TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA LUẬT
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN LUẬT
KHÓA 2012-2015
Hệ đào tạo: Chính quy
Đề tài:
CẢI CÁCH
THỦ TỤC HÀNH CHÍNH
TRONG TỔ CHỨC TIẾP CÔNG DÂN
VÀ GIẢI QUYẾT KHIẾU NẠI, TỐ CÁO
Giảng viên hướng dẫn:
Sinh viên thực hiện:
ThS. VÕ DUY NAM
Bộ môn: Luật Hành chính
NGUYỄN VĂN TÈO
MSSV: S120081
Lớp: DT1263B1
Cần Thơ, Tháng 11/2014
NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN
..................................................................................................................................
.....................................................................................................................................
......................................................................................................................................
......................................................................................................................................
......................................................................................................................................
......................................................................................................................................
......................................................................................................................................
......................................................................................................................................
......................................................................................................................................
......................................................................................................................................
......................................................................................................................................
......................................................................................................................................
......................................................................................................................................
......................................................................................................................................
......................................................................................................................................
......................................................................................................................................
......................................................................................................................................
......................................................................................................................................
......................................................................................................................................
......................................................................................................................................
......................................................................................................................................
......................................................................................................................................
......................................................................................................................................
......................................................................................................................................
Cần Thơ, ngày……tháng……năm 2014
Hội đồng phản biện
MỤC LỤC
LỜI NÓI ĐẦU ................................................................................................................ 1
1. Lý do chọn đề tài ........................................................................................................ 1
2.1. Tiếp dân và tiếp nhận đơn thư khiếu nại, tố cáo ................................................. 19
2.2. Trình tự, thủ tục giải quyết khiếu nại .................................................................. 20
2.2.1. Trình tự, thủ tục giải quyết khiếu nại lần đầu ................................................ 20
2.2.1.1. Thụ lý giải quyết khiếu nại lần đầu ........................................................... 20
2.2.1.2. Thời hạn giải quyết khiếu nại lần đầu ....................................................... 20
2.2.1.3. Xác minh nội dung khiếu nại lần đầu ........................................................ 21
2.2.1.4. Đối thoại trong giải quyết khiếu nại lần đầu ............................................ 22
2.2.1.5. Quyết định giải quyết khiếu nại lần đầu .................................................... 22
2.2.1.6. Khiếu nại lần hai hoặc khởi kiện vụ án hành chính ................................... 23
2.2.1.7. Hồ sơ giải quyết khiếu nại lần đầu ............................................................ 24
2.2.2. Trình tự, thủ tục giải quyết khiếu nại lần hai ................................................. 25
2.2.2.1. Thụ lý giải quyết khiếu nại lần hai ............................................................ 25
2.2.2.2. Thời hạn giải quyết khiếu nại lần hai ........................................................ 26
2.2.2.3. Đối thoại trong giải quyết khiếu nại lần hai .............................................. 26
2.2.2.4. Quyết định giải quyết khiếu nại lần hai ..................................................... 27
2.2.2.5. Gửi và công khai quyết định giải quyết khiếu nại ...................................... 27
2.3. Trình tự thủ tục giải quyết tố cáo ......................................................................... 28
2.3.1. Đối với hành vi vi phạm pháp luật của cán bộ, công chức, viên chức trong
thực hiện nhiệm vụ, công vụ .................................................................................... 28
2.3.1.1. Tiếp nhận, xử lý thông tin tố cáo ............................................................... 28
2.3.1.2. Xác minh nội dung tố cáo .......................................................................... 30
2.3.1.3. Kết luận nội dung tố cáo ........................................................................... 31
2.3.1.4. Xử lý tố cáo của người giải quyết tố cáo ................................................... 32
2.3.2. Đối với hành vi vi phạm pháp luật về quản lý nhà nước trong các lĩnh vực .. 33
2.3.2.1. Việc tiếp nhận, xử lý thông tin tố cáo hành vi vi phạm pháp luật về quản lý
nhà nước trong các lĩnh vực .................................................................................. 33
2.3.2.2. Xác minh nội dung tố cáo, kết luận nội dung tố cáo đối với hành vi vi phạm
pháp luật về quản lý nhà nước trong các lĩnh vực .................................................. 33
2.3.2.3. Xử lý tố cáo của người giải quyết tố cáo ................................................... 34
2.3.3. Công khai kết luận nội dung tố cáo, quyết định xử lý hành vi vi phạm bị tố
Cải cách thủ tục hành chính
trong tổ chức tiếp công dân và giải quyết khiếu nại, tố cáo
LỜI NÓI ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Tiếp dân và giải quyết khiếu nại, tố cáo là một vấn đề quan trọng và bức thiết
trong bối cảnh nước ta hiện nay khi tình trạng khiếu nại, tố cáo ở nước ta ngày càng
gia tăng và liên quan đến nhiều lĩnh vực khác nhau, làm ảnh hưởng đến quyền lợi,
nghĩa vụ căn bản của nhân dân, trách nhiệm của những cơ quan nhà nước có thẩm
quyền. Việc giải quyết khiếu nại tốt hay kém nó thể hiện được chất lượng quản lý của
các cơ quan quản lý nhà nước cũng như mối quan hệ giữa nhân dân với Đảng và Nhà
nước ta. Hơn nữa, vấn đề đơn giản hoá thủ tục hành chính cũng đang đặt ra cho các
nhà khoa học pháp lý những bài toán khó giải, xử lý được vấn đề này sẽ góp phần đẩy
mạnh công cuộc cải cách hành chính, nâng cao chất lượng quản lý của các cơ quan
quản lý hành chính nhà nước, xây dựng được một bộ máy nhà nước gọn nhẹ nhưng
hiệu quả, nâng cao lòng tin của nhân dân đối với Đảng và Nhà nước ta.
Hiện nay khi hội nhập vào nền kinh tế thế giới, nước ta phải giải quyết nhiều vấn
đề thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau, trong đó có việc xây dựng một hành lang pháp lý
thông thoáng và môi trường đầu tư thuận lợi để thu hút các nguồn vốn trong nước và
quốc tế, nhằm thúc đẩy quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Vì vậy, giải
quyết tốt vấn đề tiếp dân và khiếu nại, tố cáo sẽ góp phần củng cố và gầy dựng lòng tin
đối với các nhà đầu tư, cũng như nâng cao hình ảnh Việt Nam trên trường quốc tế.
Trong những năm gần đây, thực hiện đường lối đổi mới, nền kinh tế nước ta đã
từng bước phát triển, đời sống của nhân dân ngày càng được cải thiện và nâng lên rõ
rệt. Quyền dân chủ của nhân dân, trong đó có quyền khiếu nại, tố cáo không ngừng
được phát huy. Cùng với những thành tựu đạt được trong nhiều lĩnh vực đời sống kinh
tế - xã hội, tình hình khiếu nại, tố cáo của công dân cũng có những diễn biến mới.
Tuy nhiên, tình hình khiếu nại và tố cáo hiện nay vẫn đang có chiều hướng ngày
càng gia tăng, số người trực tiếp đi khiếu nại, tố cáo ngày càng nhiều, tính chất khiếu
nại, tố cáo rất gay gắt và phức tạp, nhiều vụ việc khiếu nại, tố cáo tồn đọng và vượt
Trong đề tài này, người viết tập trung nghiên cứu các quy định của pháp luật về
trình tự, thủ tục trong công tác tiếp dân và giải quyết khiếu nại, tố cáo của các cơ quan
có thẩm quyền giải quyết hiện nay. Bên cạnh đó đánh giá thực trạng công tác giải
quyết khiếu nại, tố cáo ở nước ta hiện nay, đồng thời nghiên cứu, tham khảo những ý
kiến đóng góp để đưa ra những kiến nghị, nhằm nâng cao chất lượng giải quyết khiếu
nại tố cáo trong bối cảnh hiện nay.
4. Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu của luận văn là đi từ lý luận đến thực tiễn, kết hợp
những kiến thức đã học, các phương pháp nghiên cứu khoa học chuyên ngành như
phương pháp lịch sử, phân tích, so sánh, tổng hợp. Bên cạnh đó người viết cũng sử
dụng các phương pháp hỗ trợ khác như phương pháp thống kê, sử dụng các trang
thông tin điện tử để tìm kiếm tài liệu, đồng thời vận dụng các tài liệu của các nhà
nghiên cứu, các tạp chí chuyên ngành để giải quyết các vấn đề đặt ra trong luận văn.
5. Bố cục đề tài
Luận văn được chia làm ba phần: Lời nói đầu, phần nội dung và kết luận. Trong
đó phần nội dung được chia làm ba chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về thủ tục hành chính và cải cách thủ tục hành chính
trong tiếp công dân và giải quyết khiếu nại, tố cáo.
Chương 2: Quy định của pháp luật hiện hành về thủ tục hành chính trong tiếp
công dân và giải quyết khiếu nại, tố cáo.
Chương 3: Thực trạng và giải pháp về cải cách thủ tục hành chính trong tiếp
công dân và giải quyết khiếu nại, tố cáo thời gian tới.
GVHD: Th.S Võ Duy Nam
SVTH: Nguyễn Văn Tèo
2
Cải cách thủ tục hành chính
hành chính nhà nước được quy phạm thủ tục hành chính điều chỉnh mới là thủ tục
hành chính, còn tất cá các hoạt động tổ chức tác nghiệp cụ thể nào đó trong hoạt động
quản lý hành chính nhà nước không được các quy phạm thủ tục hành chính điều chỉnh
thì không phải là thủ tục hành chính.
1
2
Theo từ điển tiếng việt của nxb văn hoá thông tin năm 1998, tr 310.
Khoản 1 Điều 3 Nghị định 63/2010/NĐ-CP ngày 08/6/2010 của Chính phủ về kiểm soát thủ tục hành chính.
GVHD: Th.S Võ Duy Nam
SVTH: Nguyễn Văn Tèo
3
Cải cách thủ tục hành chính
trong tổ chức tiếp công dân và giải quyết khiếu nại, tố cáo
1.1.1.2. Đặc điểm của thủ tục hành chính
Thủ tục hành chính là thủ tục được áp dụng trong quản lý hành chính nhà nước
(lĩnh vực chấp hành điều hành). Nói cách khác thủ tục hành chính được thi hành ngoài
trình tự toà án, có thể nói đây là một đặc điểm rất quan trọng của thủ tục hành chính,
nó cho phép phân biệt thủ tục hành chính với các hình thức thủ tục khác thường được
gọi là thủ tục tố tụng được tiến hành tại Toà án.
Các quy phạm thủ tục hành chính không chỉ là cách thức trình tự thực hiện quy
phạm vật chất của luật hành chính mà còn là hình thức đảm bảo quy phạm vật chất của
hầu hết các ngành luật. Trong hệ thống pháp luật nước nhà, hình thức thủ tục hình sự
bảo đảm thực hiện chỉ quy phạm ngành luật hình sự. Nhưng riêng đối thủ tục hành
chính một đặc diểm đáng chú ý là nó đảm bảo thực hiện quy phạm của rất nhiều ngành
trong tổ chức tiếp công dân và giải quyết khiếu nại, tố cáo
nhà nước khác nhau hoặc có những thủ tục hành chính được quy định trong các văn
bản không phải là luật hành chính3.
1.1.2. Cải cách thủ tục hành chính
Nếu như nội dung cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2001 - 2010 có 5 nội
dung là: Thể chế; tổ chức bộ máy; xây dựng và phát triển đội ngũ cán bộ, công chức;
tài chính công và hiện đại hóa nền hành chính thì Chương trình tổng thể cải cách hành
chính nhà nước giai đoạn 2011 - 2020 có thêm nội dung thứ 6 là cải cách thủ tục hành
chính4.
Như vậy, kết quả quá trình thực hiện công tác cải cách hành chính giai đoạn 2001
- 2010 đã được đúc rút và thấy cần thiết phải đẩy mạnh công tác cải cách thủ tục hành
chính nên đã đưa ra nhiệm vụ này thành một trong 6 nội dung của Chương trình tổng
thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2011 - 2020. Chương trình tổng thể cải
cách hành chính là một trong những nhiệm vụ quan trọng, cần thiết trong tiến trình đổi
mới, phát triển và hội nhập của nước ta. Hiện nay thủ tục hành chính ở nước ta còn
những nhược điểm: Hình thức đòi hỏi quá nhiều giấy tờ, gây phiền hà cho nhân dân;
nặng nề, nhiều cấp trung gian, rườm rà, không rõ ràng về trách nhiệm; không phù hợp
với yêu cầu của thời kỳ mở cửa và hội nhập. Thủ tục hành chính thiếu thống nhất,
thường bị thay đổi một cách tùy tiện, thiếu công khai, minh bạch. Hiệu quả của nhược
điểm trên là gây phiền hà cho việc thực hiện quyền tự do, lợi ích và công việc chung
của cơ quan, gây trở ngại cho việc giao lưu và hợp tác giữa nước ta với nước ngoài,
gây ra tệ cửa quyền, bệnh giấy tờ trong hệ thống cơ quan hành chính, là nơi thuận lợi
cho nạn tham nhũng, lãng phí phát sinh, hoành hành, gây phiền hà cho tổ chức, cá
nhân và doanh nghiệp. Chính vì vậy, cải cách thủ tục hành chính là yêu cầu bức xúc
của nhân dân, doanh nghiệp, của các tổ chức và nhà đầu tư nước ngoài, là khâu đột phá
của tiến trình cải cách hành chính Nhà nước. Trong tiến trình phát triển và hội nhập,
cải cách thủ tục hành chính có một vai trò đặc biệt quan trọng. Nếu thủ tục hành chính
nói riêng, nền hành chính nói chung không được hay chậm cải cách thì sẽ là một rào
cản kìm hãm sự phát triển kinh tế - xã hội của nước ta. Kết quả công tác cải cách hành
chính giai đoạn 2001 - 2010 đã đạt được những kết quả nhất định trong thời gian qua
- Bảo đảm tính khoa học của quy trình thực hiện các thủ tục hành chính đã ban
hành
- Bảo đảm tính rõ ràng và công khai của các thủ tục hành chính.
- Dễ hiểu, dễ tiếp cận.
- Có tính khả thi.
- Bảo đảm tính ổn định cần thiết của quy trình thủ tục hành chính.
1.1.3. Mục tiêu và ý nghĩa của cải cách thủ tục hành chính
1.1.3.1. Mục tiêu
Xây dựng, hoàn thiện hệ thống thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội
chủ nghĩa nhằm giải phóng lực lượng sản xuất, huy động và sử dụng có hiệu quả mọi
nguồn lực cho phát triển đất nước.
Tạo môi trường kinh doanh bình đẳng, thông thoáng, thuận lợi, minh bạch
nhằm giảm thiểu chi phí về thời gian và kinh phí của các doanh nghiệp thuộc mọi
thành phần kinh tế trong việc tuân thủ thủ tục hành chính.
Xây dựng hệ thống các cơ quan hành chính nhà nước từ trung ương tới cơ sở
thông suốt, trong sạch, vững mạnh, hiện đại, hiệu lực, hiệu quả, tăng tính dân chủ và
pháp quyền trong hoạt động điều hành của Chính phủ và của các cơ quan hành chính
nhà nước.
Bảo đảm thực hiện trên thực tế quyền dân chủ của nhân dân, bảo vệ quyền con
người, gắn quyền con người với quyền và lợi ích của dân tộc, của đất nước.
Xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức có đủ phẩm chất, năng lực và
trình độ, đáp ứng yêu cầu phục vụ nhân dân và sự phát triển của đất nước5.
5
Điều 2 Nghị quyết số 30c/NQ-CP ngày 08/11/2011 của Chính phủ.
GVHD: Th.S Võ Duy Nam
SVTH: Nguyễn Văn Tèo
Quyền khiếu nại là một trong những quyền cơ bản của công dân đã được ghi
nhận trong Hiến pháp, một quyền có tính chất chính trị và pháp lý của công dân, là
một hình thức biểu hiện của dân chủ xã hội chủ nghĩa, liên quan chặt chẽ và chiếm vai
trò quan trọng trong hệ thống các quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân. Việc thực
hiện quyền khiếu nại sẽ là cơ sở để thực hiện các quyền và nghĩa vụ khác của công
dân. Chính vì vậy trên cơ sở Hiến pháp, đã có nhiều văn bản pháp luật của Nhà nước
ta quy định về khiếu nại và giải quyết khiếu nại, đặc biệt là Luật khiếu nại, tố cáo năm
1998 (được sửa đổi, bổ sung hai lần vào năm 2004 và 2005) và Luật khiếu nại năm
2011.
6
7
Nguyễn Văn Trình, Từ điển Anh - Việt, Nxb Đồng Nai, 1990, tr.205.
Nguyễn Như Ý, Đại từ điển Tiềng Việt, Nxb Văn hóa thông tin, Hà Nội, 1998, tr.904.
GVHD: Th.S Võ Duy Nam
SVTH: Nguyễn Văn Tèo
7
Cải cách thủ tục hành chính
trong tổ chức tiếp công dân và giải quyết khiếu nại, tố cáo
Theo quy định của Luật khiếu nại: “Khiếu nại là việc công dân, cơ quan, tổ chức
hoặc cán bộ, công chức theo thủ tục do Luật này quy định, đề nghị cơ quan, tổ chức,
cá nhân có thẩm quyền xem xét lại quyết định hành chính, hành vi hành chính của cơ
quan hành chính nhà nước, của người có thẩm quyền trong cơ quan hành chính nhà
nước hoặc quyết định kỷ luật cán bộ, công chức khi có căn cứ cho rằng quyết định
hoặc hành vi đó là trái pháp luật, xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của mình”8.
Trong đó:
GVHD: Th.S Võ Duy Nam
SVTH: Nguyễn Văn Tèo
8
Cải cách thủ tục hành chính
trong tổ chức tiếp công dân và giải quyết khiếu nại, tố cáo
Mục đích của việc khiếu nại trước hết là nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp
của người khiếu nại khỏi bị xâm hại bởi những việc làm, những quyết định, chính sách
trái pháp luật của các cơ quan nhà nước và người có thẩm quyền trong các cơ quan nhà
nước. Suy rộng ra mục đích của khiếu nại chính là nhằm bảo đảm cho các quy định
pháp luật liên quan tới các quyền, lợi ích của cơ quan, tổ chức, công dân được thực
hiện nghiêm chỉnh; giúp cho hoạt động quản lý, điều hành của các cơ quan, tổ chức
nhà nước có hiệu quả, các quyết định, hành vi hành chính trái pháp luật được sửa đổi
hoặc bãi bỏ kịp thời, ngăn ngừa các vi phạm pháp luật có thể xảy ra từ phía những
người thực thi công vụ góp phần nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước.
Luật Khiếu nại quy định: “Giải quyết khiếu nại là việc thụ lý, xác minh, kết luận
và ra quyết định giải quyết khiếu nại”9. Như vậy, giải quyết khiếu nại gồm 4 giai đoạn:
Thụ lý; xác minh tình tiết; nội dung vụ việc khiếu nại, kết luận về tính đúng sai, cơ sở
pháp lý của nội dung khiếu nại và cuối cùng là ra quyết định giải quyết khiếu nại.
1.2.2. Khái niệm tố cáo và giải quyết tố cáo
Tố cáo là một trong những quyền cơ bản của công dân được quy định trong Hiến
pháp, được quy định trong Luật tố cáo năm 2011 và nhiều văn bản pháp luật khác.
Luật tố cáo quy định: “Tố cáo là việc công dân theo thủ tục do Luật tố cáo quy định
báo cho cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền biết về hành vi vi phạm pháp luật
của bất cứ cơ quan, tổ chức, cá nhân nào gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại lợi
ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, cơ quan, tổ chức”10.
Để hiểu đúng bản chất của tố cáo, chúng ta cần phải xem xét dưới các khía cạnh
dấu hiệu tội phạm trên các phương tiện thông tin đại chúng hoặc do cơ quan, tổ chức
cung cấp cho cơ quan, cá nhân có trách nhiệm tiếp nhận, giải quyết”11. Như vậy, theo
quy định của pháp luật tố tụng hình sự đối với tin báo, tố giác về tội phạm, chủ thể có
thể xác định hoặc không xác định, có thể là cá nhân, có thể là cơ quan, tổ chức. Đối
tượng tố cáo là mọi hành vi vi phạm pháp luật, có thể là tố cáo hành vi vi phạm pháp
luật của cán bộ, công chức, viên chức trong thực hiện nhiệm vụ, công vụ hoặc cũng có
thể là tố cáo hành vi vi phạm pháp luật về quản lý nhà nước trong các lĩnh vực, còn tố
giác và tin báo về tội phạm thì đối tượng chỉ bao gồm tội phạm, hành vi vi phạm pháp
luật có tính nguy hiểm cao và được quy định trong Bộ luật hình sự.
Như vậy, đối với tố giác, tin báo về tội phạm, được thực hiện theo quy định của
Bộ Luật tố tụng hình sự; tố cáo hành vi vi phạm pháp luật của người có thẩm quyền
tiến hành tố tụng hình sự trong quá trình tiến hành tố tụng hình sự được thực hiện theo
quy định của pháp luật tố tụng hình sự. Tố cáo về hành vi vi phạm pháp luật trong việc
thực hiện nhiệm vụ, công vụ (không phải là hành vi tố tụng) thì được thực hiện theo
quy định của pháp luật về tố cáo; tố cáo hành vi vi phạm pháp luật nói chung, bao
gồm: vi phạm pháp luật trong việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ, vi phạm pháp luật
trong các lĩnh vực quản lý nhà nước trong các cơ quan, tổ chức, đơn vị thì được thực
hiện theo quy định của pháp luật tố cáo; tố cáo đối với hành vi vi phạm điều lệ của các
thành viên tổ chức thì được thực hiện theo quy định của Điều lệ của tổ chức đó.
Tố cáo hành vi vi phạm pháp luật của cán bộ, công chức, viên chức trong việc
thực hiện nhiệm vụ, công vụ là việc công dân báo cho cơ quan, tổ chức, cá nhân có
thẩm quyền biết về hành vi vi phạm pháp luật của cán bộ, công chức, viên chức trong
việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ.
Tố cáo hành vi vi phạm pháp luật về quản lý nhà nước trong các lĩnh vực là việc
công dân báo cho cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền biết về hành vi vi phạm
pháp luật của bất cứ cơ quan, tổ chức, cá nhân nào đối với việc chấp hành quy định
pháp luật về quản lý nhà nước trong các lĩnh vực.
Ví dụ: Phát hiện thấy anh B - cảnh sát giao thông nhận tiền của người vi phạm rồi
cho đi mà không lập biên bản xử lý, ông C đã lên Công an quận tố giác hành vi của
anh B. Việc tố giác của ông B có được coi là tố cáo hay không? Các hành vi nào được
khác nhau về nội dung, tính chất, đặc biệt là sự điều chỉnh của pháp luật.
Về chủ thể: Chủ thể của khiếu nại là công dân, tổ chức, cơ quan – những
người có quyền lợi liên quan trực tiếp tới hành vi vi phạm pháp luật, còn chủ thể của tố
cáo chỉ có thể là công dân - người không có quyền và lợi ích liên quan trực tiếp tới
hành vi vi phạm pháp luật.
Về đối tượng: Đối tượng của khiếu nại là quyết định hành chính, hành vi hành
chính mà người khiếu nại cho rằng quyết định hay hành vi đó trái pháp luật, xâm phạm
đến quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Đối tượng của tố cáo là những hành vi vi
phạm pháp luật của bất cứ một cơ quan, tổ chức, cá nhân nào gây thiệt hại hoặc đe doạ
gây thiệt hại đến lợi ích nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, cơ quan, tổ
chức.
Về mục đích: Mục đích của người khiếu nại là nhằm bảo vệ quyền và lợi ích
hợp pháp của mình, còn mục đích của người tố cáo là nhằm bảo vệ lợi ích của nhà
nước, tập thể nói chung.
Về trách nhiệm pháp lý: Người khiếu nại không phải chịu trách nhiệm khi
khiếu nại không có căn cứ còn người tố cáo phải chịu trách nhiệm pháp lý khi cố tình
tố cáo sai sự thật.
12
Khoản 7 Điều 2 Luật tố cáo 2011
GVHD: Th.S Võ Duy Nam
SVTH: Nguyễn Văn Tèo
11
Cải cách thủ tục hành chính
trong tổ chức tiếp công dân và giải quyết khiếu nại, tố cáo
thù trong giặc ngoài, nhưng do thấm nhuần quan điểm về quyền con người, quyền dân
13
Viện khoa học thanh tra, Công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo với định hướng xây dựng Nhà nước pháp quyền
XHCN của dân, do dân và vì dân, Hồng Thanh, , [truy cập ngày 25/6/2014].
14
Viện khoa học thanh tra, Quá trình hình thành và phát triển pháp luật về khiếu nại, tố cáo ở Việt Nam, Đinh
Văn Minh, [truy cập ngày 20/6/2014].
GVHD: Th.S Võ Duy Nam
SVTH: Nguyễn Văn Tèo
12
Cải cách thủ tục hành chính
trong tổ chức tiếp công dân và giải quyết khiếu nại, tố cáo
chủ, quyền hạnh phúc của người dân, Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hoà đã quan
tâm sâu sắc đến vấn đề xem xét và giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân. Ngày 23
tháng 11 năm 1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký Sắc lệnh số 64/SL thành lập Ban
Thanh tra đặc biệt. Việc nhận đơn thư khiếu tố được Người đặt ở tầm cao ngang với
việc đi giám sát công việc thực tế ở các cấp chính quyền. Nếu Điều 1 ghi là: “Chính
phủ sẽ lập ngay một Ban Thanh tra đặc biệt, có uỷ nhiệm là đi giám sát tất cả công
việc và nhân viên của Uỷ ban nhân dân và các cơ quan của Chính phủ”15, thì Điều 2
qui định: “Nhận đơn khiếu nại của nhân dân; điều tra hỏi chứng, xem xét các giấy tờ
của Uỷ ban nhân dân hoặc các cơ quan của Chính phủ cần thiết cho công việc giám
sát”16.
Trong Sắc lệnh số 138b-SL ngày 18/12/1949 cũng vậy, cùng với nhiệm vụ: “Xem
xét thi hành chủ trương của Chính phủ”17 là nhiệm vụ: “Thanh tra sự khiếu nại của
nhân dân”18. Những quy định nói trên nói lên sự quan tâm của Hồ Chủ tịch và Chính
15
16
GVHD: Th.S Võ Duy Nam
SVTH: Nguyễn Văn Tèo
13
Cải cách thủ tục hành chính
trong tổ chức tiếp công dân và giải quyết khiếu nại, tố cáo
môn các cấp, các ngành trong việc nghiên cứu và giải quyết các loại đơn thư khiếu nại,
tố cáo của nhân dân.
Ngày 1/1/1960, Chủ tịch Hồ chí Minh đã ký Sắc lệnh công bố Hiến pháp mới của
Việt Nam dân chủ cộng hoà. Hiến pháp đã dành riêng một điều quy định về quyền
khiếu nại, tố cáo của công dân và trách nhiệm của cơ quan nhà nước phải xem xét giải
quyết kịp thời, nhanh chóng các khiếu nại, tố cáo, bảo vệ quyền lợi cho người dân.
Hiến pháp năm 1959 qui định: “Công dân nước Việt Nam dân chủ cộng hoà có quyền
khiếu nại, tố cáo bất cứ cơ quan nhà nước nào về những hành vi phạm pháp của nhân
viên cơ quan nhà nước. Những khiếu nại và tố cáo phải được xem xét và giải quyết
nhanh chóng. Người bị thiệt hại vì hành vi phạm pháp của nhân viên cơ quan nhà
nước có quyền được bồi thường”22.
Tiếp đó, Chính phủ đã có nhiều văn bản nhằm cụ thể hoá Hiến pháp, bảo đảm
cho công dân thực hiện được quyền khiếu nại, tố cáo mà Hiến pháp đã ghi nhận, đồng
thời quy định trách nhiệm của các cơ quan nhà nước trong việc tiếp nhận và giải quyết
các khiếu nại, tố cáo của công dân.
Nghị quyết số 164/CP ngày 31/8/1970 của Hội đồng Chính phủ về việc tăng
cường công tác thanh tra và chấn chỉnh hệ thống cơ quan Thanh tra của Nhà nước.
Nghị định số 165/CP ngày 31/8/1970 của Hội đồng Chính phủ qui định nhiệm
vụ, quyền hạn của Uỷ ban Thanh tra của Chính phủ.
pháp năm 1980. Một lần nữa, quyền khiếu nại, tố cáo của công dân được ghi nhận
trong Hiến pháp 1980 và so với Điều 29 của Hiến pháp năm 1959 thì qui định về
quyền khiếu nại, tố cáo của công dân tại Điều 73 Hiến pháp năm 1980 cụ thể hơn, chi
tiết hơn “Công dân có quyền khiếu nại, tố cáo với bất cứ cơ quan nào của Nhà nước
về những việc làm trái pháp luật của cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội, đơn vị vũ
trang hoặc của bất cứ cá nhân nào thuộc các cơ quan, tổ chức và đơn vị đó; Các điều
khiếu nại, tố cáo phải được xem xét và giải quyết nhanh chóng; Mọi hành động xâm
phạm quyền và lợi ích chính đáng của công dân phải được kịp thời sửa chữa và xử lý
nghiêm minh. Người bị thiệt hại có quyền được bồi thường; Nghiêm cấm việc trả thù
người khiếu nại, tố cáo”23.
Sau khi Hiến pháp năm 1980 được ban hành, ngày 27/11/1981, Hội đồng Nhà
nước đã ban hành Pháp lệnh quy định việc xét, giải quyết khiếu nại, tố cáo của công
dân. Có thể nói, đây là văn bản pháp lý đầu tiên qui định một cách tập trung, đầy đủ và
chi tiết về việc tiếp nhận và giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân. Pháp lệnh năm
1981 gồm những quy định chung về quyền khiếu nại, tố cáo và thẩm quyền giải quyết
khiếu nại, tố cáo. Nghị định số 58/HĐBT ngày 29/3/1982 của Hội đồng Bộ trưởng về
việc thi hành Pháp lệnh đã qui định cụ thể về thẩm quyền và trách nhiệm của công dân
trong việc khiếu nại, tố cáo.
Tiếp đó là những văn bản được ban hành nhằm thực hiện tốt những qui định của
Pháp lệnh năm 1981 và Nghị định 58. Đó là Thông tư 02/TTr ngày 4/5/1982 của Uỷ
ban Thanh tra của Chính phủ; Nghị quyết số 26-HĐBT ngày 12/5/1984 của Hội đồng
Bộ trưởng về việc tăng cường tổ chức và nâng cao hiệu lực của hoạt động thanh tra;
Chỉ thị số 17-CT của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng ngày 3/7/1989 về kiểm điểm việc
thực hiện Pháp lệnh năm 1981. Qua thực tiễn hơn 10 năm thi hành Pháp lệnh qui định
về việc xét, giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân, Nhà nước ta quyết định ban
hành Pháp lệnh khiếu nại, tố cáo của công dân năm 1991 thay thế cho Pháp lệnh năm
1981.
Có thể nói, những quy định của Pháp lệnh năm 1991 có nhiều điểm thể hiện sự
đổi mới về mặt nhận thức quyền khiếu nại, quyền tố cáo của công dân cũng như công
tác giải quyết khiếu nại, tố cáo nhưng cũng phải thừa nhận rằng, sự đổi mới đó còn rất
về quá trình dân chủ hoá xã hội và bảo vệ các quyền dân sự của công dân. Việc xét xử
hành chính đã được thực hiện hơn mười năm qua và hiện nay các cơ quan có trách
nhiệm đang xây dựng Luật Tố tụng hành chính nhằm nâng cao hơn nữa hiệu quả hoạt
động của cơ chế này. Đồng thời công tác tiếp dân cũng đã được quan tâm, ngày
15/01/1993, Thủ tướng Chính phủ có Chỉ thị số 18/CT-TTg về công tác tiếp công dân,
giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân. Đặc biệt, ngày 7/8/1997, Chính phủ ban
hành Nghị định số 89/CP kèm theo Quy chế tổ chức tiếp công dân, đây là văn bản
pháp lý đầu tiên của Nhà nước ta quy định cụ thể các nội dung về công tác tiếp công
dân như mục đích của việc tiếp công dân, trách nhiệm của Chủ tich Uỷ ban nhân dân
các cấp, Thủ trưởng các cơ quan quản lý trong việc tiếp công dân, Trụ sở tiếp công dân
của Trung ương Đảng và Nhà nước. Trên cơ sở Nghị định số 89/CP, Tổng Thanh tra
Nhà nước ban hành Thông tư số 1178/TT-TTNN ngày 25/9/1997 hướng dẫn thực hiện
Nghị định số 89/CP ngày 7/8/1997; Quyết định số 1204/QĐ - TTNN ngày 01/10/1997
ban hành Bản quy định về việc phối hợp tiếp công dân24.
Tháng 12 năm 1998, Quốc hội đã thông qua Luật khiếu nại, tố cáo thay thế cho
Pháp lệnh khiếu nại tố cáo của công dân năm 1991 và đã dành một chưng riêng để nói
về công tác tiếp dân. Như vậy cơ chế giải quyết khiếu kiện hành chính được thực hiện
24
Dự thảo online, Báo cáo tổng kết việc thực hiện công tác tiếp công dân, Thanh tra Chính phủ, Thanh tra Chính
phủ, />ndex=2&TaiLieuID=1053, [truy cập ngày 28/9/2014].
GVHD: Th.S Võ Duy Nam
SVTH: Nguyễn Văn Tèo
16
Cải cách thủ tục hành chính
trong tổ chức tiếp công dân và giải quyết khiếu nại, tố cáo
phát triển. Hiến pháp năm 2013 đã ghi nhận: “Mọi người có quyền khiếu nại, tố cáo
với cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền về những việc làm trái pháp luật của cơ
quan, tổ chức, cá nhân; cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền phải tiếp nhận, giải
quyết khiếu nại, tố cáo; người bị thiệt hại có quyền được bồi thường về vật chất, tinh
25
Nghị quyết số 30/2004/QH11 ngày 15/6/2004.
GVHD: Th.S Võ Duy Nam
SVTH: Nguyễn Văn Tèo
17
Cải cách thủ tục hành chính
trong tổ chức tiếp công dân và giải quyết khiếu nại, tố cáo
thần và phục hồi danh dự theo quy định của pháp luật; Nghiêm cấm việc trả thù người
khiếu nại, tố cáo hoặc lợi dụng quyền khiếu nại, tố cáo để vu khống, vu cáo làm hại
người khác”26.
Công tác tiếp công dân có quan hệ chặt chẽ với công tác giải quyết khiếu nại, tố
cáo27. Muốn thực hiện tốt việc giải quyết khiếu nại, tố cáo cần phải thực hiện tốt việc
tiếp công dân, từ đó sẽ khắc phục được tình trạng khiếu nại, tố cáo tràn lan vượt cấp
cũng như các bất cập khác trong giải quyết khiếu nại, tố cáo. Ở khía cạnh cụ thể tiếp
công dân là khâu đầu tiên của quá trình giải quyết khiếu nại, tố cáo. Vì vậy, công tác
này có ý nghĩa rất quan trọng, là tiền đề thuận lợi cho việc giải quyết chất lượng khiếu
nại, tố cáo.
Nhận thức được tầm quan trọng của công tác tiếp công dân và giải quyết khiếu
nại, tố cáo. Từ trước đến nay Đảng, Nhà nước ta đã luôn quan tâm chú trọng thực hiện
tốt công tác này, đặc biệt là việc thể chế hoá công tác tiếp công dân và giải quyết khiếu
nại, tố cáo thông qua các văn bản pháp luật như: Luật Khiếu nại 2011, Nghị định số
HIỆN HÀNH VỀ THỦ TỤC HÀNH CHÍNH TRONG
TIẾP CÔNG DÂN VÀ GIẢI QUYẾT KHIẾU NẠI, TỐ CÁO
2.1. Tiếp dân và tiếp nhận đơn thư khiếu nại, tố cáo
Tiếp công dân là việc cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân quy định tại Điều 4 của
Luật Tiếp công dân đón tiếp để lắng nghe, tiếp nhận khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản
ánh của công dân; giải thích, hướng dẫn cho công dân về việc thực hiện khiếu nại, tố
cáo, kiến nghị, phản ánh theo đúng quy định của pháp luật.28 Trụ sở tiếp công dân
được thành lập ở cấp Trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện và đều có thành lập Ban tiếp
công dân, còn việc tiếp công dân ở cấp xã do Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã phụ
trách và phân công người tiếp dân.
Cán bộ trực tiếp làm công tác tiếp công dân phải có thái độ ứng xử đúng mực, có
văn hóa đối với người dân đến khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh, hướng dẫn công
dân trình bày đầy đủ, rõ ràng nội dung khiếu nại, những yêu cầu cần giải quyết, cung
cấp những tài liệu, chứng cứ liên quan đến vụ việc; hướng dẫn công dân khiếu nại, tố
cáo đến đúng người có thẩm quyền giải quyết; giải thích cho công dân hiểu đường lối,
chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước. Giải thích, từ chối tiếp những người
khiếu nại, tố cáo về những vụ việc đã được cơ quan có thẩm quyền giải quyết đúng
chính sách, pháp luật29. Trực tiếp xử lý hoặc phân loại, chuyển đơn, trình người có
thẩm quyền xử lý khiếu nại, kiến nghị, phản ánh; thông báo kết quả xử lý, kiến nghị,
phản ánh cho công dân. Yêu cầu người vi phạm nội quy nơi tiếp công dân chấm dứt
hành vi vi phạm; trong trường hợp cần thiết, lập biên bản về việc vi phạm và yêu cầu
cơ quan chức năng xử lý theo quy định của pháp luật30.
Việc tiếp nhận đơn thư khiếu nại, tố cáo gắn liền với việc thực hiện một nhiệm
vụ có tính chất bắt buộc đối với tất cả các cơ quan nhà nước, tổ chức, đó là hoạt động
tiếp công dân. Hoạt động này phải được tiến hành thường xuyên bởi vì có rất nhiều
trường hợp công dân trực tiếp đến trụ sở cơ quan nhà nước để đưa đơn khiếu nại, tố
cáo hoặc trực tiếp trình bày về nội dung khiếu nại, tố cáo.
Khoản 1 Điều 2 Luật tiếp công dân.
Quyết định Số: 858/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 14/6/2010 về phê duyệt đề án đổi mới công tác