ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT NGUYỄN TRƢỜNG THANH
HOµN THIÖN C¸C QUY §ÞNH VÒ QUYÒN D¢N Sù
TRONG HIÕN PH¸p viÖt nam HIÖN HµNH Chuyên ngành: Pháp luật về quyền con ngƣời
Mã số: Chƣơng trình đạo tạo thí điểm
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC Cán bộ hƣớng dẫn khoa học: PGS. TS. HÀ THỊ MAI HIÊN
MỤC LỤC
Trang
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Mục lục
Danh mục các ký hiệu, chữ viết tắt
Danh mục các bảng
MỞ ĐẦU 1
Chƣơng 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA CÁC QUY ĐỊNH
VỀ CÁC QUYỀN DÂN SỰ THEO HIẾN PHÁP VIỆT NAM 6
1.1. Lý luận chung về quyền con ngƣời và bảo vệ quyền con
ngƣời về dân sự bằng hiến pháp 6
1.1.1. Nhận thức chung về quyền con người 6
1.1.2. Quyền dân sự trong phân loại về quyền con người 11
1.2. Quyền con ngƣời về dân sự theo Hiến pháp Việt Nam qua
các giai đoạn phát triển 16
1.3. Bối cảnh ban hành và các nhân tố tác động đến nội dung
Hiến pháp 2013 về quyền con ngƣời 20
Kết luận chƣơng 1 28
Chƣơng 2: NỘI DUNG CÁC QUYỀN CON NGƢỜI VỀ DÂN SỰ
THEO QUY ĐỊNH CỦA HIẾN PHÁP VIỆT NAM HIỆN HÀNH 29
2.1. Cách tiếp cận và sự thể hiện các quyền dân sự trong Hiến pháp 29
2.2. Nội dung các quyền dân sự đƣợc quy định trong Hiến pháp
2013 và sự tƣơng thích với luật pháp quốc tế 32
BLHS
Bộ luật Hình sự
BLTTHS
Bộ luật Tố tụng hình sự
CAT
Công ước chống tra tấn và các hình thức trừng phạt và đối xử tàn bạo,
vô nhân đạo hay hạ nhục khác, 1984 (Convention against Torture and
Other Cruel, Inhuman or Degrading Treatment or Punishment)
CEDAW
Công ước về xóa bỏ tất cả các hình thức phân biệt đối xử chống lại
phụ nữ (Convention on the Elimination of All Forms of
Discrimination against Women)
CHXHCN
Cộng hòa xã hội chủ nghĩa
HĐND
Hội Đồng nhân dân
HRC
Uỷ ban Nhân quyền
MTTQ
Mặt trận tổ quốc
OPCAT
Nghị định thư không bắt buộc của Công ước chống tra tấn
OHCHR
Văn phòng Cao ủy Liên hợp quốc về nhân quyền (Office of the
High Commissioner for Human Rights)
ICCPR
Công ước quốc tế về các quyền dân sự, chính trị (International
Covenant on Civil and Political Rights)
ICESCR
Công ước quốc tế về các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa
DANH MỤC BẢNG BIỂU
Số hiệu
Tên bảng
Trang
Bảng 1.1:
Một số sự kiện đánh dấu sự phát triển của tư tưởng về
quyền con người của nhân loại từ trước đến nay
9
Bảng 1.2:
Một số các cách phân loại quyền con người
12
Bảng 1.3:
Tổng hợp khái quát các quyền và tự do dân sự được
ghi nhận trong UDHR, ICCPR một số công ước về
quyền con người
14
1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Quyền con người là một giá trị phổ biến và thiêng liêng đối với mọi
người, mọi quốc gia, dân tộc. Tuy nhiên, cho đến nay, nhận thức về quyền
con người nói chung vẫn chưa đầy đủ. Xuất phát từ những điều kiện, đặc
điểm về văn hóa và văn minh trong mỗi giai đoạn phát triển, mỗi dân tộc,
quốc gia có những đặc thù nhất định trong việc ghi nhận, bảo đảm và bảo vệ
quyền con người trong hệ thống pháp luật của mình.
Trải qua hơn 1000 năm Bắc thuộc và hơn 100 năm chịu ách đô hộ của
quyền con người trong pháp luật Việt Nam, thể hiện sự tiến bộ vượt bậc về
nhận thức và tư duy đối với lĩnh vực quyền con người, quyền công dân. Tuy
nhiên, nhằm đảm bảo tính thống nhất giữa Hiến pháp hiện hành với các văn
bản luật dưới nó trở thành vấn đề cấp thiết hơn bao giờ hết, bởi Hiến pháp bản
thân nó là một đạo luật gốc, khi Hiến pháp thay đổi thì các văn bản luật đảm
bảo cơ chế thực thi cho Hiến pháp cũng cần phải thay đổi theo, xuất phát từ
thực tế đó tác giả chọn đề tài: "Hoàn thiện các quy định về quyền dân sự
trong Hiến pháp Việt Nam hiện hành" để nghiên cứu luận văn thạc sĩ.
2. Mục tiêu nghiên cứu
2.1 Mục tiêu tổng quát: Đề xuất những luận cứ khoa học cho việc hoàn
thiện các quy định Hiến pháp hiện hành về các quyền dân sự.
2.2 Mục tiêu cụ thể: Để đạt được mục đích nghiên cứu trên, nhiệm vụ
nghiên cứu đặt ra là:
- Làm rõ những vấn đề lý luận chung về các quyền dân sự trong luật
nhân quyền quốc tế và Hiến pháp, pháp luật Việt Nam;
- Nghiên cứu, phân tích những qui định Hiến pháp hiện hành về các
quyền dân sự trong tương quan với những giá trị phổ biến của quyền con
người theo Luật Nhân quyền quốc tế và định hướng phát triển của Nhà nước 3
pháp quyền Việt Nam; tìm ra những tiến bộ, hạn chế, bất cập của Hiến pháp
Việt Nam hiện hành;
- Đưa ra kiến nghị về phương hướng, giải pháp nhằm hoàn thiện các
qui định của Hiến pháp Việt Nam về các quyền dân sự phù hợp với giá trị
quyền con người của Nhà nước pháp quyền Việt Nam trong giai đoạn mới.
3. Tính mới của đề tài và ý nghĩa của luận văn
3.1. Tính mới:
- Nêu và phân tích cơ sở lý luận và thực tiễn của Hiến pháp về các
quyền dân sự;
giả nghiên cứu từ các góc độ và với các mức độ khác nhau. Các công trình
nghiên cứu đã công bố:”
- Trong nước có các công trình như: "Quyền con người trong thế giới hiện
đại" của nguyên Giám đốc trung tâm quyền con người của Học viện Chính trị
quốc gia Hồ Chí Minh GS.TS. Hoàng Văn Hảo và Phạm Ích Khiêm; “Xây dựng
Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam” do GS.TS. Đào Trí Úc làm
chủ biên; “Hiến pháp trong Nhà nước pháp” quyền do GS.TS. Nguyễn Đăng
Dung làm chủ biên; “Bàn về quyền con người, quyền công dân” của GS.TS.
Trần Ngọc Đường; “Xây dựng xã hội dân sự ở Việt Nam – Một số vấn đề lý
luận và thực tiễn” do GS.TS. Dương Xuân Ngọc làm chủ biên
- Ở nước ngoài cũng đã nhiều tác giả nghiên cứu vấn đề bảo đảm quyền
con người trong Nhà nước pháp quyền nói chung (The Rule of law của M.
Hager); bảo đảm quyền con người trong hệ thống tư pháp (Saudi Arabia,
human rights: Judicial system).
6. Phƣơng pháp nghiên cứu
Đề tài được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận của Chủ nghĩa Mác-
Lênin (duy vật biện chứng và duy vật lịch sử), Tư tưởng Hồ Chí Minh và các
quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về Nhà nước và Pháp luật, về Nhà nước 5
pháp quyền xã hội chủ nghĩa, về bảo đảm quyền con người. Việc nghiên cứu
được thực hiện từ góc độ lý luận chung về quyền con người và sử dụng cách
tiếp cận liên kết.
Các phương pháp nghiên cứu cụ thể được sử dụng là phân tích, tổng
hợp, lịch sử, so sánh, thống kê v.v
Trong quá trình thực hiện đề tài, tác giả đã nghiên cứu thực tiễn việc
quy định về các quyền dân sự trong luật nhân quyền quốc tế, pháp luật Việt
Nam và một số nước trên thế giới làm cơ sở thực tiễn cho việc nghiên cứu.
7. Kết cấu luận văn
quyền con người là giá trị xã hội cơ bản, vốn có của con người như nhân
phẩm, bình đẳng xã hội, tự do ; dưới bình diện pháp lý, để trở thành quyền,
những đặc quyền phải được thể chế hóa bằng các chế định pháp luật quốc tế
và pháp luật quốc gia. Xét chung lại, quyền con người thường được hiểu là
những nhu cầu, lợi ích tự nhiên, vốn có của con người được ghi nhận và bảo
vệ trong pháp luật quốc gia và các thỏa thuận pháp lý quốc tế.
Trong lịch sử chính trị tư tưởng của nhân loại, ngay từ thời cổ đại đã có 7
sự bàn luận về các quyền của con người. Ở thời kỳ đó, thị dân ở một số thành
phố Ai Cập đã sử dụng các quyền như quyền tự do ngôn luận, quyền bình
đẳng của tất cả mọi người trước pháp luật. Các triết gia thời đó cho rằng, các
quyền tự nhiên thuộc sở hữu của tất cả mọi người. Hammurabi (người sáng
lập ra Babylon cổ đại) quan niệm rằng, công lý bùng nổ để ngăn chặn kẻ
mạnh làm hại người yếu. Còn Mạnh Tử (Trung Quốc cổ đại) từ ba trăm năm
trước Công nguyên đã khẳng định rằng, cá nhân con người là vô cùng quan
trọng, nhất cách của vua chúa ít quan trọng hơn Lịch sử phát triển của nhân
loại, các tư tưởng về quyền con người không chỉ thể hiện thông qua các đạo
luật như: Bộ luật Hammurabi (khoảng năm 1780 TCN), Bộ luật của vua
Cyrus Đại đế ban hành khoảng năm 576-529 TCN; Bộ luật do nhà vua
Ashoka ban hành vào khoảng năm 271 – 231; Hiến pháp Medina do nhà tiên
tri Muhammad sáng lập vào năm 622; Đại Hiến chương Magna Carta (1215)
và Bộ luật quyền (1689) của nước Anh; Bộ luật Hồng Đức (Quốc Triều Hình
Luật (1479-1497)) của Việt Nam; Tuyên ngôn về các quyền của con người và
của công dân (1789) của nước Pháp; Tuyên ngôn Độc lập (1776) và Bộ luật
về các quyền (1789) của Mỹ…mà còn được phản ánh một cách sâu sắc và cụ
thể trong các tư tưởng, học thuyết tôn giáo, chính trị và pháp lý như Kinh Vệ
Đà của đạo Hinđu ở Ấn Độ, Kinh phật của đạo Phật; Kinh Thánh của đạo
Thiên chúa và Kinh Kôran của đạo Hồi; Bàn về tự do của John Stuart Mill
chính trị - xã hội ấy.
Quyền con người mang tính nhân loại sâu sắc vì nó là kết quả cuộc đấu
tranh của toàn thể nhân dân lao động nhằm đập tan ách thống trị trên toàn thế
giới giành lại quyền tự do chân chính cho mình, là giá trị nhân văn cao quý nhất
mà xã hội loài người hướng tới, là sự giải phóng hoàn toàn cá nhân con người để
phát triển toàn diện nhân cách của mình. Điều đó chỉ có thể thực hiện được
không chỉ ở một quốc gia, một dân tộc, mà phải là sự giải phóng toàn nhân loại. 9
Bảng 1.1: Một số sự kiện đánh dấu sự phát triển của tƣ tƣởng về quyền
con ngƣời của nhân loại từ trƣớc đến nay
Thời gian
Sự kiện, văn kiện
1789 TCN
Bộ luật Hammurabi
1200 TCN
Kinh vệ đà
570 TCN
Luật của Cyrus Đại đế
586 – 456 TCN
Kinh phật
479 – 421 TCN
“Luật ngữ” của Khổng tử
7-1 TCN
Kinh Thánh
610 – 612
Kinh Kôran
1215
Đại hiến chương Magna Carta (Anh)
2002
Quy chế Rô ma có hiệu lực, Tòa án hình sự quốc tế (thường trực)
được thành lập.
2006
Cải tổ bộ máy quyền con người của Liên hợp quốc, thay thế Ủy
ban quyền con người bằng Hội đồng quyền con người
Nguồn: Khoa Luật – ĐHQGHN (2011), Giáo trình Lý luận và pháp luật về
Quyền con người, tr.56-57, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội. 10
Ngày nay, trong xu hướng toàn cầu hóa kinh tế, những nguyên tắc về
quyền con người trở thành những quy tắc ứng xử, những chuẩn mực pháp lý
quốc tế được ghi nhận trong các văn bản pháp lý quốc tế quan trọng như Hiến
chương Liên hợp quốc, trong các tuyên ngôn, các công ước quốc tế mà các
thành viên tham gia có nghĩa vụ bắt buộc phải tuân theo (theo thống kê, Liên
hợp quốc đã thông qua trên 70 văn bản quốc tế về lĩnh vực quyền con người
trong đó có 25 công ước). Hệ thống đồ sộ các văn kiện pháp lý quốc tế ấy làm
cho các quyền con người có căn cứ để được tôn trọng và bảo vệ. Ở nhiều
quốc gia, trong đó có Việt Nam. Việc bảo đảm quyền con người của các quốc
gia thể hiện ở ba nghĩa vụ cụ thể là:
Thứ nhất, nghĩa vụ tôn trọng (obiligation to respect): Các nhà nước có
nghĩa vụ kiềm chế không can thiệp trực tiếp hoặc gián tiếp vào việc hưởng thụ
các quyền con người của các chủ thể quyền. Nghĩa vụ này là nghĩa vụ thụ động
vì nó không bắt buộc các nhà nước phải chủ động đưa ra những sáng kiến, biện
pháp, chương trình hỗ trợ các công dân trong việc hưởng thụ quyền.
Thứ hai, nghĩa vụ bảo vệ (obligation to protect): Các nhà nước có
nghĩa vụ ngăn chặn sự vi phạm quyền con người của các bên thứ ba. Nghĩa vụ
này là nghĩa vụ chủ động vì để ngăn chặn sự vi phạm quyền con người của
các bên thứ ba, nhà nước phải chủ động đưa ra những biện pháp và xây dựng
thế hệ quyền con người hoặc theo lĩnh vực. Tuy nhiên, sự phân loại quyền
con người chỉ có ý nghĩa tương đối vì bản chất của quyền con người là một
thể thống nhất không phân chia. Trong các văn kiện quốc tế hoặc trong các
công trình khoa học, quyền con người được phân loại thành hai nhóm chính:
nhóm các quyền dân sự - chính trị và nhóm các quyền kinh tế - xã hội - văn
hóa. Đây cũng là cách phân chia được sử dụng khi soạn thảo bộ luật nhân
quyền quốc tế. Nhóm quyền dân sự - chính trị bao gồm các quyền như: quyền
bầu cử, ứng cử; quyền tham gia quản lý nhà nước và xã hội; các quyền tự do 12
cơ bản; quyền được bảo đảm an ninh cá nhân; quyền bình đẳng…; Nhóm
quyền kinh tế - xã hội - văn hóa bao gồm quyền làm việc, quyền sở hữu,
quyền kinh doanh, quyền được bảo vệ sức khỏe, quyền được học tập và sáng
tạo; quyền hoạt động văn hóa - nghệ thuật…
Ngoài ra, quyền con người có thể được phân chia theo chủ thể của
quyền. Có thể chia quyền con người ra thành quyền cá nhân; quyền của nhóm
như quyền của phụ nữ, trẻ em, người cao tuổi…, và quyền tập thể như quyền
dân tộc tự quyết và quyền của các dân tộc thiểu số.
Việc phân loại các quyền như vậy cho phép nhận rõ hơn đặc điểm, tính
chất và những yêu cầu đặc thù trong việc bảo đảm mỗi loại quyền con người.
Dưới các góc độ khác nhau (lịch sử - xã hội, triết học, chính trị, pháp lý…) sẽ
có các cách phân loại khác nhau (Phân loại theo lĩnh vực; phân loại theo chủ
thể của quyền; phân loại theo một số tiêu chí khác…) tuy nhiên phân loại chỉ
nhằm mục đích nghiên cứu và thực thi, chứ không nhằm xếp loại theo thứ tự
ưu tiên hay tầm quan trọng của các quyền con người, bởi việc bảo đảm tất cả
các quyền con người đều nằm trong mối liên hệ hữu cơ, tác động lẫn nhau và
đều phải coi trọng như nhau.
Bảng 1.2: Một số các cách phân loại quyền con ngƣời
TT
Quyền đòi hỏi
8.
Giới hạn áp dụng
Quyền có thể bị hạn chế
Quyền không thể bị hạn chế
Nguồn: Khoa Luật – ĐHQGHN (2011), Giáo trình Lý luận và pháp luật về
Quyền con người, tr.69, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội. 13
Để thực hiện trách nhiệm quốc gia thành viên của các Công ước Liên
hợp quốc về quyền con người, việc nhận thức và nội luật hóa các quy định về
quyền con người trong hệ thống luật pháp quốc gia là rất quan trọng. Từ góc
độ pháp lý, có thể hiểu Luật nhân quyền quốc tế là một hệ thống các quy tắc,
tiêu chuẩn và tập quán pháp lý quốc tế xác lập, bảo vệ và thúc đẩy các quyền
và tự do cơ bản cho mọi thành viên của cộng đồng nhân loại. Luật Nhân
quyền quốc tế bao gồm hàng trăm văn kiện pháp lý quốc tế về vấn đề này, kể
cả những văn kiện mang tính ràng buộc (các công ước, nghị định thư) và các
văn kiện không mang tính ràng buộc (các tuyên bố, tuyên ngôn, khuyến nghị,
hướng dẫn…) trong đó bao gồm cả các văn kiện có hiệu lực toàn cầu và khu
vực. Trong luận văn này tác giả chủ yếu đề cập đến hai văn kiện chủ yếu của
Bộ luật quốc tế về nhân quyền bao gồm Tuyên ngôn toàn thế giới về quyền
con người năm 1948 (UDHR) và Công ước quốc tế về các quyền dân sự,
chính trị (ICCPR - được Đại hội đồng Liên hợp quốc thông qua vào năm
1966) để phân tích rõ hơn về quyền dân sự được quy định trong 02 văn bản
này, đồng thời tìm hiểu rõ hơn việc nội luật hóa các quyền dân sự vào pháp
luật Việt Nam, thông qua văn bản có tính pháp lý cao nhất là Hiến pháp Việt
Nam năm 2013.
Có thể hiểu Quyền dân sự, theo “Tuyên ngôn thế giới về quyền con
người năm 1948” của Liên hợp quốc, được xem là những giá trị của tất cả
Điều 7 ICCPR
CAT
Quyền được bảo vệ không
bị bắt làm nô lệ hay nô dịch
Điều 4
Điều 8 ICCPR Các điều ước về
xóa bỏ chế độ nô lệ (1926,
1953, 1956) và trấn áp buôn
người, mại dâm người khác
(1949, 2000)
Quyền được bảo vệ khỏi bị
bắt, giam giữ tùy tiện
Điều 9
Điều 9 ICCPR
Quyền được đối xử nhân đạo
và tôn trọng nhân phẩm của
những người bị tước tự do
Điều 5
Điều 10 ICCPR
Quyền về xét xử công bằng
Điều 10 và 11
Các Điều 11, 14 và 15 ICCPR
Quyền về tự do đi lại, cư trú
Điều 13
Các Điều 12 và 13 ICCPR
Quyền được bảo vệ đời tư
Điều 12
Điều 17 ICCPR
Quyền tự do tư tưởng, tín
ngưỡng, tôn giáo
(4) Quyền đƣợc bảo vệ để khỏi bị bắt làm nô lệ hay nô dịch: Quyền
này được đề cập trong Điều 4 UDHR và Điều 8 ICCPR.
(5) Quyền đƣợc bảo vệ để khỏi bị bắt, giam giữ tùy tiện: Quyền này
là cốt lõi của tự do và an toàn cá nhân, được quy định trong Điều 9 UDHR và
Điều 9 ICCPR.
(6) Quyền đƣợc đối xử nhân đạo và tôn trọng nhân phẩm của
ngƣời bị tƣớc tự do: Quyền này được quy định trong Điều 10 ICCPR.
(7) Quyền về xét xử công bằng: Được đề cập trong các Điều 10 và 11
UDHR và các điều 14, 15 và 11 ICCPR.
(8) Quyền về tự do đi lại, cƣ trú: Được đề cập trong điều 13 UDHR
và Điều 12, 13 ICCPR. 16
(9) Quyền đƣợc bảo vệ đời tƣ: Quy định trong Điều 12 UDHR và
Điều 17 ICCPR.
(10) Quyền tự do chính kiến, niềm tin, tín ngƣỡng, tôn giáo: Được
ghi nhận trong Điều 18 UDHR và Điều 18, 20 ICCPR.
(11) Quyền kết hôn, lập gia đình và bình đẳng trong hôn nhân: Quyền
này được quy định tại Điều 16 UDHR, Điều 23 ICCPR và Điều 10 ICESCR.
1.2. Quyền con ngƣời về dân sự theo Hiến pháp Việt Nam qua các
giai đoạn phát triển
Ở Việt Nam, thuật ngữ quyền con người được nhắc đến đầu tiên từ Chủ
tịch Hồ Chí Minh. Trong bản Tuyên ngôn độc lập năm 1945, người đã nhắc
đến con người rồi suy rộng ra là quyền tự quyết của dân tộc làm căn nguyên
cho cuộc đấu tranh giành độc lập của nước Việt Nam khỏi ách thống trị của
chế độ thực dân và phong kiến. Việt Nam không có một bản tuyên ngôn nhân
quyền riêng mà quyền con người được quy định nằm trong một phần của
Hiến pháp. Hiến pháp không chỉ đơn thuần là văn bản quy định việc tổ chức
nhà nước mà còn là cơ sở đảm bảo cho việc thực hiện nhân quyền, hay nói
điều để quy định các quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân. Các quyền dân
sự của con người trong Hiến pháp được quy định gồm có:
+ Quyền bình đẳng: Quy định từ Điều 6 đến Điều 9: Gồm các quy định
về bình đẳng trên các phương diện chính trị, kinh tế, văn hóa, dân tộc và giới.
+ Quyền được tự do: Quy định tại Điều 10 và Điều 11: Gồm quy định
về tự do ngôn luận, xuất bản, tín ngưỡng, cư trú và tự do về an ninh cá nhân.
- Tiếp theo đó là Hiến pháp 1959 cũng quy định quyền và nghĩa vụ của
công dân trong một chương gồm 21 điều dựa trên sự kế thừa và phát triển các
quy định của Hiến pháp 1946. Các quyền công dân được quy định thêm trong
tất cả các lĩnh vực kinh tế, chính trị, xã hội, như: Điều 24 quy định: Quyền
được bảo hộ của bà mẹ và trẻ em, bảo hộ hôn nhân và gia đình 18
Hiến pháp 1959 có những bước tiến mới trong việc ghi nhận các quyền
con người, đã có những quy định thể hiện một cách rõ ràng trách nhiệm của
Nhà nước trong việc bảo đảm cho công dân thực hiện quyền của mình, “Nhà
nước bảo đảm những điều kiện vật chất cần thiết để công dân được hưởng các
quyền ” hay “Nhà nước quy định , để đảm bảo cho người lao động được
hưởng các quyền đó ” [22]. Điểm hạn chế trong việc quy định Quyền dân sự
của Hiến pháp 1959 là bỏ qua việc kế thừa một số quyền rất tiến bộ được đề
cập trong Hiến pháp 1946 là: Quyền của dân tộc thiểu số được nhà nước giúp
đỡ, Quyền tự do ra nước ngoài Điều này làm cho quyền con người, quyền
công dân, quyền dân sự trong Hiến pháp 1959 không được hoàn thiện.
- Hiến pháp 1980 có 27 điều quy định quyền và nghĩa vụ của công dân,
là những quy định được kế thừa và phát triển từ hai bản Hiến pháp 1946 và
Hiến pháp 1959. Các quyền và nghĩa vụ của công dân được quy định trong
bản Hiến pháp 1980 rất đa dạng và phong phú, trải rộng trên tất cả các lĩnh
vực kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội. Trong lĩnh vực quyền dân sự các quy
định mới của Hiến pháp 1980 bổ sung thêm như: Điều 62: Quyền có nhà ở;
- Quyền con người, quyền công dân trong Hiến pháp 1992 (đã sửa đổi,
bổ sung qua Nghị quyết 51). Quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân trong
Hiến pháp 1992 được quy định trong chương V bao gồm 34 điều chứa đựng
nhiều điểm tiến bộ của Nhà nước ta trong việc quy định về quyền con người
và đảm bảo quyền con người. Điều 50, Hiến pháp 1992 khẳng định: “Các
quyền con người về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa và xã hội được tôn
trọng, thể hiện ở các quyền công dân và được quy định trong Hiến pháp và
luật”[24]. Quyền con người với quan niệm thể hiện trong Hiến pháp 1992 là
chiếc cầu nối tăng cường mối quan hệ mật thiết giữa pháp luật quốc gia và
pháp luật quốc tế, bảo đảm và tăng cường hiệu lực thực hiện các quyền con
người một cách mạnh mẽ hơn. Theo đó hàng loạt các quy định đề cao và phát