1
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
BÙI TIẾN ĐẠT PHÁP LUẬT VỀ XỬ PHẠT VI PHẠM HÀNH
CHÍNH:
LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC HÀ NỘI - 2008 1
MỤC LỤC
Trang
Mở đầu
1
CHƢƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ PHÁP LUẬT VỀ XỬ PHẠT
VI PHẠM HÀNH CHÍNH
5
1.1. Xử phạt vi phạm hành chính và pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính
5
1.1.1. Khái niệm, đặc điểm của xử phạt vi phạm hành chính
5
1.1.2. Khái niệm, đặc điểm của pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính
8
1.2. Nội dung của pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính
11
1.2.1. Khái niệm vi phạm hành chính
11
1.2.2. Các nguyên tắc xử phạt vi phạm hành chính
20
1.2.3. Các hình thức xử phạt vi phạm hành chính và các biện pháp khắc phục hậu
2.2. Thực trạng thực hiện pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính
71
2.2.1. Áp dụng pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính
71
2.2.2. Chấp hành pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính
76
2.3. Đánh giá thực trạng pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính
79
2.3.1. Cấu trúc hệ thống pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính hiện hành
79
2.3.2. Những thành tựu
80
2.3.3. Những hạn chế
81
2.3.4. Nguyên nhân của những hạn chế
86
2
CHƢƠNG 3: PHƢƠNG HƢỚNG, GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT
VỀ XỬ PHẠT VI PHẠM HÀNH CHÍNH
89
3.1. Yêu cầu hoàn thiện pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính trong giai
đoạn hiện nay
89
3.1.1. Hoàn thiện pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính nhằm đáp ứng yêu cầu
cải cách pháp luật trong điều kiện xây dựng nhà nước pháp quyền
89
112
3.3.5. Bổ sung nguyên tắc xử phạt vi phạm hành chính
113
3.3.6. Bổ sung hình thức xử phạt vi phạm hành chính, xác định lại tính chất của
các hình thức đó
114
3.3.7. Bổ sung các biện pháp khắc phục hậu quả và phân loại theo từng lĩnh vực
115
3.3.8. Quy định thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính, thẩm quyền áp dụng các
biện pháp khắc phục hậu quả
115
3.3.9. Sửa đổi, bổ sung các biện pháp ngăn chặn vi phạm hành chính và đảm bảo
xử phạt vi phạm hành chính theo hướng bảo vệ quyền con người
116
3.3.10. Quy định thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính phù hợp với từng lĩnh vực
116
3.3.11. Hợp lý hóa thủ tục xử phạt vi phạm hành chính và tăng tính hiệu lực, hiệu
quả thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính
117
KẾT LUẬN
118
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
122 3
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
VPHC Vi phạm hành chính
Hiện nay, Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính 2002 quy định xử lý vi phạm
hành chính gồm xử phạt vi phạm hành chính và các biện pháp xử lý hành chính
khác. Xét về mặt lý luận cũng như thực tiễn, xử phạt vi phạm hành chính và các
biện pháp xử lý hành chính khác có bản chất, mục đích, đối tượng, các biện pháp áp
dụng, thủ tục áp dụng… khác nhau. Và trên thế giới có nhiều nước xây dựng một
đạo luật riêng về xử phạt vi phạm hành chính. Do đó, việc nghiên cứu riêng về vấn
đề pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính được đặt ra có ý nghĩa lý luận và thực
tiến lớn. Vì vậy, học viên thực hiện Luận văn thạc sĩ với đề tài “Pháp luật về xử
phạt vi phạm hành chính: Lý luận và thực tiễn” để góp phần vào việc nghiên cứu
đó.
2. Tình hình nghiên cứu
Học viên đã tiếp cận một số công trình khoa học về vấn đề xử phạt vi phạm
hành chính được công bố trong khoảng 10 năm gần đây như:
a. Công trình khoa học nghiên cứu liên quan nhiều tới đề tài luận văn:
Nguyễn Văn Thạch (1997), Trách nhiệm hành chính, Luận văn thạc sĩ luật học,
Viện Nhà nước và pháp luật. Luận văn này nghiên cứu về chế định trách nhiệm
hành chính - một cách tiếp cận gần gũi nhưng vẫn có nhiều điểm khác biệt với vấn
đề pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính. Hơn nữa, luận văn này được nghiên
cứu hơn 10 năm trước đây nên cần có sự nghiên cứu cập nhật với hiện tại.
b. Các công trình khoa học nghiên cứu một vấn đề nhỏ trong việc xử phạt vi
phạm hành chính hoặc pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính 5
- Vũ Thư (2000), Chế tài hành chính – Lý luận và thực tiễn, NXB Chính trị
Quốc gia, Hà Nội.
- Đỗ Hoàng Yến (2002), “Tăng cường và đổi mới cơ chế kiểm tra, giám sát
trong xử lý vi phạm hành chính”, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp (8).
- Bùi Xuân Đức (2006), “Về vi phạm hành chính và hình thức xử phạt hành
chính: những hạn chế và giải pháp đổi mới”, Tạp chí Nhà nước và pháp luật (2).
6
Các công trình khoa học trên hoặc đã cũ hoặc chỉ đề cập đến một tiểu vấn đề
hoặc chưa trực diện nghiên cứu chuyên sâu, toàn diện về pháp luật về xử phạt vi
phạm hành chính. Do đó, việc nghiên cứu đề tài luận văn này vừa là sự kế thừa,
phát triển các công trình trên nhưng cũng là cách tiếp cận mới về mặt khoa học và
có ý nghĩa về mặt thực tiễn. Các công trình trên là tài liệu tham khảo quan trọng cho
luận văn thạc sĩ này.
3. Mục đích của đề tài
Với đề tài này, tác giả mong muốn:
- Làm rõ cơ sở lý luận của pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính.
- Phân tích thực trạng quy định và thực hiện pháp luật xử phạt vi phạm hành
chính; chỉ ra những hạn chế, bất cập của hệ thống pháp luật này.
- Đề ra phương hướng, giải pháp hoàn thiện pháp luật về xử phạt vi phạm
hành chính đáp ứng yêu cầu quản lý nhà nước trong giai đoạn hiện nay.
4. Phạm vi nghiên cứu
Đề tài đi sâu nghiên cứu hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật và nội dung
các quy định pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính. Vấn đề thực hiện pháp luật
về xử phạt vi phạm hành chính không phải là vấn đề trọng tâm nhưng cũng được
xem xét nhằm đánh giá thực trạng pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính.
5. Phƣơng pháp nghiên cứu
Luận văn được thực hiện bằng các phương pháp nghiên cứu chủ yếu sau:
1. Phương pháp phân tích, tổng hợp
Luận văn kế thừa, tổng kết lại những kết quả của các công trình nghiên cứu về
xử phạt vi phạm hành chính. Tuy nhiên, đây không phải là sự sao chép vì đã có sự
sắp xếp theo kết cấu khác theo góc nhìn của tác giả.
2. Phương pháp so sánh
So sánh pháp luật xử phạt vi phạm hành chính của nước ta trong từng giai
đoạn; So sánh pháp luật xử phạt vi phạm hành chính của nước ta với các nước trên
phạm hành chính
8
CHƢƠNG 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ
PHÁP LUẬT VỀ XỬ PHẠT VI PHẠM HÀNH CHÍNH
1.1. Xử phạt vi phạm hành chính và pháp luật về xử phạt vi phạm hành
chính
1.1.1. Khái niệm, đặc điểm của xử phạt vi phạm hành chính
1.1.1.1. Khái niệm xử phạt vi phạm hành chính
Pháp luật là hệ thống các quy tắc xử sự có tính chất bắt buộc chung do nhà
nước đặt ra hoặc thừa nhận, thể hiện ý chí nhà nước của giai cấp thống trị trên cơ sở
ghi nhận các nhu cầu về lợi ích của toàn xã hội, được đảm bảo thực hiện bằng nhà
nước nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội với mục đích trật tự và ổn định xã hội vì
sự phát triển bền vững của xã hội [61, tr. 288]. Pháp luật có ba chức năng: điều
chỉnh, bảo vệ và giáo dục. Sở dĩ pháp luật có chức năng bảo vệ vì trong xã hội vẫn
tồn tại những “vi phạm pháp luật” – là hành vi nguy hiểm cho xã hội, xâm hại đến
các lợi ích của xã hội, quyền và lợi ích của công dân, do người có năng lực trách
nhiệm pháp lý thực hiện một cách có lỗi [61, tr. 537]. Và người vi phạm pháp luật
phải chịu trách nhiệm pháp lý – hậu quả của vi phạm pháp luật và được thể hiện
trong việc cơ quan nhà nước có thẩm quyền áp dụng các biện pháp cưỡng chế (chế
tài xử lý) [61, tr. 550].
Vi phạm hành chính là một trong những loại vi phạm pháp luật xảy ra khá phổ
biến và có ảnh hưởng lớn tới xã hội
1
. Vi phạm hành chính là hành vi (hành động
nước, quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức, tăng cường pháp chế xã hội
chủ nghĩa, nâng cao hiệu lực quản lý của Nhà nước” (Phần mở đầu của Pháp lệnh
Xử lý vi phạm hành chính 2002). Và khoản 2 Điều 1 PLXLVPHC quy định “xử
phạt vi phạm hành chính được áp dụng đối với cá nhân, cơ quan, tổ chức (sau đây
gọi chung là cá nhân, tổ chức) có hành vi cố ý hoặc vô ý vi phạm các quy định của
pháp luật về quản lý nhà nước mà không phải là tội phạm và theo quy định của
pháp luật phải bị xử phạt hành chính”. Và Pháp lệnh cũng quy định 3 nhóm biện
pháp có thể được áp dụng đối với vi phạm hành chính: 1. Các hình thức xử phạt vi
phạm hành chính; 2. Các biện pháp khắc phục hậu quả; 3. Các biện pháp ngăn chặn
vi phạm hành chính và đảm bảo việc xử phạt vi phạm hành chính. Áp dụng các hình
thức xử phạt vi phạm hành chính và áp dụng các biện pháp khắc phục hậu quả chính
là hai nhóm biện pháp trách nhiệm hành chính theo lý luận nêu trên. Còn các biện
pháp ngăn chặn vi phạm hành chính và đảm bảo việc xử phạt vi phạm hành chính là
các biện pháp ngăn chặn hành chính, được áp dụng trong các trường hợp cần thiết
phải ngăn chặn, dập tắt những vi phạm hành chính, đảm bảo việc xử phạt hay ngăn
chặn những hậu quả thiệt hại do vi phạm hành chính gây ra [81, tr. 378]. Vậy, có
thể kết luận xử phạt vi phạm hành chính là việc các cơ quan nhà nước, người có
thẩm quyền áp dụng những biện pháp cưỡng chế hành chính (gồm các hình thức
xử phạt vi phạm hành chính; các biện pháp khắc phục hậu quả; các biện pháp
ngăn chặn vi phạm hành chính và đảm bảo việc xử phạt vi phạm hành chính) đối
với những cá nhân, tổ chức thực hiện vi phạm hành chính nhằm đảm bảo trật tự
và kỷ luật trong quản lý nhà nước.
Theo quy định của pháp luật hiện hành, khái niệm xử phạt vi phạm hành chính
nằm trong khái niệm xử lý vi phạm hành chính khi Điều 1 PLXLVPHC 2002 quy
định rằng “Xử lý vi phạm hành chính bao gồm xử phạt vi phạm hành chính và các 10
biện pháp xử lý hành chính khác”. Pháp lệnh XLVPHC 1995 và 2002 đều không
đưa ra định nghĩa mang tính lý luận về XLVPHC, XPVPHC và các biện pháp xử lý
niệm xử lý vi phạm hành chính theo tinh thần Pháp lệnh không có tính khoa học.
1.1.1.2. Đặc điểm của xử phạt vi phạm hành chính
1. Cơ sở để xử phạt vi phạm hành chính là vi phạm hành chính 11
Không có VPHC thì không có trách nhiệm hành chính, cũng như cơ sở của
trách nhiệm hình sự là tội phạm, của trách nhiệm dân sự là vi phạm quan hệ dân sự,
của trách nhiệm kỷ luật là vi phạm kỷ luật.
2. Hoạt động xử phạt vi phạm hành chính chủ yếu do các cơ quan quản lý nhà
nước có thẩm quyền theo quy định của pháp luật và do đó được áp dụng theo thủ
tục hành chính do các quy phạm thủ tục hành chính quy định.
Vì VPHC là những vi phạm nhỏ và phổ biến nên việc XPVPHC không theo
thủ tục tư pháp như đối với truy cứu trách nhiệm hình sự và trách nhiệm dân sự, mà
theo thủ tục hành chính và chủ yếu do các cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền
thực hiện.
Không phải bất kỳ cơ quan quản lý nhà nước nào cũng có thẩm quyền
XPVPHC mà chỉ có một số cơ quan nhất định trong số đó được nhà nước trao
quyền hạn này. Hoạt động xử phạt vi phạm hành chính, cũng như việc áp dụng các
biện pháp cưỡng chế hành chính nói chung, nằm ngoài hoạt động xét xử của Tòa án.
Còn các biện pháp trách nhiệm hình sự, dân sự được thực hiện theo trình tự xét xử
của Tòa án. Tuy nhiên, Tòa án cũng có thẩm quyền XPVPHC trong trường hợp
ngoại lệ đặc biệt (đó là đối với những hành vi gây rối trật tự tại phiên tòa).
Thủ tục XPVPHC đơn giản hơn so với thủ tục áp dụng cưỡng chế hình sự và
dân sự.
3. Hoạt động xử phạt vi phạm hành chính không chỉ nhằm đảm bảo thực hiện,
bảo vệ các quy phạm vật chất của ngành luật hành chính mà còn bảo đảm thực hiện
và bảo vệ các quy phạm vật chất của các ngành luật khác (như luật tài chính, ngân
hàng, đất đai, môi trường…)
4. Giữa cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền thực hiện xử phạt vi phạm
Giai đoạn tiếp theo từ năm 1954 đến năm 1989, xét về mặt kỹ thuật lập quy
cũng như hoạt động xử phạt hành chính so với giai đoạn trước đó, cũng chưa có
nhiều biến chuyển. Việc quy định hành vi vi phạm hành chính và các chế tài đối với
chúng (ngoài những quy định cũ vẫn hiện hành) vẫn do nhiều cơ quan (từ Chính
phủ đến Bộ, Uỷ ban nhân dân) quy định trong các văn bản khác nhau và vẫn theo
cách xử lý tình hưống chứ chưa thành hệ thống, chưa có tính tổng thể, toàn diện.
Điểm đặc trưng là giai đoạn này nổi lên khía cạnh quản lý nhằm xác lập và bảo vệ
các quan hệ xã hội chủ nghĩa. Chính điều này có ảnh hưởng rõ rệt đến việc quy định
các hành vi vi phạm và hệ thống chế tài đối với chúng. Thời kỳ này đã có một văn
bản quy định riêng về XPVPHC là Điều lệ xử phạt vi cảnh ban hành kèm theo Nghị
định số 143/CP ngày 27-5-1977 của Hội đồng Chính phủ.
Năm 1989 được lấy làm mốc cho giai đoạn mới của sự phát triển của pháp luật
xử phạt hành chính. Đấy là năm nước ta ban hành một văn bản chung thống nhất có
tính pháp điển hoá cao cho lĩnh vực xử phạt hành chính – Pháp lệnh xử phạt vi
phạm hành chính - và vì cũng từ đây pháp luật xử phạt vi phạm hành chính nói
riêng và pháp luật nói chung song hành với công cuộc đổi mới, vừa phục vụ sự
nghiệp đổi mới, vừa tự đổi mới trong đó phản ánh tư duy mới về dân chủ hoá xã
hội, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Bước phát triển
(hay có thể coi là hoàn thiện) tiếp theo về quy định hành vi vi phạm hành chính và
chế tài hành chính gắn với việc ban hành Pháp lệnh mới về xử lý vi phạm hành
chính được Uỷ ban thường vụ Quốc hội thông qua ngày 6-7-1995 – Pháp lệnh xử lý 13
vi phạm hành chính năm 1995.Do yêu cầu của công cuộc đổi mới, để kịp thời và đủ
hiệu lực đấu tranh với các vi phạm hành chính trong điều kiện mới nhất là các vi
phạm có liên quan đến mở cửa, hội nhập, pháp luật về xử phạt hành chính lại được
ban hành mới. Ngày 2-7-2002, Uỷ ban thường vụ Quốc hội thông qua pháp lệnh xử
lý vi phạm hành chính mới – Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính năm 2002 (đến
nay đã được sửa đổi bổ sung hai lần vào các năm 2007 và 2008).
14
Lịch sử lập pháp ở nước ta, pháp luật về XPVHHC luôn đi sau pháp luật hình
sự và kế thừa những quan điểm lập pháp của luật hình sự. Nhiều khái niệm, chế
định của luật hình sự được tiếp nhận trong pháp luật về XPVPHC như tình tiết tăng
nặng, giảm nhẹ, phòng vệ chính đáng, tình thế cấp thiết, sự kiện bất ngờ, hình thức
xử phạt chính và bổ sung, các biện pháp ngăn chặn…
2. Hệ thống pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính gồm nhiều văn bản quy
phạm pháp luật hợp thành
Không như hệ thống pháp luật hình sự quy định tội phạm và hình phạt trong
duy nhất Bộ luật hình sự, hệ thống pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính được
hợp thành bởi nhiều VBQPPL khác nhau. Pháp lệnh XLVPHC 2002 chỉ quy định
những vấn đề cơ bản mang tính nguyên tắc về XPVPHC. Nhiều vấn đề của Pháp
lệnh được các nghị định của Chính phủ và các thông tư, quyết định, chỉ thị của Bộ
quy định chi tiết. Đặc biệt, toàn bộ các vi phạm hành chính và các biện pháp xử
phạt, biện pháp khắc phục hậu quả cụ thể trong từng lĩnh vực được quy định rải rác
ở rất nhiều nghị định về XPVPHC trong các lĩnh vực quản lý nhà nước.
3. Vi phạm hành chính và các biện pháp chế tài đối với vi phạm hành chính
trong từng lĩnh vực thường được quy định ở nhiều văn bản dưới luật
Pháp lệnh XLVPHC đã ủy quyền cho Chính phủ quy định các vi phạm hành
chính và các biện pháp xử phạt, biện pháp khắc phục hậu quả cụ thể trong từng lĩnh
vực quản lý nhà nước.
4. Hệ thống pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính không có tính ổn định
cao
Các VBQPPL về XPVPHC không có tính ổn định cao do thường xuyên thay
đổi. Từ 1989 đến nay, chúng ta đã có 3 Pháp lệnh quy định về XPVPHC. Nhưng
đặc biệt, các nghị định quy định về XPVPHC trong các lĩnh vực quản lý nhà nước
thì thay đổi nhiều hơn.
5. Việc áp dụng pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính chủ yếu do các cơ
quan quản lý nhà nước thực hiện.
hành kèm theo Nghị định số 143/CP ngày 27/05/1977 của Hội đồng Chính phủ,
được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 200-HĐBT ngày 06/07/1985 của Hội đồng
Bộ trưởng thì “vi cảnh” được định nghĩa là “những hành vi xâm phạm đến trật tự
an toàn xã hội mà có tính chất đơn giản, rõ ràng và hậu quả không nghiêm trọng,
chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc chưa đến mức xử phạt bằng các
biện pháp hành chính khác là phạm pháp vi cảnh”. Về cụ thể, hành vi vi phạm vi
cảnh được các văn bản pháp luật trước đây quy định rất đa dạng, có những hành vi
mang tính chất đặc trưng của thời kỳ sau Cách mạng tháng Tám 1945 (thời kỳ nhà
nước ta phải đấu tranh với “giặc đói”, “giặc dốt” và giữ gìn chính quyền cách mạng
non trẻ mới được thành lập) như: “người trên 8 tuổi mà không biết đọc, viết chữ
quốc ngữ, hạn sau một năm thì bị phạt tiền” (Sắc lệnh số 20 ngày 08/09/1945 của 2
Khái niệm này chính thức được sử dụng trong “Điều lệ xử phạt vi cảnh” ban hành kèm theo Nghị định số
143/CP ngày 27/05/1977. Theo quy định của Điều lệ xử phạt vi cảnh thì tất cả những hành vi xâm hại đến
trật tự an toàn xã hội có tính chất đơn giản, rõ ràng hoặc hậu quả không nghiêm trọng, chưa đến mức truy cứu
trách nhiệm hình sự hoặc áp dụng các biện pháp hành chính khác là phạm pháp vi cảnh. Hình thức xử phạt vi
cảnh được chia thành 4 loại: cảnh cáo; phạt tiền từ 01 đến 10 đồng; phạt lao động công ích từ 01 đến 03
ngày; phạt giam từ 01 đến 03 ngày. Nghị định cũng quy định tịch thu phương tiện dùng vào việc vi phạm tùy
theo tính chất, mức độ của vi phạm; quy định thẩm quyền xử phạt với hình thức phạt cảnh cáo, phạt tiền cho
cán bộ có thẩm quyền của các ngành Kiểm lâm, Thủy sản, Thương nghiệp Y tế, Giao thông vận tải… trong
khi thừa hành công vụ ngoài lực lượng cán bộ, chiến sĩ công an là lực lượng có thẩm quyền áp dụng tất cả
các hình thức xử phạt mà Nghị định quy định. 16
Chính phủ lâm thời); vi phạm về sử dụng điện thoại như “bị bắt quả tang đã sửa
đổi hoặc đặt thêm những đường dây hay máy móc điện thoại thuê bao mà không
được Chính phủ cho phép” (Sắc lệnh số 174 ngày 06/09/1946 của Bộ nội vụ);
nhân, tổ chức, vi phạm các quy định của pháp luật về quản lý nhà nước mà không
phải là tội phạm và theo quy định của pháp luật phải bị xử phạt vi phạm hành chính. 17
Chúng ta có thể thấy định nghĩa về VPHC trong các Pháp lệnh về xử phạt/xử
lý VPHC 1989, 1995, 2002 khác nhau về ngôn ngữ thể hiện nhưng về bản chất là
giống nhau. Khái niệm VPHC cần phải được định nghĩa rõ ràng vì đây là khái niệm
cốt lõi của pháp luật về XPVPHC (giống như khái niệm tội phạm trong pháp luật
hình sự). Nó là xuất phát điểm quan trọng để xác định các hành vi vi phạm trong
từng lĩnh vực cụ thể và các chế tài áp dụng một cách đúng đắn, chính xác và hiệu
quả. Hơn nữa, nó còn thể hiện sự phân định với tội phạm – điều có ý nghĩa rất quan
trọng để áp dụng trách nhiệm hành chính với thủ tục khác hẳn khi áp dụng trách
nhiệm hình sự.
Trước tiên cần phải khẳng định VPHC là một loại vi phạm pháp luật. Nó
mang đầy đủ những dấu hiệu đặc trưng của vi phạm pháp luật: đó là hành vi khách
quan được thể hiện thông qua hành động (hoặc không hành động) của con người
trái với các quy tắc xử sự chung do nhà nước đặt ra bằng các quy phạm pháp luật do
nhà nước ban hành; hành vi đó thể hiện ý chí của chủ thể thực hiện bằng sự cố ý
hoặc vô ý đối với việc thực hiện và nó xâm hại đến lợi ích của cộng đồng, trật tự xã
hội và lợi ích của nhà nước và bị áp dụng chế tài pháp lý mang tính cưỡng chế nhà
nước. Các loại VPPL có thể là: vi phạm hành chính, vi phạm pháp luật dân sự, vi
phạm pháp luật về công chức, công vụ và vi phạm pháp luật hình sự. Tương ứng
với các loại VPPL nói trên có bốn loại trách nhiệm pháp lý được áp dụng, tùy theo
tính chất, mức độ vi phạm, đó là trách nhiệm hành chính, trách nhiệm dân sự, trách
nhiệm kỷ luật và trách nhiệm hình sự.
Các dấu hiệu pháp lý và yếu tố cấu thành pháp lý của vi phạm hành chính
gồm: mặt khách quan, khách thể, chủ thể, mặt chủ quan.
1. Mặt khách quan
Mặt khách quan của VPHC bao gồm các dấu hiệu: hành vi, tính trái pháp luật
nước đó không được các quy phạm pháp luật hành chính bảo vệ thì đó không phải
là khách thể của VPHC, mà có thể là khách thể của tội phạm, vi phạm kỷ luật, vi
phạm dân sự.
Đồng thời, các biện pháp trách nhiệm hành chính không chỉ được áp dụng để
bảo vệ các quan hệ xã hội do luật hành chính điều chỉnh, mà còn bảo vệ cả các quan
hệ tài chính, đất đai, lao động… do các ngành luật tương ứng điều chỉnh. Như vậy,
khách thể của VPHC còn là các quan hệ pháp luật lao động, đất đai, tài chính…
3. Chủ thể
Chủ thể của VPHC là cá nhân hay tổ chức có năng lực trách nhiệm hành chính
đã thực hiện hành vi VPHC.
Pháp luật hành chính quy định chỉ truy cứu trách nhiệm hành chính đối với
những cá nhân có năng lực hành vi pháp luật hành chính. Người có năng lực hành vi
pháp luật hành chính là người có khả năng nhận thức được tính chất nguy hại cho
xã hội của hành vi, hậu quả của hành vi và điều khiển được hành vi đó. Những
người hành động trong tình thế cấp thiết, phòng vệ chính đáng và sự kiện bất ngờ,
hoặc không có khả năng nhận thức, điều khiển hành vi của mình thì không phải chịu
trách nhiệm hành chính, nghĩa là không bị xử phạt VPHC.
Các chủ thể phải chịu trách nhiệm hành chính gồm:
a. Cá nhân
- Người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hành chính về mọi VPHC. 19
- Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi chỉ chịu trách nhiệm hành chính về
VPHC do lỗi cố ý.
- Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi VPHC thì bị phạt cảnh cáo.
- Người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi VPHC thì có thể bị áp dụng các hình
thức xử phạt VPHC theo quy định của pháp luật. Khi phạt tiền đối với họ thì người
có thẩm quyền áp dụng mức phạt không quá ½ mức phạt đối với người thành niên,
Nếu người chưa thành niên không có tiền nộp phạt thì cha mẹ hoặc người giám hộ
20
Mặt chủ quan của VPHC thể hiện ở yếu tố lỗi của người vi phạm. Lỗi là dấu
hiệu pháp lý bắt buộc của VPHC. Cần phân biệt hành vi trái pháp luật với vi phạm
pháp luật, nếu chưa xác định yếu tố chủ quan: thái độ, động cơ, ý chí của người vi
phạm đối với hành vi của họ và đối với hậu quả của hành vi.
Có hai hình thức lỗi cố ý và lỗi vô ý. Lỗi cố ý thể hiện ở việc người có hành vi
VPHC nhận thức được tính chất nguy hại cho xã hội của hành vi nhưng vẫn thực
hiện hoặc để mặc cho hậu quả hành vi đó xảy ra. Lỗi vô ý thể hiện ở việc người có
hành vi VPHC không biết hoặc không nhận thức được hành vi trái pháp luật mặc dù
cần phải biết và nhận thức được, hoặc nhận thức được nhưng cho rằng có thể ngăn
ngừa được hậu quả.
Trong mặt chủ quan của nhiều VPHC, yếu tố động cơ, mục đích vi phạm cũng
được tính đến khi xem xét để quyết định các hình thức và mức xử phạt cụ thể.
Khi xem xét, đánh giá một hành vi trái pháp luật có phải là VPHC hay không,
cần xem xét đầy đủ các dấu hiệu, yếu tố cấu thành pháp lý của vi phạm; từ đó có thể
xác định là vi phạm gì để chọn chế tài đúng.
Việc so sánh vi phạm hành chính và tội phạm có nhiều ý nghĩa lý luận và
thực tiễn.
Nhìn chung, VPHC và tội phạm đều là hành vi vi phạm, xâm hại trật tự pháp
luật được nhà nước đặt ra. Vi phạm hay phạm pháp (offence/violation) là những
hành vi vi phạm pháp luật nói chung và phải bị xử lý theo quy định của hệ thống
chế tài tương ứng. VPHC (administrative offence/violation) bị xử lý bằng các chế
tài hành chính, còn tội phạm (criminal offence/crime) bị xử lý bằng các chế tài hình
sự.
Căn cứ vào các dấu hiệu nhận biết VPHC nêu trên, về mặt lý thuyết, chúng ta
có thể phân biệt VPHC với tội phạm. Trong khi khái niệm “vi phạm hành chính”
thường gây nhiều tranh cãi, đặc biệt là trong những trường hợp cụ thể thì khái niệm
tội phạm dường như được hiểu và định nghĩa khá thống nhất. Nói một cách đơn
giản, tội phạm là hành vi vi phạm pháp luật gây nguy hiểm cho xã hội được quy
định trong Bộ luật Hình sự do người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện.
đối với tội phạm. Như vậy, giữa tội phạm và VPHC luôn có một ranh giới - đó
chính là mức độ nguy hiểm cho xã hội. Đây có thể coi là điểm cơ bản để phân biệt
VPHC và tội phạm. Thông thường, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi được
biểu hiện thông qua một loạt các chỉ số nhất định như: mức độ hậu quả, tái phạm, vi
phạm nhiều lần hoặc có tính chất chuyên nghiệp, vi phạm với số lượng lớn… Nhiều
hành vi luôn là tội phạm bởi mức độ nguy hiểm cao cho xã hội. Nhưng trong nhiều
trường hợp, hành vi vi phạm lần đầu là VPHC nhưng nếu tái phạm hoặc có tính chất
chuyên nghiệp thì là tội phạm hoặc một hành vi VPHC nếu gây hậu quả nghiêm
trọng thi có thể chuyển hóa thành tội phạm… Chính vì vậy mà khi xử lý các VPHC, 3
Bộ luật Hình sự 1999 có tổng cộng 123 tội có đan xen giữa VPHC, vi phạm kỷ luật và tội phạm. Cụ thể là:
- 46 tội bao gồm các tội có dấu hiệu: chỉ cần có hậu quả, hoặc gây hậu quả nghiêm trọng, hoặc chỉ có khả
năng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc hậu quả đặc biệt nghiêm trọng, gây hậu quả nghiêm trọng hoặc vi phạm
nhiều lần;
- 56 tội bao gồm các tội có dấu hiệu: gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị XPVPHC, gây hậu quả nghiêm
trọng hoặc đã bị XPVPHC hoặc kỷ luật, đã bị xử lý kỷ luật hoặc gây hậu quả nghiêm trọng, gây hậu quả
nghiêm trọng hoặc đã bị xử lý kỷ luật, đã bị XPHC mà còn vi phạm gây hậu quả nghiêm trọng, đã bị XPHC
hoặc xử lý kỷ luật mà còn vi phạm gây hậu quả nghiêm trọng;
- 6 tội bao gồm các tội có dấu hiệu: vi phạm với số lượng lớn hoặc gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị
XPHC, vi phạm với số lượng lớn (hoặc quy mô lớn) hoặc đã bị XPHC;
- 15 tội bao gồm các tội có dấu hiệu:: đã bị XPHC hoặc xử lý kỷ luật, hoặc đã XPHC, đã xử lý kỷ luật, hoặc
đã giáo dục, tạo điều kiện và đã XPHC, hoặc đã giáo dục và đưa vào cơ sở chữa bệnh bắt buộc. 22
cơ quan, người có thẩm quyền không chỉ phải xác định các yếu tố cấu thành VPHC
mà còn phải xem xét các yếu tố có thể làm chuyển hóa VPHC thành tội phạm hay
không.
xã hội cũng như yêu cầu cần bảo vệ các quan hệ xã hội đó. Do phạm vi nghiên cứu
của đề tài, không đề cập sâu đến việc chuyển hóa VPHC thành tội phạm dưới giác 23
độ hình sự hóa
4
, tức là quy định là tội phạm những hành vi trước đây được coi là
VPHC do trong điều kiện mới cần thay đổi cách thức bảo vệ đối với các quan hệ xã
hội nhất định. Tại đây, chủ yếu phân tích các dạng thức thể hiện sự chuyển hóa
VPHC thành tội phạm đã được ghi nhận trong các quy định của Bộ luật hình sự
hiện hành.
Một trong những điểm sửa đổi, đổi mới cơ bản liên quan đến việc xác định các
tội danh của BLHS 1999 so với BLHS 1985 là việc quy định tình tiết định tội “đã bị
xử phạt hành chính mà còn vi phạm” ở khá nhiều tội danh. Hay nói cách khác, một
hành vi VPHC sẽ chuyển hóa thành tội phạm trong trường hợp người thực hiện
hành vi VPHC đã bị xử lý theo quy định của pháp luật hành chính mà còn vi phạm.
BLHS có 64 tội danh mà trong cấu thành cơ bản có quy định việc “đã bị xử phạt
hành chính về hành vi này” mà còn vi phạm và 01 tội danh quy định việc “đã được
giáo dục nhiều lần và đã bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở chữa
bệnh mà còn vi phạm” như một yếu tố cấu thành tội phạm thuộc 8 nhóm tội thuộc
các lĩnh vực: bảo vệ quyền tự do, dân chủ của công dân; sở hữu; hôn nhân và gia
đình; quản lý kinh tế; bảo vệ môi trường; trật tự an toàn công cộng; trật tự quản lý
hành chính; phòng chống ma túy. Trong các trường hợp này, một hành vi vi phạm
lần đầu được coi là VPHC, nhưng nếu tái phạm (đã bị xử phạt hành chính về hành
vi này mà còn vi phạm) thì trở thành tội phạm. Ví dụ, hành vi gây rối trật tự công
cộng không gây hậu quả nghiêm trọng là VPHC, nhưng nếu đã bị xử phạt hành
chính về hành vi này mà còn vi phạm thì chuyển thành tội gây rối trật tự công cộng
được quy định tại điều 245 BLHS.
Như vậy, hành vi VPHC và tội phạm rất gần nhau trong một số trường hợp cụ