quyết định giải quyết khiếu nại lần đầu phải có các nội dung sau:
1. Ngày, tháng, năm ra quyết định;
2. Tên, địa chỉ của người khiếu nại, người bị khiếu nại;
3. Nội dung khiếu nại là đúng, đúng một phần hoặc sai toàn bộ;
4. Căn cứ pháp luật để giải quyết;
5. Giữ nguyên, sửa đổi hoặc hủy bỏ một phần hay toàn bộ quyết định
hành chính, chấm dứt hành vi hành chính bị khiếu nại, giải quyết các vấn đề
cụ thể trong nội dung khiếu nại;
6. Việc bồi thường cho người bị thiệt hại (nếu có).
7. Quyền khiếu nại tiếp hoặc khởi kiện vụ án hành chính tại Tòa án.
Điều 45 Luật khiếu nại, tố cáo quy định:
1. Người giải quyết khiếu nại các lần tiếp theo phải ra quyết định giải
quyết khiếu nại bằng văn bản. Quyết định giải quyết khiếu nại phải có các
nội dung sau đây:
a) Ngày, tháng, năm ra quyết định;
b) Tên, địa chỉ của người khiếu nại, người bị khiếu nại;
16
c) Nội dung khiếu nại;
d) Kết quả thẩm tra, xác minh;
đ) Căn cứ pháp luật về nội dung khiếu nại
e) Kết luận về nội dung khiếu nại và việc giải quyết của người giải
quyết khiếu nại trước đó;
theo quy định của pháp luật để bảo đảm thi hành quyết định đó hoặc yêu cầu
Viện kiểm sát nhân dân giải quyết theo quy định của pháp luật.
Điều 23 Nghị định 67/1999/NĐ-CP cũng phát triển nội dung trên
bằng quy định cụ thể sau đây:
17
Quyết định giải quyết khiếu nại có hiệu lực pháp luật phải đựơc cá
nhân, cơ quan, tổ chức nghiêm chỉnh chấp hành; người đã ra quyết định giải
quyết khiếu nại có trách nhiệm đôn đốc, kiểm tra, áp dụng các biện pháp cần
thiết theo thẩm quyền hoặc yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền áp
dụng các biện pháp cần thiết để quyết giải quyết khiếu nại được thi hành
nghiêm chỉnh.
Trong trường hợp cần thiết, người đã ra quyết định giải quyết khiếu
nại được yêu cầu các cơ quan chức năng phối hợp để tổ chức thi hành quyết
định giải quyết khiếu nại có hiệu lực pháp luạt.
Điều 25 Nghị định này quy định: Thủ trưởng cơ quan nhà nước cấp
trên có trách nhiệm kiểm tra, đôn đốc thủ trưởng cơ quan nhà nước cấp dưới
đã có quyết định hành chính, hành vi hành chính bị khiếu nại thực hiện trách
nhiệm của mình.
Trong trường hợp người có trách nhiệm không chấp hành nghiêm
chỉnh quyết định giải quyết khiếu nại thì áp dụng các bịên pháp theo thẩm
quyền buộc họ phải chấp hành; xử lý hoặc kiến nghị cơ quan có thẩm quyền
xử lý đối với người không thi hành quyết định giải quyết khiếu nại có hiệu
lực pháp luật.
Chỉ thị số 64/TTg ngày 25/1/1995 của Thủ tướng Chính phủ nhấn
mạnh: “Khi có quyết định cuối cùng của cơ quan có thẩm quyền thì mọi cá
nhân, cơ quan nhà nước, tổ chức phải có trách nhiệm thi hành. Nếu cá nhân
hoặc cơ quan, tổ chức nào không thi hành thì cơ quan ra quyết định giải
quyết phải có biện pháp cụ thể đôn đốc thực hiện hoặc phải ra quyết định
buộc thực hiện”.
Thời hạn thực hiện quyết định khiếu nại do người có thẩm quyền ra
Phần II
THỰC TRẠNG VỀ THỦ TỤC HÀNH CHÍNH TRONG TIẾP
CÔNG DÂN, GIẢI QUYẾT KHIẾU NẠI, TỐ CÁO - MỘT SỐ KẾT
QUẢ BƯỚC ĐẦU THỰC HIỆN CẢI CÁCH HÀNH CHÍNH HIỆN
NAY.
I. ĐÁNH GIÁ VIỆC THỰC HIỆN CÁC THỦ TỤC HÀNH
CHÍNH TRONG TIẾP CÔNG DÂN VÀ GIẢI QUYẾT KHIẾU NẠI,
TỐ CÁO CỦA CÔNG DÂN
1. Trách nhiệm của công dân:
1.1. Việc thực hiện thủ tục hành chính trong khiếu nại:
Quyền khiếu nại, tố cáo của công dân được cụ thể hóa chi tiết trong
Pháp lệnh khiếu nại, tố cáo của công dân năm 1991. Tại khoản 1 Điều 1
Pháp lệnh quy đinh: “Công dân có quyền khiếu nại với cơ quan Nhà nước có
thẩm quyền về quyết định hoặc việc làm trái pháp luật thuộc phạm vi quản lý
hành chính của cơ quan Nhà nước hoặc nhân viên Nhà nước, xâm phạm
quyền, lợi ích hợp pháp của mình”. Như vậy, Pháp lệnh đã phân biệt rõ khái
niệm khiếu nại,đồng thời cũng chỉ ra đặc trưng cơ bản của khiếu nại.
Trong Pháp lệnh, thủ tục quy định việc khiếu nại như sau:
Để thuận tiện cho công tác giải quyết của cơ quan nhà nước cơ thẩm
quyền, công dân muốn khiếu nại về quyết định hoặc việc làm trái pháp luật
thuộc phạm vi quản lý hành chính của cơ quan nhà nước hoặc nhân viên nhà
nứơc, xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của minhg thì phải cơ đơn hoặc
trực tiếp trình bày (Điều 18). Đơn khiếu nại phải ghi rõ họ tên, tuổi, địa chỉ
19