Lut tc vi vic bo v ti nguyờn v mụi
trng ca mt s dõn tc ớt ngi Vit Nam
Hong Vn Quynh
Khoa Lut
Lun vn Thc s ngnh: Lý lun Nh nc v Phỏp quyn; Mó s: 5 05 01
Ngi hng dn: TS. Hong Th Kim Qu
Nm bo v: 2003
Abstract: Khỏi quỏt v lut tc ca mt s dõn tc thiu s Vit Nam. Nhng quy
nh ca lut tc v bo v ti nguyờn v mụi trng ca mt s dõn tc ớt ngi. Phõn
tớch nhng nột c bn v lut tc v h thng phỏp lut bo v mụi trng Vit Nam
hin nay.
Keywords: Dõn tc thiu s; Lut dõn gian; Lut tc; Vit Nam; Vn hoỏ dõn gian
Content
Lời mở đầu
1. Tính cấp thiết của đề tài:
Tài nguyên thiên nhiên và môi tr-ờng sinh thái là nền tảng cơ bản nhất để con ng-ời
có thể sinh tồn. Ngay từ khi mới ra đời, con ng-ời với thế giới tự nhiên đã trở thành một khối
thống nhất không thể tách rời. Có thể nói trong lịch sử tiến hoá và phát triển của mình, con
ng-ời ch-a bao giờ và không thể b-ớc ra khỏi môi tr-ờng tự nhiên xung quanh mình. Bởi vì,
thực chất con ng-ời cũng là một sinh vật của tự nhiên mà lại là một loại sinh vật có ý thức.
Cho nên, mối quan hệ giữa con ng-ời và tự nhiên mãi mãi vẫn sẽ là quan hệ sống còn.
Thực tế hiển nhiên đó đã khiến loài ng-ời nói chung và các dân tộc ít ng-ời phải có cách
ứng xử với tự nhiên một cách hợp lý. Thế ứng xử khôn khéo nhất, thông minh nhất ở đây là
tạo ra sự hài hoà giữa con ng-ời và thế giới tự nhiên. Để giữ đ-ợc sự hài hoà đó một cách bền
vững, con ng-ời đã sáng tạo ra những nguyên tắc, cách ứng xử đ-ợc gọi là Luật tục , đ-ợc áp
Đối t-ợng chủ yếu của đề tài này nhằm giới thiệu và phân tích những vấn đề chung nhất về
Luật tục và một số quy định cụ thể của Luật tục của một số dân tộc ít ng-ời ở Việt Nam về
vấn đề bảo vệ tài nguyên và môi tr-ờng. Vì vậy, phạm vi nghiên cứu của đề tài cũng chỉ tập
trung phân tích vào những quy định của Luật tục bảo vệ thế giới tự nhiên chứ không giới thiệu
tất cả Luật tục liên quan đến vấn đề xã hội các dân tộc ít ng-ời. Ngoài ra, đề tài còn phân tích
những nét cơ bản nhất về Luật tục và hệ thống pháp luật bảo vệ môi tr-ờng ở Việt Nam hiện
nay. Qua đó, có thể khẳng định rằng, Luật pháp nhà n-ớc là rất cần thiết và quan trọng trong
sự phát triển đất n-ớc, của cộng đồng dân tộc. Cùng với sự thực hiện một cách đúng đắn và
nghiêm chỉnh những quy định của luật pháp do Nhà n-ớc ban hành thì việc duy trì, bảo vệ và
phát triển các Luật tục thích hợp về bảo vệ tài nguyên môi tr-ờng trong đời sống của đồng bào
các dân tộc ít ng-ời vẫn đ-ợc coi là những biện pháp cấn thiết làm cho đất n-ớc, cho cộng
đồng phát triển một cách bền vững và lâu dài.
4. Bố cục của luận văn:
Trên cơ sở những t- liệu đã có, luận văn đ-ợc bố cục thành ba ch-ơng. Ngoài lời mở đầu,
kết luận và phần phụ lục, nội dung luận văn đ-ợc trình bày nh- sau:
- Ch-ơng 1: Khái quát về Luật tục của một số dân tộc ít ng-ời ở Việt Nam.
- Ch-ơng 2 : Những quy định của Luật tục về bảo vệ tài nguyên và môi tr-ờng của một số dân
tộc ít ng-ời ở Việt Nam
- Ch-ơng 3 : Luật tục và pháp luật về bảo vệ tài nguyên và môi tr-ờng ở Việt Nam .
Ch-ơng 1
Khái quát về luật tục
của một số dân tộc ít ng-ời ở Việt Nam
3
1.1. Khái niệm luật tục
Hiện nay, khái niệm về Luật tục có nhiều quan niệm khác nhau của các nhà luật học, văn
hoá dân gian, dân tộc học đã có rất nhiều cuộc Hội thảo trao đổi về vấn đề này.
Trên cơ sở các quan niệm khác nhau đó, sau một thời gian dài tìm hiểu, nghiên cứu,
hiện chức năng trên, rất đa dạng, đơn giản tuỳ thuộc vào điều kiện cụ thể của từng dân tộc.
4
Theo TS. Lê Hồng Sơn, Luật tục của đồng bào các dân tộc có nguồn gốc ra đời từ xã hội thị
tộc mẫu hệ. Trong quá trình tồn tại, phát triển của cộng đồng, các thói quen trong suy nghĩ,
ứng xử, các quy chuẩn điều chỉnh hành vi của các thành viên hình thành nên một hệ thống
phong tục, tập quán phong phú. Một bộ phận quan trọng nhất, cơ bản, thiết yếu nhất của
phong tục tập quán có ý nghĩa sống còn đối với cộng đồng đ-ợc nâng lên thành Luật tục.
Những nội dung này chủ yếu đ-ợc ghi nhớ chủ yếu d-ới dạng không thành văn, đ-ợc l-u
truyền, hoàn thiện dần từ đời này qua đời khác bằng cách truyền miệng mà ng-ời có trách
nhiệm giữ gìn, hoàn thiện, l-u truyền chính là các già làng, chủ đất, chủ bến n-ớc, thầy cúng,
thầy mo. Là kết tinh, là linh hồn, cốt lõi của phong tục, tập quán. Từ sự l-u truyền đó đã
đ-ợc các nhà khoa học trong và ngoài n-ớc s-u tầm, ghi chép, tổng hợp lại thành một số bộ
Luật tục của một số dân tộc hiện nay.
1.2.2. Nội dung của Luật tục
Luật tục dù tồn tại ở hình thức nào, nội dung của Luật tục về cơ bản tập trung giải
quyết hai vấn đề chính của xã hội loài ng-ời là mối quan hệ giữa con ng-ời với tự nhiên và
giữa con ng-ời với con ng-ời. Trong đó, nội dung thứ nhất liên quan đến những quy định về sở
hữu tự nhiên (đất đai, rừng núi, sông suối ), bảo vệ và khai thác, phát huy thế mạnh của tự
nhiên. Nội dung thứ hai là mối quan hệ giữa con ng-ời với con ng-ời nh- về vấn đề hôn nhân
gia đình, quan hệ cộng đồng, quy định về tài sản, về những sai phạm Nói chung, nội dung
của Luật tục đã phản ánh đ-ợc tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội của các cộng đồng dân
c- đó.
Hiện nay, Luật tục của các dân tộc ít ng-ời đã đ-ợc s-u tầm và một số đã đ-ợc công
bố. Qua các bộ Luật tục này chúng ta thấy sự phong phú của nội dung Luật tục. Các bộ Luật
tục đều đ-ợc chia thành những ch-ơng quy định về từng lĩnh vực cụ thể. Nội dung quan trọng
nhất của Luật tục là duy trì, củng cố quan hệ cộng đồng. Ng-ời ta quan tâm đến việc giữ gìn
trật tự xã hội, chống tệ ăn cắp, chống việc gây rối Để cho xã hội yên ổn Luật tục còn chú ý
đến việc giữ gìn các phong tục tập quán, các tục lệ Ngoài ra, vấn đề quan hệ gia đình, quan
hệ dân sự, hình sự cũng đ-ợc quan tâm chú ý. Những điều luật đặt ra chủ yếu nhằm củng cố
những quy định liên quan tới nhiều mặt của đời sống cộng đồng và bắt buộc các thành
viên phải tuân theo. Những quy định ấy, căn bản bảo đảm lợi ích của chung của cộng
đồng, đ-ợc mọi ng-ời thông qua và cam kết thực hiện. Ai làm trái Luật tục sẽ bị xử phạt
hoặc bị cộng đồng lên án, tẩy chay.
Hệ thống Luật tục có thể đ-ợc coi là một hình thái luật pháp sơ khai, đ-ợc đồng bào
các dân tộc sáng tạo nên và hoàn chỉnh nó qua nhiều thế hệ. Nó xác lập vị trí của mỗi cá nhân
trong cộng đồng, hình thành nên mối quan hệ giữa từng thành viên trong cộng đồng với nhau,
giữa cá nhân và cộng đồng, góp phần quản lý cộng đồng một cách chặt chẽ, hiệu quả trong
qua khứ và vẫn tiếp tục giữ vai trò đáng kể trong đời sống hiện nay. Nh- chúng ta thấy, trong
các Luật tục vấn đề quản lý cộng đồng, điều hoà các mối quan hệ xã hội rất đ-ợc chú trọng và
quy định chặt chẽ và là nội dung cơ bản của bất cứ bản Luật tục nào. Ví dụ, nh- Luật tục Êđê
có tới 156/236 điều, Luật tục M nông có 196/ 214 điều điều chỉnh các quan hệ xã hội và
6
phong tục tập quán. Theo quan niệm truyền thống, một xã hội khoan hoà, một nền văn hoá tốt
đẹp sẽ là gốc rễ của mọi sự phồn vinh.
Ngoài ra, Luật tục còn quy định rất chặt chẽ, cụ thể về việc xây dựng các mối quan hệ
trong xã hội, nh-: xây dựng mối quan hệ cộng đồng, làng bản (buôn) dựa trên nguyên tắc bình
đẳng, t-ơng trợ, đoàn kết; xây dựng mối quan hệ giữa thủ lĩnh, ng-ời đứng đầu làng và dân
làng; quan hệ nam nữ, quan hệ gia đình (quan hệ vợ chồng, cha mẹ và con cái); việc giữ gìn
trật tự trị an trong bản làng ; Luật tục còn quy định về việc quản lý, bảo vệ, khai thác nguồn
tài nguyên thiên nhiên,
Luật tục là một di sản quý báu, có tác dụng giáo dục những phẩm chất tốt đẹp, Luật
tục dạy con ng-ời sống ngay thẳng, thật thà, không làm điều gian dối, không tà tâm, quan tâm
đến tập thể cộng đồng, phải tuân theo quy định của cộng đồng kể cả khi điều đó gây thiệt hai
cho lợi ích cá nhân, mục tiêu là góp phần giữ gìn sự bền chặt của cộng đồng.
Luật tục không chỉ là những lời khuyên bảo mà nó còn có cơ chế tổ chức, bồi d-ỡng,
rèn luyện, động viên, khen th-ởng và trừng phạt.
Nhận định về vai trò của Luật tục các dân tộc ít ng-ời ở n-ớc ta, Bộ tr-ởng Bộ T- pháp
Nguyễn Đình Lộc khẳng định: Nói Luật tục tức là nói đến phong tục tập quán đã hình thành
tộc, trong đó có 53 dân tộc là các dân tộc ít ng-ời. Các dân tộc này chủ yếu sống ở miền núi,
nh- miền núi Tây Bắc, Đông Bắc, Dãy Tr-ờng Sơn và Tây Nguyên. Đây là những nơi tập
trung nhiều tài nguyên thiên nhiên quý của đất n-ớc với hành chục ngàn loài thực vật và đất
rừng phù hợp với trồng cây công nghiệp; các nguồn khoáng sản nh- than đá, quặng kim loại
ở n-ớc ta, miền núi và cao nguyên chiếm 3/4 diện tích cả n-ớc, là nơi c- trú chủ yếu
của đồng bào các dân tộc ít ng-ời. ở đây có rất nhiều tiềm năng về kinh tế. Trong thời gian
gần đây với quá trình đô thị hoá diễn ra ở khắp mọi nơi, môi tr-ờng, tài nguyên thiên nhiên bị
xâm chiếm ngày một tăng, đời sống ngày càng bị xáo trộn, nh-ng các dân tộc ít ng-ời miền
núi n-ớc ta vẫn hầu hết sinh tụ ở các vùng núi và vẫn luôn bám lấy rừng núi, dựa vào rừng núi,
sông suối mà sinh sống, vẫn dựa vào thiên nhiên là chủ yếu.
Nói chung, cho đến nay đời sống kinh tế, văn hoá-xã hội của các dân tộc ít ng-ời miền
núi vẫn dựa vào thiên nhiên là chính.
Đa số các dân tộc c- trú ở vùng cao từ Bắc vào Nam đều lấy n-ơng làm rẫy làm nguồn
sống chính và để làm n-ơng rẫy lại phải dựa vào thiên nhiên, vào rừng núi. Với việc việc dựa
vào núi rừng chính nh- vậy, họ phải tìm mọi cách để bảo vệ, khai thác sao cho hợp lý, không
mất đi nguồn sống chính của họ.
Khi rừng còn nhiều, sông suối còn nhiều ốc, cá, săn bắt và hái l-ợm cũng thu đ-ợc
nhiều sản phẩm phong phú, giá trị. Tr-ớc đây, cũng nh- hiện nay, trong cuộc sống của đồng
bào các dân tộc ít ng-ời, môi tr-ờng tự nhiên vẫn đóng một vị trí vai trò quan trọng, không thể
thiếu đ-ợc nh- muốn làm một cái nhà cũng phải vào rừng rồi làm cây sáo, cây khèn, lấy củi
đốt, lấy lá cây rừng làm thuốc, các loại củ, măng làm thức ăn đều phải vào rừng, ra sông
suối.
2.2. Một số quy định truyền thống dân gian về tài nguyên và môi tr-ờng trong Luật tục.
Luật tục là một kho tàng tri thức về tài nguyên và môi tr-ờng sinh thái. Đó là tri thức
về các loại đất đai, rừng núi, sông suối, động thực vật Những tri thức đó đ-ợc chắt lọc, đúc
rút thành kinh nghiệm và sự hiểu biết hàng nghìn đời của các dân tộc ít ng-ời. Trong Luật tục
Êđê, M'nông, trong số hơn 200 điều luật thì hầu nh- không có điều luật nào lại không có bóng
8
dáng của cây cỏ, chim thú. Bởi vì, để nói về con ng-ời và quan hệ, hành vi của con ng-ời,
thông qua các điều khoản trong Luật tục của họ.
2.4. Các quy định xác định quan hệ sở hữu về tài nguyên và môi tr-ờng trong Luật tục.
2.4.1. Một số quan niệm của đồng bào về vấn đề sở hữu
Vấn đề sở hữu luôn là vấn đề có ý nghĩa to lớn đối với sự tồn tại và phát triển của bất kỳ tộc
ng-ời nào, trong bất cứ một chế độ xã hội nào. Đối với các tộc ng-ời ở n-ớc ta vấn đề sở hữu
9
nguồn tài nguyên thiên nhiên liên quan trực tiếp đến hai ph-ơng diện: xác định các quan hệ
sở hữu đối với nguồn tài nguyên thiên nhiên chính là nhân tố cơ bản để bảo vệ các nguồn tài
nguyên thiên nhiên ấy; xác định quan hệ sở hữu liên quan trực tiếp tới các hình thức tổ chức
sản xuất và phân phối các nguồn của cải vật chất mà con ng-ời tạo ra.
Trong Luật tục của một số dân tộc ít ng-ời họ th-ờng quan niệm về sở hữu nh-: con
ng-ời, với tính cách là một thực thể xã hội, chỉ có thể tồn tại và phát triển khi có những cơ sở
vật chất nhất định. Sở hữu đ-ợc hiểu chính là việc chiếm giữ những sản vật tự nhiên, những
thành quả lao động (ngày nay còn gồm cả những t- liệu sản xuất) của xã hội hội loài ng-ời. ở
các dân tộc ít ng-ời n-ớc ta từ lâu đã hình thành nên những quy định về quan hệ sở hữu, chiếm
hữu đối với của cải vật chất, trong đó có các tài nguyên thiên nhiên nơi mà họ sinh sống. Việc
xác định quyền sở hữu và chiếm hữu đối với các nguồn tài nguyên này chính là cơ sở để cộng
đồng có thể quản lý và sử dụng tốt hơn, có hiệu quả hơn đối với các nguồn tài nguyên thiên
nhiên và môi tr-ờng. Điều này đ-ợc thể hiện rất rõ thông qua các quy định về quan hệ sở hữu
trong các bộ Luật tục của một số dân tộc ít ng-ời ở Việt Nam.
Về vấn đề sở hữu này, ở mỗi dân tộc, tuỳ theo sự phát triển của mỗi cộng đồng dân tộc
mà có các quy định về quan hệ sở hữu khác nhau. ở đây hầu nh- ch-a có các quan hệ sở hữu
về tài sản, mà chủ yếu chỉ xác định quyền sở hữu đối với tài nguyên thiên nhiên, nh- đất đai,
rừng núi, sông suốiNh-ng các quan hệ sở hữu này lại là sở hữu chung của cả cộng đồng, của
cá nhân, gia đình đối với vùng đất, vùng rừng của cộng đồng dân tộc đó.
2.4.2. Sở hữu chung (sở hữu tập thể):
Sở hữu tập thể đ-ợc xác lập trên mọi ph-ơng diện, mọi lĩnh vực. Trong phạm vi lãnh
thổ của làng, buôn đ-ợc xác định, tất cả những gì thuộc phạm vi này dù là tự nhiên hay nhân
tạo đều thuộc về làng, buôn th-ờng đ-ợc lấy các vật chuẩn tự nhiên để làm mốc. Nh- dòng
nhau đ-ợc truyền từ đời này sang đời khác, ăn sâu vào trong ý thức của con ng-ời, nh- việc
thiêng hoá các nguồn tài nguyên thiên nhiên.
Với việc thiêng hoá này , từ lâu các dân tộc ít ng-ời đã hình thành một quan niệm
trong dân gian là đất đai, rừng núi, nguồn n-ớc, cây cối, động thực vật đều chứa đựng những
linh hồn , có các vị thần cai quản. Bởi vậy, khi con ng-ời do có nhu cầu xâm phạm tới đều
phải có lời cầu khấn, phải thực hiện các nghi lễ, phải tuân thủ các tập tục nghiêm ngặt, thậm
chí trong một số tr-ờng hợp con ng-ời hoàn toàn không đ-ợc xâm phạm tới. Các quan niệm
trên đã đ-ợc phản ánh rõ trong Luật tục và điều đó đã góp phần quan trọng vào việc bảo vệ
các nguồn tài nguyên thiên nhiên và môi tr-ờng sinh thái. Nói cách khác, con ng-ời đã lợi
dụng thế giới siêu nhiên, thế giới tâm linh để bảo vệ nguồn tài nguyên của chính nơi cộng
đồng họ sinh sống.
Với việc quy định mọi lỗi lầm của con ng-ời, từ l-ời nhác, trộm cắp, loạn luân, tức là
con ng-ời làm những điều xấu đều để lại hậu quả làm cho đất đai, rừng rú, nguồn n-ớc bị ô
uế , khiến cho thần linh tức giận và trừng phạt.
2.5.2. Các quy định của Luật tục về bảo vệ tài nguyên và môi tr-ờng.
2.5.2.1. Vấn đề quản lý, bảo vệ và khai thác tài nguyên rừng
Rừng không thể thiếu đ-ợc trong đời sống của các dân tộc ít ng-ời. Do đó, họ đã có
những quy định rất chặt chẽ, cụ thể về cách thức quản lý, khai thác và bảo vệ rừng, đ-ợc thể
hiện trong các bộ Luật tục. Mặc dù ở mỗi nơi, mỗi dân tộc đều có những cách thức bảo vệ
11
khác nhau nh-ng nó rất phù hợp với điều kiện sống của từng cộng đồng đó. Trong Luật tục có
các quy định về bảo vệ rừng nh-:
- Các quy định về nạn cháy rừng: đã từ rất lâu các dân tộc ít ng-ời ở n-ớc ta đã rất chú
ý tới vấn đề cháy rừng trong việc quản lý và bảo vệ rừng. Vả lại, các dân tộc ít ng-ời th-ờng
canh tác n-ơng rẫy nên cháy rừng luôn là mối đe doạ th-ờng xuyên. Do đó, ở các Luật tục
th-ờng có những quy định rất chi tiết về vấn đề này.
Ngoài ra, các cách thức bảo vệ, khai thác và sử dụng tài nguyên rừng cũng đ-ợc các
Luật tục quy định rất cụ thể, việc vi phạm những điều luật về bảo vệ rừng bị xử phạt nghiêm
khắc. Thông th-ờng đồng bào quan niệm rừng, môi tr-ờng thiên nhiên là tài sản chung của tất
tại cho đến ngày nay. Nh-ng cũng chính là từ kết quả của quá trình đó đang đặt ra tr-ớc mắt
chúng ta yêu cầu bảo vệ rừng và đất rừng nh- là một trong những nhiệm vụ cấp bách nhất, có
liên quan trực tiếp đến việc bảo vệ môi tr-ờng tự nhiên và môi tr-ờng văn hoá của tất cả các
c- dân. Tr-ớc tình hình đó, Nhà n-ớc ta đã ban hành khá nhiều văn bản pháp luật về bảo vệ
rừng, đất rừng, đất đai nói chung nh-ng hiệu quả đạt đ-ợc lại không đ-ợc nh- ý muốn. Trong
khi đó, ở các dân tộc ít ng-ời miền núi n-ớc ta có rất nhiều kinh nghiệm, phong tục tập quán
trong việc bảo vệ tài nguyên đất. Nhiều dân tộc đã hình thành những bộ Luật tục và có những
quy định về bảo vệ đất đai rất cụ thể mà chủ yếu là đất rừng.
Trong Luật tục Êđê đã có hẳn một ch-ơng quy định về đất đai và ng-ời chủ đất, nh- về
chăm nom đất đai, không để mất ng-ời chủ đất, quyền hạn, quyền lợi và nhiệm vụ của ng-ời
chủ đất, về việc lấn chiếm đất đai, xâm phạm đất đai. Họ coi:
Luật tục M nông quy định về bảo vệ, quản lý đất đai, nh- quy định về tội bán đất rừng:
Bán đất bon làng khiếu nại; Bán rẫy lúa mất đất làm khổ con cháu hoặc Bán đất, rừng
có tội với con cháu .
2.5.2.4. Quản lý, bảo vệ và khai thác động thực vật
Cũng nh- việc quản lý, bảo vệ các nguồn tài nguyên môi tr-ờng khác, động thực vật
cũng đ-ợc các dân tộc ít ng-ời miền núi n-ớc ta quản lý, bảo vệ và khai thác rất hiệu quả bằng
các phong tục tập quán, Luật tục truyền thống từ rất lâu.
Trong Luật tục M nông có khá nhiều điều luật liên quan đến các loại động thực vật,
nh- trong quan hệ sở hữu, tài sản, các điều luật đã đề cập đến việc bảo vệ, gìn giữ động thực
vật quý hiếm.
Nếu ng-ời nào săn bắn làm chết các loài thú hiếm, Luật tục buộc ng-ời đó phải nộp phạt
rất nặng để tạ tội với thần linh.
Ngoài ra, việc bắt cá bằng cách đánh thuốc, chập điện nh- hiện nay cũng bị coi là một
trọng tội, phải nghiêm cấm vì nó huỷ hoại môi tr-ờng sống của các sinh vật khác. Vấn đề này
đ-ợc Luật tục M nông quy định trong điều Tội thuốc cá: Thuốc cá làm suối nghèo; Muốn ăn
ếch phải dùng ná bắn; Muốn ăn cá dùng rổ mà vớt tức là làm gì cũng phải bảo vệ nòi giống,
không đ-ợc giết hàng loạt Làm chết sạch cả tép, cả cua; Ai thuốc cá có tội với làng; Tội
thuốc cá không ai đền nổi (Luật tục M nông - Điều Tội thuốc cá suối)
Về vấn đề này Luật tục Gia Lai cũng có những điều luật quy định chặt chẽ, nh-: việc bảo
thực tế hai hệ thống pháp luật của Nhà n-ớc về bảo vệ tài nguyên môi tr-ờng và những quy
định của Luật tục của đồng bào các dân tộc tiểu số miền núi về bảo vệ môi tr-ờng đã đặt ra
một vấn đề hết sức bức xúc và có tính thời sự là xác định vị trí của các hệ thống này, đồng thời
làm rõ mối quan hệ giữa chúng trong việc điều chỉnh các quan hệ về tài nguyên, môi tr-ờng
sinh thái nh- là một vấn đề cấp bách, cần thiết trong việc bảo vệ tài nguyên môi tr-ờng sinh
thái ở n-ớc ta hiện nay.
Luật tục là công cụ điều chỉnh và điều hoà các giá trị xã hội giữa cá nhân với cá nhân, cá
nhân với gia đình - dòng họ, cá nhân với buôn làng, với xã hội đặc biệt là giữa cá nhân với môi
tr-ờng tự nhiên
Tính quy phạm của Luật tục về bảo vệ tài nguyên môi tr-ờng rất đơn giản, không chặt chẽ
và tính c-ỡng chế của Luật tục đ-ợc thực hiện chủ yếu do tự giác, và nếu phải c-ỡng chế thì
đó cũng là sự c-ỡng chế của cộng đồng.
Về hình thức, Luật tục về bảo vệ tài nguyên môi tr-ờng chỉ là những quy định nằm rải rác ở
các ch-ơng trong các Luật tục hoặc chỉ là những tập tục truyền thống và nó đ-ợc l-u truyền
chủ yếu bằng miệng thông qua các lời nói có vần nh- bài hát, hát cúng, tr-ờng ca hoặc
qua hoạt động thực hành xã hội, thậm chí có những Luật tục đã đ-ợc văn bản hoá, song nhìn
chung đều có kết cấu đơn giản đ-ợc nhận thức bởi trực giác, cảm nhận của con ng-ời tr-ớc
các hiện t-ợng thiên nhiên.
Nh- vậy, giữa Luật tục và luật pháp nói chung cũng nh- Luật tục và pháp luật bảo vệ tài
nguyên môi tr-ờng, tuy có khác nhau về thang bậc, trình độ phát triển, phạm vi và hiệu lực
điều chỉnh các mối quan hệ xã hội nh-ng lại cùng thực hiện vai trò duy trì và ổn định trật tự xã
hội, điều chỉnh và điều hoà các mối quan hệ xã hội cũng nh- việc bảo vệ các nguồn tài nguyên
thiên nhiên và môi tr-ờng.
14
Trong mối quan hệ với pháp luật, giá trị của Luật tục đ-ợc thể hiện ở chỗ Luật tục trong
những phạm vi nhất định và ở một số lĩnh vực nhất định có khả năng hỗ trợ rất cao cho pháp
luật; Luật tục có vai trò bổ sung và tác dụng hỗ trợ cho pháp luật trong những điều kiện, lĩnh
vực nhất định.
Nh- vậy, trong một số lĩnh vực nhất định vai trò bổ trợ của Luật tục có ý nghĩa rất quan
Tr-ớc đây, Luật bảo vệ môi tr-ờng với t- cách là một ngành luật riêng ch-a xuất hiện,
vấn đề sử dụng tài nguyên và bảo vệ môi tr-ờng chỉ đ-ợc quy định riêng lẻ, không đồng bộ ở
các văn bản pháp luật, nh- Sắc lệnh số 142 của Chủ tịch n-ớc ban hành ngày 21/12/1946 quy
định về việc kiểm soát việc bảo vệ rừng. Tiếp đó, là Nghị quyết 36/CP ngày 11/03/1961 của
Hội đồng Chính phủ về việc quản lý, bảo vệ tài nguyên d-ới lòng đất; Pháp lệnh bảo vệ rừng
ban hành ngày 11/09/1972.
Dần dần vấn đề bảo vệ tài nguyên và môi tr-ờng đ-ợc quan tâm, chú ý nhiều hơn nh-:
Hiến pháp 1980 đã dành riêng một điều trong ch-ơng 2 (Điều 36) quy định việc sử dụng tài
nguyên và bảo vệ môi tr-ờng, quy định vấn đề quản lý nhà n-ớc về môi tr-ờng.
Từ năm 1986 đến nay, hệ thồng pháp luật bảo vệ tài nguyên môi tr-ờng cũng từng
b-ớc đ-ợc hoàn thiện. Quốc hội đã ban hành một số luật điều chỉnh các lĩnh vực kinh tế xã
15
hội, trong đó có nội dung bảo vệ tài nguyên môi tr-ờng sinh thái nh- Luật dầu khí, Luật đất
đai, Luật bảo vệ sức khoẻ nhân dân, Luật khoáng sản, Luật bảo vệ và phát triển rừng, Luật tài
nguyên n-ớc, Luật đầu t- n-ớc ngoài tại Việt Nam
Đặc biệt, Điều 17 và Điều 29 Hiến pháp 1992 đã đ-a việc bảo vệ môi tr-ờng thành
nghĩa vụ hiến định. Đây là cơ sở gốc, luật gốc cho việc ban hành các luật và nghị định khác về
bảo vệ tài nguyên môi tr-ờng.
Trên cơ sở Hiến định về tài nguyên môi tr-ờng nh- vậy, Luật bảo vệ môi tr-ờng đ-ợc
Quốc hội n-ớc Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua năm 1993 và hàng loạt các văn
bản d-ới luật về bảo vệ môi tr-ờng với những quy định chi tiết, cụ thể hoá, h-ớng dẫn thực
hiện luật bảo vệ môi tr-ờng.
Ngoài ra, trong thời gian gần đây, Việt Nam đã tạo đ-ợc mối quan hệ rất chặt chẽ với
các n-ớc trên thế giới trong lĩnh vực bảo vệ tài nguyên môi tr-ờng.
3.2.2. Vấn đề kế thừa, duy trì Luật tục trong quá trình xây dựng và hoàn thiện pháp luật bảo
vệ tài nguyên môi tr-ờng.
Luật tục là hiện t-ợng lịch sử về quan hệ xã hội của các dân tộc ít ng-ời có ý nghĩa rất quan
trọng đến vấn đề dân tộc học, xã hội học, luật pháp quốc gia. Luật tục đ-ợc coi là công cụ tự
quản trong các làng, bản, cộng đồng dân tộc. Tr-ớc những yêu cầu bức bách và phát triển của
ch-a thể hoặc khó xâm nhập vào đời sống thực tế của cộng đồng các dân tộc ít ng-ời miền
núi.
Thực tế cho thấy rằng hiện nay ở các địa ph-ơng, việc kế thừa, duy trì Luật tục về bảo vệ
nguồn tài nguyên, môi tr-ờng sinh thái cũng nh- việc kết hợp giữa Luật tục và luật pháp nhà
n-ớc trong lĩnh vực này đã và đang đ-ợc thực hiện.
Đó là việc các vùng dân tộc ít ng-ời miền núi, các vùng nông thôn đã bắt đầu tiến hành
soạn thảo quy -ớc nông thôn mới, quy -ớc buôn, làng, bản mới và đang đ-a nó vào hoạt động,
thực tiễn đã mang lại hiệu quả tốt.
Đó là việc hình thành tổ hoà giải ở cấp cơ sở, dựa vào Luật tục và luật pháp nhà n-ớc để
điều hoà các mối quan hệ xã hội ở nông thôn. Trong đó vấn đề sở hữu đất đai, quản lý, khai
thác các nguồn tài nguyên là rất quan trọng.
Đó cũng là chủ tr-ơng phát huy vai trò của các già làng, tr-ởng bản, phát huy vai trò của
tr-ởng thôn trong việc quản lý xã hội cũng nh- quản lý, khai thác, bảo vệ nguồn tài nguyên,
môi tr-ờng sinh thái, một trong những vấn đề liên quan và gắn bó mật thiết với cuộc sống
hàng ngày của cộng đồng các dân tộc ít ng-ời miền núi.
3.2.3. Một số kinh nghiệm sử dụng tập quán pháp của các n-ớc trong khu vực và trên thế giới
trong việc bảo vệ tài nguyên và môi tr-ờng.
Để nâng cao hiệu quả quản lý tổ chức ở địa ph-ơng, một số n-ớc trong khu vực cũng nh-
trên thế giới đã sử dụng hiệu quả tập quán pháp trong vấn đề bảo vệ tài nguyên và môi tr-ờng
nh- ở Trung Quốc, Inđônêxia, V-ơng Quốc Anh
ở n-ớc ta, trong thời kỳ thuộc Pháp, thực dân Pháp đã tổ chức thu thập và hiệu chỉnh các
Luật tục của đồng bào Tây Nguyên, biên dịch thành sách phát hành trong các buôn làng.
Trong các bản Luật tục này, ng-ời Pháp đã lồng ghép những nội dung và điều luật phục vu
cho việc cai trị của họ. Và họ cũng thành lập Toà án phong tục ở Tây Nguyên để xét xử những
vụ việc vi phạm Luật tục và luật pháp nếu ng-ời vi phạm là ng-ời dân tộc ít ng-ời.
Sau đó, chính quyền ngụy Sài Gòn cũng tiếp tục duy trì Toà án phong tục này ở cấp tỉnh và
quận. Luật tục cũng đ-ợc chính quyền cai trị thừa nhận cùng với một số quy định bổ sung
nhằm phục vụ cho sự thống trị của họ.
Nh- vậy, Luật tục có một vị trí rất quan trong trong việc quản lý, cai trị đất n-ớc ở một số
n-ớc trên thế giới.
hiệu quả bền vững.
Có thể nói rằng, Luật tục (hay tập quán pháp) là hệ thống những quy định của một
cộng đồng dân tộc về cách ứng xử của con ng-ời với môi tr-ờng tự nhiên, của con ng-ời với
các hình thái khác nhau của cộng đồng. Luật tục đ-ợc hình thành từ lâu đời và trải qua những
thời kỳ lịch sử của quá trình phát triển tộc ng-ời, đã dần dần đ-ợc bổ sung, hoàn chỉnh. Hệ
thống những quy định về cách ứng xử theo phong tục tập quán đó đã l-u truyền từ thế hệ này
sang thế hệ khác và ngày nay vẫn tồn tại một cách sống động, vẫn đóng một vai trò quan trọng
trong đời sống của cộng đồng các dân tộc.
Tuy nhiên, do đ-ợc hình thành từ xa x-a, những quy định của Luật tục đến nay đã xuất
hiện nhiều bất cập, không phù hợp hoặc từ những quan niệm, hoặc từ những quy định cụ thể.
Vì vậy, đòi hỏi khi ứng dụng vào cuộc sống hiện nay cần phải có sự điều chỉnh nhất định. Có
nh- vậy Luật tục mới không cản trở pháp luật mà còn bổ trợ cho pháp luật, làm cho pháp luật
đ-ợc tôn trọng và thực hiện một cách triệt để.
Việc điều chỉnh cũng phải dựa trên cuộc sống bản sắc văn hoá của mỗi tộc ng-ời, mỗi
vùng, phải đ-ợc đồng bào ở những vừng đó chấp nhận, phù hợp với các quy định của pháp luật
hiện hành tránh sự áp đặt tuỳ tiện, máy móc những quy định của Luật tục hiện vẫn còn có ý
nghĩa tích cực trong đời sống hàng ngày nhất là trong lĩnh vực bảo vệ tài nguyên và moi
tr-ờng. Cần phải đ-ợc vận dụng, phát huy trong các hoạt động tuyên truyền, giáo dục, phổ
biến chính sách và quản lý xã hội.
Nh- vậy, với sự phong phú, đa dạng của Luật tục trong việc quản lý cộng đồng, điều
chỉnh các quan hệ xã hội trong cộng đồng, bảo vệ tài nguyên và môi tr-ờng đã thể hiện đ-ợc
vị trí, vai trò quan trọng của Luật tục trong đời sống của các dân tộc ít ng-ời, D-ới góc độ
18
pháp lý, Luật tục cần đ-ợc tìm hiểu, nghiên cứu sâu sắc, cụ thể hơn nữa để từ đó có thể vận
dụng cũng nh- kết hợp với pháp luật trong việc điều chỉnh các quan hệ xã hội, bảo vệ tài
nguyên và môi tr-ờng. Đảng và Nhà n-ớc cần có những chính sách, định h-ớng về việc phát
huy vai trò của Luật tục, cần xây dựng một khung pháp lý thừa nhận sự tồn tại hợp pháp của
Luật tục trong việc tham gia điều chỉnh các quan hệ xã hội cũng nh- vấn đề bảo vệ tài nguyên
và môi tr-ờng ở các dân tộc ít ng-ời của n-ớc ta hiện nay.
19
[14] Georges Condominas, Không gian xã hội vùng Đông Nam á, Nxb Văn hoá, Hà Nội,
1997.
[15] G.Condominas, Một số nhận xét về việc nghiên cứu luật tục, Luật tục và phát triển nông
thôn hiện nay ở Việt Nam (Kỷ yếu hội thảo khoa học), Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2000,
61-103.
[16] Lê Sỹ Giáo, Tập quán truyền thống về sử dụng đất tự nhiên của một số tộc ng-ời thiểu số
ở miền núi phía Bắc Việt Nam, Luật tục và phát triển nông thôn hiện nay ở Việt Nam (Kỷ yếu
hội thảo khoa học), Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2000, 324-342.
[17] Đào Thanh Hải (s-u tầm, tuyển chọn), H-ớng dẫn thực hiện quy chế dân chủ cơ sở, Nxb
Lao động, Hà Nội, 2001.
[18] L-u Đức Hải, Cơ sở khoa học môi tr-ờng, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội, 2001.
[19] Tô Đông Hải, Luật tục và vấn đề sở hữu đất đai, rừng núi ở ng-ời Jrai xã Ba Cụm Bắc,
huyện Khánh Sơn, tỉnh Khánh Hoà, Luật tục và phát triển nông thôn hiện nay ở Việt Nam (Kỷ
yếu hội thảo khoa học), Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2000, 459-483.
[20] Hiến pháp Việt Nam (năm 1946, 1959, 1980, 1992). Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội,
1995.
[21] Diệp Đình Hoa, Phát triển kinh tế xã hội miền núi với những vấn đề bảo vệ môi tr-ờng và
an ninh biên giới, Tạp chí Dân tộc học, Số 4, 1982, 17-27.
[22] Học viện Chính trị Quốc gia Hồ CHí Minh, Vấn đề dân tộc và chính sách dân tộc của
Đảng và Nhà n-ớc ta (Tập bài giảng), Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1995.
[23] Hội đồng dân tộc của Quốc hội khoá X, Chính sách và pháp luật của Đảng và Nhà n-ớc
về dân tộc, Nxb Văn hoá dân tộc, Hà Nội, 2000.
[24] Nguyễn Việt H-ơng, Giá trị của Luật tục từ góc nhìn pháp lý, Luật tục và phát triển nông
thôn hiện nay ở Việt Nam (Kỷ yếu hội thảo khoa học), Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2000,
979-994.
[25] John Ambler, Luật tục và vấn đề quản lý tài nguyên thiên nhiên: những gợi ý nhằm hoà
hợp luật thành văn và luật tục ở châu á, Luật tục và phát triển nông thôn hiện nay ở Việt Nam
(Kỷ yếu hội thảo khoa học), Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2000, 219-257.
[26] Keebet Von Benda Beckmann, Đa dạng pháp luật, Luật tục và phát triển nông thôn
nông thôn hiện nay ở Việt Nam (Kỷ yếu hội thảo khoa học), Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội,
2000, 104-122.
[40] Oscar Salemink, Luật tục, quyền sở hữu đất và vấn đề di c-, Luật tục và phát triển nông
thôn hiện nay ở Việt Nam (Kỷ yếu hội thảo khoa học), Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2000,
814-862.
[41] Quỹ môi tr-ờng SIDA, Bảo vệ môi tr-ờng để đất n-ớc phát triển bền vững, Nxb Thống
kê, Hà Nội, 2002.
[42] Nguyễn Duy Quý, Luật tục và chiến l-ợc phát triển nông thôn ở Việt Nam, Luật tục và
phát triển nông thôn hiện nay ở Việt Nam (Kỷ yếu hội thảo khoa học), Nxb Chính trị Quốc
gia, Hà Nội, 2000, 13-20.
21
[43] Hoàng Thị Kim Quế, Một số vấn đề về luật tục và pháp luật ở Đắc Lắc hiện nay, Luật
tục và phát triển nông thôn hiện nay ở Việt Nam (Kỷ yếu hội thảo khoa học), Nxb Chính trị
Quốc gia, Hà Nội, 2000, 902-964.
[44] Nguyễn Thế Sang, Luật tục Jrai về việc bảo vệ môi tr-ờng sinh thái, Luật tục và phát
triển nông thôn hiện nay ở Việt Nam (Kỷ yếu hội thảo khoa học), Nxb Chính trị Quốc gia, Hà
Nội, 2000, 448-458.
[45] Lê Hồng Sơn, Vai trò của phong tục tập quán và việc kế thừa phong tục tập quán trong
xây dựng pháp luật, Luật tục và phát triển nông thôn hiện nay ở Việt Nam (Kỷ yếu hội thảo
khoa học), Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2000, 863-875.
[46] Hà Huy Thành (chủ biên), Một số vấn đề xã hội và nhân văn tron việc sử dụng hợp lý tài
nguyên và bảo vệ môi tr-ờng ở Việt Nam, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2001.
[47] Hà Nhân Thăng, Luật về dân tộc ý Đảng lòng dân, Tạp chí dân tộc học, Số 3, 1993, 19-
21.
[48] Nguyễn Duy Thiệu (chủ biên), Các dân tộc ở Đông Nam á, Nxb Văn hoá dân tộc, Hà
Nội, 1997.
[49] V-ơng Xuân Tình, Luật tục của các dân tộc Tày, Nùng với vấn đề quản lý xã hội và
nguồn tài nguyên, Luật tục và phát triển nông thôn hiện nay ở Việt Nam (Kỷ yếu hội thảo
khoa học), Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2000, 370-410.
[63] Viện Nghiên cứu chính sách dân tộc và miền núi, Vấn đề dân tộc và định h-ớng xây dựng
chính sách dân tộc trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà
Nội, 2002.
[64] Viện Dân tộc học, T- liệu lịch sử và xã hội dân tộc Thái. Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội,
1997,
[65] Viện Ngôn ngữ học, Từ điển tiếng Việt. Nxb Đà Nẵng Trung tâm từ điển học, Hà Nội,
Đà Nẵng, 1997
[66] Ysol, Tiếp cận với Luật tục trong các dân tộc thiểu số ở Việt Nam, Tạp chí Dân tộc học
và thời đại, số 2, 1999.
II. Tài liệu tiếng Anh
[67] M.B. Hooker, ADAT Law in modern Indonesia, Kuala Lumpur. Oxford University Press,
Oxford. New York, Jakata, 1978.
[68] Tai Culture, International Review on Tai Cultural Studies Traditional law and values in
Tai societies, Bangkok, 1999.