ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT HOÀNG VĂN QUYNH
Luật tục với việc bảo vệ tài nguyên và môi
trường của một số dân tộc ít người ở Việt
Nam
LUẬN VĂN THẠC SĨ LÝ LUẬN NHÀ NƯỚC VÀ
PHÁP QUYỀN
34
2.4. Các quy định xác định quan hệ sở hữu các nguồn tài nguyên và môi
trong Luật tục
35
2.4.1. Các quan niệm của đồng bào về vấn đề sở hữu
35
2.4.2. Sở hữu chung (tập thể)
36
2.4.3. Sở hữu riêng
39
2.5. Vấn đề quản lý, bảo vệ , khai thác và sử dụng tài nguyên và môi trường
42
2.5.1. Những quy định của Luật tục về quản lý, bảo vệ và khai
thác tài nguyên và môi trường mang tính truyền thống dân gian
42
2.5.2. Các quy định của Luật tục về bảo vệ tài nguyên và môi
trường
45
2.5.2.1. Quản lý, bảo vệ và khai thác sử dụng tài nguyên rừng
45
2.5.2. 2. Quản lý, bảo vệ và khai thác sử dụng tài nguyên nước
52
2.5.2.3. Quản lý, bảo vệ và khai thác sử dụng đất đai, sông
suối
57
83
3.3. Một số kiến nghị và giải pháp
85
Kết luận
88
Tài liệu tham khảo
90 1 Lời mở đầu
1. Tính cấp thiết của đề tài:
Tài nguyên thiên nhiên và môi trường sinh thái là nền tảng cơ bản nhất
để con người có thể sinh tồn. Ngay từ khi mới ra đời, con người với thế giới
tự nhiên đã trở thành một khối thống nhất không thể tách rời. Có thể nói
trong lịch sử tiến hoá và phát triển của mình, con người chưa bao giờ và
không thể “bước ra khỏi” môi trường tự nhiên xung quanh mình. Bởi vì, thực
chất con người cũng là một sinh vật của tự nhiên mà lại là một loại sinh vật có
ý thức. Cho nên, mối quan hệ giữa con người và tự nhiên mãi mãi vẫn sẽ là
quan hệ sống còn.
Đối với dân tộc ít người ở các nước trên thế giới nói chung và ở Việt
Nam nói riêng thì mối quan hệ đó càng quan trọng hơn, thân thiết hơn. Có thể
nói, cho đến nay điều kiện tự nhiên vẫn là một lực lượng to lớn chi phối và
ảnh hưởng sâu sắc đến các hoạt động kinh tế, văn hoá, xã hội của đồng bào.
từng khu vực, từng địa phương, mỗi dân tộc đều tìm ra những biện pháp bảo
vệ môi trường sống của mình cho phù hợp và có hiệu quả.
Đối với các dân tộc ít người ở Việt Nam, trong điều kiện tự nhiên và
văn hoá - xã hội cụ thể, đồng bào cũng đã có những biện pháp riêng của mình.
Ngoài những quy định của hệ thống pháp luật bảo vệ tài nguyên và môi
trường, ở các địa phương, các tộc người đều có những biện pháp bảo vệ riêng
của mình mà một trong những biện pháp được coi là có hiệu quả nhất chính là
các điều khoản của Luật tục dân gian đã tồn tại hàng ngàn đời nay trong xã
hội của họ.
Để góp phần tìm hiểu thêm và chắt lọc từ những Luật tục đó những
điều khoản hay nhằm giúp cho việc bảo vệ các nguồn tài nguyên thiên nhiên
3
và môi trường trong xã hội các dân tộc ít người ở nước ta hiện nay, tôi chọn
đề tài: “Luật tục với việc bảo vệ tài nguyên và môi trường của một số dân
tộc ít người ở Việt Nam ” để làm luận văn thạc sĩ.
2. Phương pháp nghiên cứu:
Để thực hiện được đề tài này, tôi sử dụng một số phương pháp nghiên
cứu như sau:
- Sử dụng phương pháp duy vật biện chứng, kết hợp với việc sử dụng
các phương pháp nghiên cứu cụ thể như: sưu tầm, hệ thống và phân loại các
nguồn tư liệu đã thu thập được trong thực địa và qua các nguồn tư liệu thư
tịch do sách, báo cung cấp.
- Tiến hành đối chiếu, so sánh, phân tích và tổng hợp thành những vấn
đề liên quan đến đề tài, đồng thời khái quát và nêu bật những nội dung chính
của đề tài về cả lý luận lẫn thực tiễn. Từ đó có thể rút ra những vấn đề có giá
trị và thích hợp ứng dụng vào thực tiễn bảo vệ tài nguyên môi trường sinh
thái của các dân tộc ít người ở nước ta.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
Đối tượng chủ yếu của đề tài này nhằm giới thiệu và phân tích những
Xin trân trọng cảm ơn!
Hà Nội, tháng 5 - 2003
5
Chương 1
Khái quát về luật tục
của một số dân tộc ít người ở Việt Nam
1.1. Khái niệm luật tục
Hiện nay, khái niệm về Luật tục có nhiều quan niệm khác nhau của các
nhà luật học, văn hoá dân gian, dân tộc học…
Theo quan niệm của các nhà nghiên cứu luật học: Luật tục là những
phương ngôn, ngạn ngữ diễn đạt bằng lời nói có vần điệu, chứa đựng các quy
tắc xử sự, thể hiện, phản ánh quy chuẩn phong tục, tập quán, ý chí, nguyện
vọng của cộng đồng bảo đảm thực hiện trong cộng đồng dân tộc ít người,
được cộng đồng bảo đảm thực hiện. [45]
Đói với các nhà nghiên cứu văn hoá dân gian, các quan niệm của họ lại
đi sâu phân tích làm rõ nội hàm của luật tục. Thuật ngữ Luật tục hay tập quán
Nguyên nhân gây ra tình trạng này là do chính phủ thường rất tích cực trong
việc xây dựng một bộ luật chính thức để kiểm soát việc sử dụng tài nguyên
thiên nhiên trong khuôn khổ một quốc gia. Sức mạnh pháp lý và sự hiện hữu
của pháp luật thường làm lu mờ một thực tế là Luật tục liên quan đến tài
nguyên thiên nhiên có tồn tại hoặc nó có thể ảnh hưởng mạnh đến người dân
địa phương.
Luật tục chỉ là một trong nhiều hệ thống giá trị. Một trong các cách đơn
giản để khái niệm hoá luật pháp là phân chia nó thành các hệ thống luật pháp
chính: Luật thành văn, luật tôn giáo, Luật tục, luật địa phương hiện hành. Sự
7
phân loại này không có giới hạn hoàn toàn rõ ràng. Một số các quan hệ xã hội
chỉ nằm trong giới hạn của một hệ thống luật - như tham gia bầu cử các cấp
chính quyền, trong khi các lĩnh vực xã hội khác lại có thể bị tác động cả bởi
bốn hệ thống, như vấn đề thừa kế. Các hệ thống luật pháp này luôn biến đổi
và đan chéo nhau. Hơn nữa Luật tục hiện hành có thể ảnh hưởng đến việc
hình thành pháp luật và pháp luật có thể dẫn đến những sửa đổi trong Luật
tục. Có những Luật tục được nhà nước công nhận chính thức trong khi những
Luật tục khác không được thưà nhận. Và giữa Luật tục và luật tôn giáo cũng
có mối quan hệ như vậy. Nhà nước thường cho rằng pháp luật của mình đứng
trên hết các loại luật lệ khác, nhưng ở địa phương, Luật tục hoặc luật tôn giáo,
hoặc sự kết hợp cả hai luật này có thể tác động lớn hơn trong việc tổ chức
cuộc sống thường ngày của người dân. Luật tục cần phải được nghiên cứu
trong bối cảnh đa luật lệ và lĩnh vực nhân chủng học luật pháp đã phát triển
tới mức sẵn sàng để nghiên cứu mối tác động tương hỗ giữa các hình thức luật
pháp này [25].
Ngoài ra, còn nhiều ý kiến khác về khái niệm Luật tục, nhưng trên cơ
sở các quan điểm khác nhau đó, sau một thời gian dài tìm hiểu, nghiên cứu,
thảo luận, thông qua tại nhiều cuộc hội thảo quốc tế cũng như trong nước và
các cuộc thảo luận chuyên đề, các nhà khoa học nước ta tạm thời chấp nhận
Như vậy, Luật tục là một hệ thống các quy tắc xử sự mang tính dân
gian, quy định về mối quan hệ ứng xử của con người đối với môi trường tự
nhiên và con người với con người trong cộng đồng, thể hiện ý chí của toàn thể
cộng đồng, được thực hiện một cách tự giác, theo thói quen, nhưng vẫn có
tính cưỡng chế và bắt buộc đối với những ai không tuân theo. Luật tục là
những quy định của quần chúng trong cộng đồng đặt ra để điều hoà mối quan
9
hệ của tập thể cộng đồng một cách tự nguyện và dân chủ, không phải là luật lệ
do một tầng lớp người đặt ra và thực thi để bảo vệ quyền lợi của giai cấp
thống trị.
1.2. Nguồn gốc, nội dung và đặc điểm của Luật tục
1.2.1. Nguồn gốc của Luật tục
Theo các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác Lê Nin, từ xưa, trong xã hội
nguyên thuỷ chưa có pháp luật, nhưng xã hội cũng cần đến trật tự, ổn định để
tồn tại và phát triển. Do đó đã xuất hiện những quy tắc xử sự chung. Đây
chính là các quy phạm xã hội bao gồm tập quán và các tín điều tôn giáo. Tập
quán xuất hiện một cách tự phát, dần dần được cộng đồng chấp nhận và trở
thành quy tắc xử sự chung mang tính chất đạo đức và xã hội [60, 209].
Theo quan điểm của thuyết tiến hoá luận, con người là sản phẩm của tự
nhiên hay còn được coi là một sinh vật trong giới tự nhiên. Nhưng, ngay từ
lúc sinh ra, con người cũng đồng thời là một sinh vật mang tính xã hội hay
thường gọi là "sinh vật xã hội". Như vậy, trong bản thân con người tồn tại
phần con và phần người (bản năng và ý thức). Để điều chỉnh cuộc đấu tranh
giữa phần bản năng và ý thức, loài người ngay từ khi sinh ra đã cần đến
những "luật định" mang tính chất nguyên tắc để duy trì sự tồn vong của mình.
Những "luật định" đó dần dần đã được thể chế hoá bằng cơ chế tổ chức,
có hội đồng để thực hiện việc khen ngợi hoặc xử phạt với đủ sức mạnh để mọi
người tuân theo dưạ trên một quyền lực được cả cộng đồng thừa nhận.
Xét đến cùng, Luật tục sinh ra cùng với loài người và được bắt nguồn
thứ hai là mối quan hệ giữa con người với con người như về vấn đề hôn nhân
gia đình, quan hệ cộng đồng, quy định về tài sản, về những sai phạm Nói
11
chung, nội dung của Luật tục đã phản ánh được tất cả các lĩnh vực của đời
sống xã hội của các cộng đồng dân cư đó.
Hiện nay, Luật tục của các dân tộc ít người đã được sưu tầm và một số
đã được công bố. Qua các bộ Luật tục này chúng ta thấy sự phong phú của nội
dung Luật tục. Các bộ Luật tục đều được chia thành những chương quy định
về từng lĩnh vực cụ thể. Nội dung quan trọng nhất của Luật tục là duy trì,
củng cố quan hệ cộng đồng. Người ta quan tâm đến việc giữ gìn trật tự xã hội,
chống tệ ăn cắp, chống việc gây rối Để cho xã hội yên ổn Luật tục còn chú ý
đến việc giữ gìn các phong tục tập quán, các tục lệ Ngoài ra, vấn đề quan hệ
gia đình cũng được quan tâm chú ý. Những điều luật đặt ra chủ yếu nhằm
củng cố gia đình là nền tảng tạo nên sự ổn định bền vững cho xã hội. Quy
định chặt chẽ về quản lý, bảo vệ và sở hữu các nguồn tài nguyên thiên nhiên,
đây là môi trường sống chủ yếu của các dân tộc miền núi. Ví dụ: - Luật tục
Êđê gồm 11 chương và 236 điều, Luật tục M’nông gồm 8 chương và 215
điều, Luật tục Jrai gồm 15 chương …
Nội dung của Luật tục các dân tộc ít người được tập trung vào một số
nội lĩnh vực mà các cộng đồng tộc người quan tâm như sau:
1.2.2.1. Về Lĩnh vực tổ chức và quản lý cộng đồng:
Các dân tộc ít người thường có những thiết chế xã hội rất cơ bản, đó là
những tàn dư của hình thái công xã nguyên thuỷ. Nó vừa là một cộng đồng cư
trú, vừa là một tổ chức xã hội và văn hoá. Luật tục có những quy định về mối
quan hệ của người có vị trí quan trọng của cộng đồng vơí các thành viên đó là
các già làng, trưởng bản, người chủ buôn… và các chế định về những người
này thường được Luật tục quy định ở các chương đầu như trong luật tục Êđê
quy định các tội xúc phạm đến người đầu làng (33 điều chương II), quy định
các tội của người trưởng buôn (11 điều ở chương III). Các tội chống chủ làng
13
láng giềng, trách nhiệm của cá nhân trước các tai hoạ đe doạ sự bình yên của
cộng đồng.
1.2.2.3. Những quy định mang tính hình sự trong luật tục: Luật tục
không đưa ra khái niệm hành vi vi phạm, khái niệm tội phạm mà thông qua
việc mô tả hành vi vi phạm trong điều luật cụ thể để kết luận một người bị coi
là có tội và phải đưa ra xét xử, khi các hành vi do người đó thực hiện thoả
mãn những yếu tố của vi phạm đã được điều luật dự liêụ trước. Khai niệm về
tội có hầu hết trong các điều luật. Khai niệm này không đồng nghĩa với khái
niệm “tội phạm” mà chỉ là sự xác định một hành vi là đúng hay sai luật lệ,
đạo đức.Theo quan điểm của luật học, tội phạm chỉ xuất hiện và tồn tại trong
xã hội có phân chia giai cập. Trong xã hội cộng sản nguyên thuỷ nó được xem
là hiện tượng vi phạm, tiêu cực và được giải quyết bằng ý kiến tập thể với
những người có liên quan [43].
Còn về lỗi cũng được các luật tục rất chú ý, khái niệm lỗi ở đây được
gắn với ý chí, nhận thức của chủ thể và cũng có sự phân biệt giữa lỗi cố ý và
lõi vô ý. Lỗi cố ý: người vi phạm hiểu rõ tính chất và hậu quả do hành vi của
mình gây ra và mong muốn nó xảy ra (Điều 160 Luật tục M’nông). Lỗi vô ý:
người vi phạm không nhận thức được tính chất hành vi, hậu quả do mình gây
ra (Điều 166 – Luật tục M’nông).
Ngoài ta các khái niệm về chứng cứ, khái niệm đồng phạm, về chủ thể
vi phạm, các biện pháp xử phạt cũng được thể hiện trong các bộ luật tục của
các dân tộc ít người.
1.2.2.4. Vấn đề phong tục tập quán: Vấn đề tuân thủ, tôn trọng các
phong tục tập quán trong sinh hoạt đảm bảo tính thống nhất và ổn định của
mối quan hệ cộng đồng. Do vậy, trong Luật tục các dân tộc thường dành
nhiều điểm quy định về lĩnh vực này. Như Luật tục M’nông có tới 30 điều đề
cập đến phong tục tập quán như “tội vi phạm tập quán” , Điều tục lệ ăn uống,
14
thai…
1.2.2.6. Lĩnh vực quan hệ dân sự:
Quan hệ dân sự theo nghĩa rộng là những quan hệ rất cơ bản trong đời
sống cộng đồng. Luật tục của các dan tộc ít người chú trọng hơn về điều
chỉnh các quan hệ tài sản và sở hữu tài sản. Tìm hiểu Luật tục có thể thấy các
giao lưu dân sự thể hiện qua một số nội dung như xác định quyền sở hữu,
thừa kế, mua bán, trao đổi hàng hoá, vay mượn.
Chế độ sở hữu luôn là chế đinh trọng tâm của dân luật trong mọi thời
đại vì quan hệ dân sự gồm hai nhóm, nhóm quan hệ nhân thân và nhóm quan
hệ tài sản. Ba bộ phận hợp lại của quyền sở hữu là quyền chiếm hữu, quyền
sử dụng và quyền định đoạt được phân biệt rõ trong luật tục. Xác lập quyền sở
hữu là một nội dung đã đưa vào Luật tục các dân tộc. Quyền sở hữu được
Luật tục bảo vệ rất chặt chẽ qua hàng chục điều luật nhất là những điều luật
quy định về tội xâm phạm quyền sở hữu (từ điều 199 - điều 216, Luật tục
Êđê). Luật tục quy định về những kẻ giấu thuyền của người khác khi bị nước
cuốn đi mà không báo cho chủ thuyền biết (Điều 211, Luật tục Êđê), hoặc
điều luật về việc giấu giếm đồ vật bắt được (Điều 213, Luật tục Êđê)…
Luật tục còn quy định về các vấn đề như thừa kế, các nguyên tắc cơ bản
trong giao lưu dân sự, vấn đề năng lực hành vi dân sự, giao dịch dân sự, bồ
thường thiệt hại…
1.2.2.7. Lĩnh vực quản lý và sử dụng đất đai, bảo vệ tài nguyên, môi
trường.
Ngoài các quy định về các quan hệ cộng đồng, quan hệ dân sự, hôn
nhân gia đình… vấn đề quản lý, và sử dụng đất đai, bảo vệ nguồn tài nguyên,
moi trường cũng được Luật tục các dân tộc đề cập đến rất nhiều.
16
Về vấn đề sở hữu đất đai, đây là vấn đề mà Luật tục có rất nhiều quy
định như ở chương XI từ Điều 239 đến 236 Luật tục Êđê. Như các quy định
về chăm nom đất đai, không được để mất người chủ đất, quyền lợi của người
Một trong những vấn đề cũng không kém phần quan trọng trong Luật
tục của các dân tộc là vấn đề quản lý, bảo vệ đất đai, tài nguyên, môi trường.
Các lĩnh vực này được gắn liền với cuộc sống hàng ngày của họ, họ phải dựa
vào núi rừng, sông suối để sống. Với vị trí vai trò quan trọng như vậy, bắt
buộc họ phải có những quy định chặt chẽ về bảo vệ, quản lý, sử dụng các
nguồn tài nguyên môi trường.
1.2.3. Đặc điểm của Luật tục
Luật tục của các dân tộc ít người có những đặc điểm chung như sau:
- Theo PGS.TS Ngô Đức Thịnh [53], Luật tục chưa phải là “luật” và tất
nhiên nó cũng không phải hoàn toàn là “tục” mà là hình thức trung gian giữa
Luật và Tục, hay nói cách khác nó là hình thức phát triển cao của phong tục,
tập quán và là hình thức sơ khai, hình thức tiền pháp luật. Vì vậy hình thức
Luật tục này phù hợp với xã hội tiền công nghiệp, phù hợp với các cộng đồng
nhỏ hẹp, gắn với từng nhóm tộc người, từng địa phương cụ thể.
- Khác với luật pháp, Luật tục cũng là một bộ phận của hệ thống văn
hoá cổ truyền, nó ra đời, biến đổi và tham gia điều chỉnh các hành vi của cá
nhân và cộng đồng dưới sự tác động của hệ thống xã hội và văn hoá tộc
người, nó trở thành tình cảm, lương tâm và trách nhiệm thiêng liêng của mỗi
thành viên với cộng đồng mà trước hết là cộng đồng gia tộc, dòng họ, làng xã.
Nó không phải là sự áp đặt của hệ thống cai trị đối với mỗi cá nhân, mà là sự
tự nguyện, tự giác của mỗi cá nhân với tư cách là chủ nhân của cộng đồng ấy.
Đây là một thứ văn hoá có tính pháp luật, thông qua văn hoá để điều chỉnh
18
các hành vi của cá nhân trong cộng đồng. Do vậy, việc nhận thức và thực thi
các quy định của Luật tục dễ đi vào tâm tư tình cảm của nhân dân, khiến mọi
người tự giác thực hiện chứ không phải là dùng mệnh lệnh, cưỡng chế, áp đặt
từ bên ngoài.
- Luật tục mang tính đặc thù, tính địa phương và tính đa dạng. Như
chúng ta thấy mỗi làng người Việt có một bản hương ước riêng, mỗi nhóm địa
được xây dựng, hoàn thiện, lưu truyền qua nhiều thế kỷ.
Theo TS. Hoàng Thị Kim Quế [43], Luật tục không phải là một sản
phẩm của riêng một tầng lớp trong xã hội, nó phản ánh ý chí chung của mọi
thành viên trong xã hội qua nhiều thế hệ. Luật tục đưa ra những quy phạm
trên cơ sở quan niệm đạo đức xã hội, phản ánh nguyện vọng và chuẩn mực
ứng xử chung nhằm giáo huấn về một lối sống thuần phong mỹ tục theo quan
niệm của mình. Tinh thần của Luật tục là đưa ra những quy phạm để giải
quyết có lý có tình những mâu thuẫn, để răn đe, giáo dục. Sự trừng phạt chỉ
đặt ra khi không thể cải biến được một người xấu và hình thức phạt phần lơns
mang tính nhắc nhở, giáo dục chứ không chú trọng trừng phạt. Có điều luật
hoàn toàn không có chế tài. Như vậy tính giai cấp không tồn tại trong Luật tục
mà chỉ có tính xã hội chiếm phần nhiều.
Với những đặc điểm đặc trưng như vậy, Luật tục có một vị trí và vai trò
rất quan trọng trong đời sống cộng đồng các dân tộc, đặc biệt là các dân tộc ít
người miền núi.
1.3. Vai trò của Luật tục trong đời sống các dân tộc ít người ở Việt Nam
Luật tục, với ý nghĩa là tri thức dân gian về quản lý cộng đồng, có vai
trò rất lớn trong xã hội, nhất là xã hội tiền giai cấp. Luật tục có thể là thành
văn hay bất thành văn, có thể được định danh khác nhau, như hương ước của
20
người Việt, tập quán pháp của một số dân tộc Tây Nguyên hay quy ước của
một số dân tộc tại miền núi phía Bắc, nhưng đều hàm chứa những quy định
liên quan tới nhiều mặt của đời sống cộng đồng và bắt buộc các thành viên
phải tuân theo. Những quy định ấy, căn bản bảo đảm lợi ích của chung của
cộng đồng, được mọi người thông qua và cam kết thực hiện. Ai làm trái Luật
tục sẽ bị xử phạt hoặc bị cộng đồng lên án, tẩy chay.
Luật tục là một hình thức đặc biệt của văn hoá, đã góp phần quan trọng
trong việc tạo nên những bản sắc văn hoá độc đáo của các dân tộc đó. Được
hình thành, tích luỹ trong quá trình lịch sử phát triển của dân tộc, qua kinh
làng; quan hệ nam nữ, quan hệ gia đình (quan hệ vợ chồng, cha mẹ và con
cái); việc giữ gìn trật tự trị an trong bản làng…
Luật tục còn quy định về việc quản lý, bảo vệ, khai thác nguồn tài
nguyên thiên nhiên, thể hiện qua việc quy định rất cụ thể về vấn đề sở hữu
nguồn tài nguyên thiên nhiên nhằm mục đích là bảo vệ tốt nguồn tài nguyên,
thiên nhiên; tổ chức sản xuất tốt và phân phối hợp lý các nguồn tài nguyên,
thiên nhiên, khẳng định quyền sở hữu cộng cộng của cộng đồng làng bản về
đất canh tác, đất rừng, sông suối vàg các tài nguyên thuộc về lãnh thổ của
làng bản mình. Trong các Luật tục đều ghi rõ cột mốc làm ranh giới phân chia
đất đai giữa bản này với bản khác và các mường (đối với người Thái)
Luật tục Êđê quy định rõ về quyền của mọi người trong cộng đồng như
“ Chúng ta ai cũng có quyền đốt rẫy, bắt cá ở bất cứ nơi nào.
Ai cũng có quyền trèo lên cây lấy mật ở bất cứ rừng thấp, bở bụi nào.
Ai cũng có quyền đốt rừng, săn thú, bắt cá không phải kiêng cữ gì”
22
Theo PGS. Phan Đăng Nhật [38], Luật tục là một di sản quý báu, có tác
dụng giáo dục những phẩm chất tốt đẹp, Luật tục dạy con người sống ngay
thẳng, thật thà, không làm điều gian dối, không tà tâm, quan tâm đến tập thể
cộng đồng, phải tuân theo quy định của cộng đồng kể cả khi điều đó gây thiệt
hai cho lợi ích cá nhân, mục tiêu là góp phần giữ gìn sự bền chặt của cộng
đồng. Con người không tham lam, tôn trọng tài sản của người khác. Đó chính
là bản sắc văn hoá, văn hoá đạo đức của dân tộc ít người.
Luật tục không chỉ là những lời khuyên bảo mà nó còn có cơ chế tổ
chức, bồi dưỡng, rèn luyện, động viên, khen thưởng và trừng phạt. Do đó, nó
cũng có vai trò quan trọng trong việc giáo dục con người cũng như trong việc
quản lý xã hội.
Đặc biệt, trong sự phát triển của nước ta hiện nay, đời sống của đồng
bào các dân tộc ít người ngày càng có nhiều biến chuyển kể cả mặt tích cực
cũng như mặt tiêu cực. Tệ nạn xã hội và tội phạm ở các vùng này ngày một