Nâng cao hiệu quả hoạt động xử lý đơn khiếu nại, tố cáo của công dân tại các cơ quan của Quốc hội - Pdf 25

đại học quốc gia hà nội
khoa luật Nguyễn ngọc hùng

Đề tài:
Nâng cao hiệu quả hoạt động xử lý
đơn khiếu nại, tố cáo của công dân
Tại các cơ quan của quốc hội luận văn thạc sĩ luật học

Hà nội - 2008

đại học quốc gia hà nội
khoa luật
*****

Trang
MỞ ĐẦU
1
Chƣơng 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN CHO SỰ CẦN THIẾT PHẢI NÂNG
CAO HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG XỬ LÝ ĐƠN KHIẾU NẠI, TỐ CÁO
CỦA CÔNG DÂN TẠI CÁC CƠ QUAN CỦA QUỐC HỘI
6
1.1.
Bản chất của Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam
là nhà nước của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân
6
1.2.
Nhà nước đảm bảo quyền dân chủ của nhân dân, trong đó có
quyền khiếu nại, tố cáo của công dân
8
1.3
Vị trí, vai trò của Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội trong
việc xử lý đơn khiếu nại, tố cáo của công dân
11
1.4
Hoạt động xử lý đơn khiếu nại, tố cáo của công dân tại các
cơ quan của Quốc hội
19

1.4.1 Hoạt động tiếp công dân, tiếp nhận đơn thư khiếu nại, tố
cáo của công dân
19

1.4.2 Xử lý đơn khiếu nại, tố cáo của công dân của các cơ quan
của Quốc hội

2.1.3 Giai đoạn 1980 – 1992
34

2.1.4 Giai đoạn 1992 – 2003
37

2.1.5 Giai đoạn 2003 - nay
42
2.2.
Thực trạng hoạt động xử lý đơn khiếu nại, tố cáo của công
dân tại các cơ quan của Quốc hội trong thời gian gần đây
44

2.2.1 Đối với ủy ban thường vụ Quốc hội
44

2.2.2 Đối với Hội đồng dân tộc, ủy ban của Quốc hội, Ban
của ủy ban thường vụ Quốc hội
48

2.2.3 Một số nguyên nhân
56

Kết luận Chương 2
58
Chƣơng 3. MỘT SỐ MÔ HÌNH VÀ KINH NGHIỆM TỔ CHỨC VÀ
HOẠT ĐỘNG XỬ LÝ ĐƠN KHIẾU NẠI, TỐ CÁO CỦA CÔNG DÂN Ở
NGHỊ VIỆN Ở MỘT SỐ NƢỚC
60
3.1.

Chƣơng 4. gi¶i ph¸p tiÕp tôc n©ng cao hiÖu qu¶ ho¹t
®éng xö lý ®¬n khiÕu n¹i, tè c¸o cña c«ng d©n t¹i c¸c
c¬ quan cña Quèc héi
76
4.1
Yêu cầu khách quan phải nâng cao hiệu quả hoạt động xử lý
đơn khiếu nại, tố cáo của công dân tại các cơ quan của Quốc hội
76
4.1.1 Yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ
nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân
77

4.1.2 Yêu cầu hoàn thiện hệ thống pháp luật
79

4.1.3 Xuất phát từ bản thân vai trò của hoạt động xử lý đơn
khiếu nại, tố cáo tại các cơ quan của Quốc hội, góp phần ổn
định chính trị xã hội
80

4.1.4 Xuất phát từ yêu cầu bảo đảm quyền khiếu nại, tố cáo
của công dân và từ thực trạng khiếu nại, tố cáo của công dân
84
4.2
Một số quan điểm về đổi mới, nâng cao hoạt động xử lý đơn
khiếu nại, tố cáo của công dân
85


1
MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài
Quốc hội là cơ quan quyền lực Nhà nước cao nhất, cơ quan đại biểu cao
nhất của nhân dân, đại diện cho ý chí và nguyện vọng của nhân dân, hoạt
động về công tác Dân nguyện của Quốc hội là nhằm giúp cho công dân thực
hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của công dân như Điều 53 và Điều 74 Hiến
pháp năm 1992. Hoạt động công tác Dân nguyện của Quốc hội thể hiện bản
chất của Nhà nước ta là Nhà nước của dân, do dân và vì dân. Hoạt động công
tác Dân nguyện nói chung và Dân nguyện của Quốc hội nói riêng luôn được
Đảng, Nhà nước, Quốc hội quan tâm, tạo điều kiện để công dân thực hiện ý
nguyện của mình đối với Nhà nước, xã hội và trên thực tế đã đạt được một số
kết quả nhất định.
Dân nguyện là nguyện vọng của nhân dân, có nội dung rất rộng lớn, thể
hiện trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội. Ở nhiều nước, quyền khiếu nại, tố
cáo và kiến nghị của công dân thường được gọi là quyền thỉnh nguyện (hay
dân nguyện) do đó, khiếu nại, tố cáo của công dân là một nội dung quan trọng
của dân nguyện. Với ý nghĩa đó, công tác Dân nguyện nói chung được hiểu là
công tác tiếp nhận và xem xét, giải quyết các ý kiến, các đơn thư bày tỏ
nguyện vọng, kiến nghị hoặc khiếu nại, tố cáo của công dân, tổ chức theo một
trình tự, thủ tục mà luật pháp quy định, nhằm quản lý Nhà nước và xã hội,
khôi phục quyền lợi chính đáng, hợp pháp của công dân, tổ chức và xử lý
những người vi phạm pháp luật. Với khái niệm này thì công tác Dân nguyện
được tiến hành ở tất cả các cơ quan Nhà nước, bao gồm cơ quan lập pháp, cơ
quan hành pháp và cơ quan tư pháp, nhưng trong phạm vi đề tài này chỉ đề 2

3. Mục tiêu nghiên cứu và nhiệm vụ của luận văn
- Tổng kết các cơ sở lý luận hoạt động xử lý đơn khiếu nại, tố cáo của
công dân gửi đến Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội;
- Nghiên cứu thực tiễn áp dụng những quy định của pháp luật về hoạt
động xử lý đơn khiếu nại, tố cáo của Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội;
- Nghiên cứu thực trạng hoạt động xử lý đơn khiếu nại, tố cáo của công
dân gửi đến Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội, từ đó rút ra những vấn đề
cần tiếp tục nghiên cứu nhằm từng bước hoàn thiện cơ chế điều chỉnh của
pháp luật đối với công tác này.
- Nghiên cứu một cách có hệ thống các hình thức tổ chức thực hiện hoạt
động xử lý đơn khiếu nại, tố cáo của Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội và
những vấn đề có liên quan, qua đó đề xuất các vấn đề nhằm hoàn thiện các quy
định của pháp luật về hoạt động này của Quốc hội và các cơ quan của Quốc
hội, đồng thời đề ra giải pháp đổi mới, nâng cao hiệu lực của hoạt động này.
- Ứng dụng kết quả nghiên cứu đề tài phục vụ cho việc Quốc hội, Uỷ ban
thường vụ Quốc hội hướng dẫn hoạt động xử lý đơn khiếu nại, tố cáo của
công dân gửi đến Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội trên cơ sở các quy định
của Luật tổ chức Quốc hội, Luật Hoạt động giám sát, Luật khiếu nại, tố cáo,
Nghị quyết 370/2003/NQ-UBTVQH11 thành lập Ban Dân nguyện và Nghị
quyết 715/2004/NQ-UBTVQH11 về việc xử lý đơn của Quốc hội, các cơ
quan của Quốc hội. 4
4. Phạm vi nghiên cứu
- Các tài liệu, tư liệu, văn bản pháp lý liên quan đến tổ chức và hoạt động
của Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội.
- Các văn bản tài liệu hướng dẫn, giám sát của Uỷ ban thường vụ Quốc hội;
- Các báo cáo của Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội và các loại văn
bản khác có liên quan.

Chƣơng 1: Cơ sở lý luận cho sự cần thiết phải nâng cao hiệu quả hoạt
động xử lý đơn khiếu nại, tố cáo của công dân ở quốc hội, các cơ quan của
Quốc hội.
Chƣơng 2: Thực trạng về công tác xử lý đơn khiếu nại, tố cáo của công
dân ở Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội.
Chƣơng 3: Một số mô hình, kinh nghiệm tổ chức và hoạt động xử lý
đơn khiếu nại, tố cáo của công dân ở Nghị viện ở một số nước.
Chƣơng 4: Giải pháp tiếp tục nâng cao hiệu quả công tác xử lý đơn
khiếu nại, tố cáo của công dân ở Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội.

7
Chƣơng 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN CHO SỰ CẦN THIẾT PHẢI NÂNG CAO
HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG XỬ LÝ ĐƠN KHIẾU NẠI, TỐ CÁO
CỦA CÔNG DÂN Ở QUỐC HỘI, CÁC CƠ QUAN CỦA QUỐC HỘI

1.1. Bản chất của nhà nƣớc Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Việt Nam là
nhà nƣớc của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân
Hiến pháp nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 tuyên
bố Nhà nước ta là Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do
nhân dân, vì nhân dân.
Ngay từ trước Cách mạng tháng Tám, nhân dân ta tập hợp xung quanh
Mặt trận Việt Minh tiến hành cuộc đấu tranh giành chính quyền từ tay Pháp-
Nhật, lập nên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.
Hiến pháp năm 1946, 1959 và 1980 của Nhà nước ta chưa dùng thuật
ngữ "Nhà nước của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân" nhưng về thực chất

Minh, mang tính nhân văn cao cả, vừa giản dị, vừa thân mật của vị lãnh tụ dân
tộc.
Khi độc lập và tự do của dân tộc đã dành được, nhiệm vụ rất to lớn là
làm thế nào để mỗi người dân đều được tự do, sung sướng. Người cho rằng
nhiệm vụ này thuộc về Chính phủ. Chính phủ phải phấn đấu sao cho dân được
sung sướng, bởi vì, nếu nước độc lập mà dân không hưởng hạnh phúc tự do
thì độc lập cũng chẳng có nghĩa lý gì.
Cuối năm 1946 Hiến pháp nước Việt Nam dân chủ Cộng hoà được ban
hành. Chính phủ hợp hiến được thành lập do Chủ tịch Hồ Chí Minh đứng đầu.
Người kêu gọi các thành viên Chính phủ và viên chức trong các cơ quan Nhà
nước cần phải xem mình là công bộc của nhân dân. Người nhắc lại tư tưởng
này trong một số bài viết. Trong bài "Chính phủ là công bộc của dân" (Báo 9
Cứu quốc, số 46, ngày 19-9-1945) Người viết: "Người xưa nói quan là công
bộc của dân, ta cũng có thể nói: Chính phủ là công bộc của dân vậy. Các công
việc của Chính phủ làm phải nhằm vào mục đích duy nhất là mưu tự do hạnh
phúc cho mọi người. Cho nên Chính phủ nhân dân bao giờ cũng phải đặt
quyền lợi dân lên hết thảy. Việc gì có lợi cho dân thì phải làm. Việc gì có hại
cho dân thì phải tránh. Uỷ ban nhân dân là Uỷ ban có nhiệm vụ thực hiện tự
do dân chủ cho dân chúng. Nó phải hành động đúng tinh thần tự do dân chủ
đó. Trong bài "Nói chuyện với các đại biểu báo chí về nội trị, ngoại giao nước
nhà trong những ngày vừa qua" (Nói ngày 6-10-1945, báo Cứu quốc, số 61,
ngày 8-10-1945) Người nhắc nhở: "Chính phủ Dân chủ Cộng hoà lâm thời là
công bộc của nhân dân. Anh em trong Chính phủ, ai là người có tài năng, có
đức hạnh giúp đỡ cho dân, cho nước, tất nhiên là được quốc dân hoan nghênh.
Là người này hay người khác cũng thế, ai là dân đều có quyền giúp đỡ. Nước
ta đã là một nước Dân chủ Cộng hoà, chính quyền đã ở trong tay dân, nhân
dân hoan nghênh người có tài, có đức gánh vác cho dân được thì người đó

phạm, cố tình hướng dẫn người dân đi khiếu kiện vòng vo, gây lãng phí, tốn
kém và làm cho dân thiếu tin tưởng vào việc giải quyết khiếu nại, tố cáo của
các cơ quan nhà nước.
Trước hết, pháp luật khiếu nại, tố cáo phản ánh bản chất chính trị của
Nhà nước dân chủ. Nhà nước của dân, do dân, vì dân là nguyên tắc cơ bản chỉ
đạo quá trình xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật và cải cách bộ máy nhà
nước. Nhân dân là chủ thể của quyền lực Nhà nước. Thực hiện quyền khiếu
nại, tố cáo cũng chính là hình thức thực hiện quyền làm chủ của nhân dân. Đó
chính là quyền giám sát, quyền kiểm soát quyền lực Nhà nước mà chính nhân
dân đã ủy quyền, đã trao cho các cơ quan Nhà nước. Đó cũng chính là hình
thức thể hiện quyền tự do, dân chủ của công dân. Chính Nhà nước đã tạo lập
công cụ pháp lý để người dân tham gia quản lý Nhà nước, quản lý xã hội. Một
khi cơ quan Nhà nước, các cán bộ, công chức trong cơ quan Nhà nước vi
phạm quyền và lợi ích chính đáng của công dân, lợi ích của Nhà nước và lợi 11
ích của xã hội thì việc công dân khiếu nại và tố cáo chính là sự kiểm soát
quyền lực Nhà nước từ phía chủ thể quyền lực Nhà nước.
Việc công dân thực hiện quyền khiếu nại, tố cáo và các cơ quan Nhà
nước có thẩm quyền giải quyết khiếu nại, xử lý tố cáo theo đúng quy định của
pháp luật được coi là sự phản chiếu giá trị công bằng của pháp luật.
Giải quyết tốt khiếu nại, tố cáo đem lại niềm tin cho người dân, người
dân cảm nhận được sự công bằng xã hội, sự nghiêm minh của pháp luật và giá
trị của quyền con người, quyền công dân được tôn trọng. Giá trị này được thể
hiện trong chính pháp luật về khiếu nại, tố cáo, trong các quy định về tiếp
nhận và phản hồi thông tin trong giải quyết khiếu nại, tố cáo; về bảo đảm tính
công khai, đối thoại trong suốt quá trình xem xét giải quyết vụ việc "Quốc
hội phục vụ dân đồng thời chịu sự kiểm tra, giám sát, thúc đẩy của dân. Một
Quốc hội thực sự dân chủ thì sẽ có tác dụng rất to lớn trong việc thu hút và

hành những nghĩa vụ theo bản án đã tuyên. Như vậy, việc thi hành Điều 74
này cũng không hề đơn giản và bản án hành chính không được cơ quan Nhà
nước thi hành cũng không thể bị cưỡng chế thi hành.
Đã có lúc các cơ quan có thẩm quyền giải quyết khiếu nại, tố cáo theo
kiểu đột phá, chiến dịch. Đó là việc Chính phủ tập trung cử các đoàn về các
địa phương, giải quyết tại chỗ những khiếu nại, tố cáo của dân. Mặc dù có thu
được một số kết quả nhất định nhưng theo chúng tôi, đó không phải là cách
làm thường xuyên trong quản lý Nhà nước, chỉ mang tính nhất thời, không
mang lại hiệu quả lâu dài. Không ít kết luận của các đoàn công tác của Chính
phủ sau nhiều năm vẫn không được thực hiện.
Từ thực tiễn đó, Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội, với tư cách là cơ
quan đại diện của nhân dân cần phải nâng cao vai trò của mình trong hoạt
động xử lý đơn khiếu nại, tố cáo và giám sát việc giải quyết của các cơ quan
có thẩm quyền nhằm đảm bảo quyền khiếu nại, tố cáo của công dân, kịp thời 13
có biện pháp lấp các “lỗ hổng” trong chính sách pháp luật cũng như trong
hoạt động của cơ quan hành nhà nước.
1.3. Vị trí, vai trò của Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội trong việc
xử lý đơn khiếu nại, tố cáo của công dân
Trong bộ máy Nhà nước Việt Nam, Quốc hội có vị trí, vai trò đặc biệt
quan trọng. Điều này đã được minh chứng qua lịch sử hơn 60 năm hình thành
và phát triển của Quốc hội nước ta. Vị trí, vai trò của Quốc hội được khẳng
định qua hai đặc điểm, đó là: Quốc hội là cơ quan đại biểu cao nhất của nhân
dân (hay còn gọi là cơ quan đại diện dân cử cao nhất của nhân dân) và là cơ
quan quyền lực Nhà nước cao nhất của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt
Nam. Vị trí của Quốc hội đã được xác định trên cơ sở quy định của Hiến
pháp, Luật Tổ chức Quốc hội và nhiều văn bản quy phạm pháp luật khác.
Kế thừa các bản Hiến pháp năm 1946, năm 1959 và năm 1980; Hiến

dung của Hiến pháp và pháp luật. Mặt khác, ở nước ta, Quốc hội là cơ quan
Nhà nước cao nhất có đủ thẩm quyền quyết định những vấn đề thuộc chủ
quyền quốc gia, những vấn đề trọng đại của đất nước; đồng thời, thực hiện
quyền giám sát tối cao đối với toàn bộ hoạt động của bộ máy Nhà nước. Quốc
hội còn là nơi để xem xét và quyết định các vấn đề về nhân sự cấp cao trong
các cơ quan Nhà nước ở Trung ương như: bầu Chủ tịch và Phó Chủ tịch nước,
Thủ tướng Chính phủ, Chánh án Toà án nhân dân tối cao và Viện trưởng Viện
kiểm sát nhân dân tối cao. Bên cạnh đó, do tổ chức và hoạt động của bộ máy
Nhà nước ta được thực hiện theo nguyên tắc: tất cả quyền lực nhà nước đều
thuộc về nhân dân, nhân dân sử dụng quyền lực của mình thông qua cơ quan
đại diện của mình, đó là Quốc hội và Hội đồng nhân dân. Tuy nhiên, Hội
đồng nhân dân chỉ là cơ quan quyền lực Nhà nước địa phương, do cử tri từng
địa phương bầu ra; nó không giống như Quốc hội là do cử tri toàn quốc bầu
ra. Đây chính là cơ sở cho Quốc hội trở thành cơ quan quyền lực nhà nước 15
cao nhất ở nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Điểm này khẳng định
rõ: Quốc hội Việt Nam có vị trí, vai trò cao hơn so với Quốc hội của nhiều
nước. Ví dụ như ở Vương quốc Anh, thì: "Nguyên thủ quốc gia - Nữ hoàng
đứng trên Quốc hội Anh, thì ở Nhà nước Việt Nam mặc dù là Nguyên thủ
quốc gia nhưng Chủ tịch nước vẫn phải đứng dưới Quốc hội, do Quốc hội
bầu ra và phải chịu trách nhiệm báo cáo trước Quốc hội" [20, tr. 166 - 167].
Như vậy, Quốc hội nước ta chiếm vị trí cao nhất trong toàn bộ bộ máy
của Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam; có thể khẳng định rằng,
không một cơ quan Nhà nước nào trong hệ thống các cơ quan Nhà nước ở
nước ta lại có được vị trí, vai trò quan trọng như Quốc hội.
Cơ cấu tổ chức của Quốc hội nước ta bao gồm các đại biểu Quốc hội và
các cơ quan của Quốc hội. Do đó, đại biểu Quốc hội có một địa vị pháp lý rất
đặc biệt; được quy định rõ trong Hiến pháp và pháp luật. Điều 43 Luật Tổ

a) Việc khiếu nại, tố cáo của công dân một mặt biểu hiện quyền giám sát
trực tiếp của nhân dân đối với bộ máy nhà nước, mặt khác lại là nguồn thông
tin quan trọng cho hoạt động giám sát. Thông qua công tác này mà Quốc hội
nắm bắt được tâm tư, nguyện vọng và những yêu cầu bức xúc của người dân
và qua đó có những giải pháp kịp thời, phù hợp góp phần vào việc bảo vệ
quyền và lợi ích hợp pháp của họ khi bị xâm hại. Vì vậy, nếu việc tổ chức xử
lý đơn khiếu nại, tố cáo ở Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội được hợp lý và
hoạt động giám sát được tiến hành thường xuyên, có hiệu quả sẽ đảm bảo
quyền và lợi ích chính đáng của công dân, làm cho quyền khiếu nại, tố cáo
của công dân được bảo đảm và thực thi thống nhất trong cả nước đồng thời
góp phần xây dựng được một bộ máy Nhà nước trong sạch, vững mạnh.
b) Một mặt, qua việc giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân, các cơ
quan nhà nước có thẩm quyền có nhiệm vụ tìm ra nguyên nhân và điều kiện
của khiếu nại, tố cáo của công dân, từ đó tự mình hoặc yêu cầu các cơ quan, 17
tổ chức hữu quan áp dụng các biện pháp khắc phục, phòng ngừa. Mặt khác,
trong mối quan hệ với cơ quan, tổ chức, cá nhân chịu sự giám sát thì Quốc hội
có thể phát hiện những tồn tại trong hoạt động của các cơ quan, tổ chức, cá
nhân này trong công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo, góp phần giúp các đối
tượng chịu sự giám sát nhận thấy những tồn tại trong quá trình thực hiện chức
năng, nhiệm vụ của mình, từ đó có giải pháp khắc phục những khó khăn, bất
cập, chấn chỉnh về mặt tổ chức, hoạt động, góp phần tích cực vào cải cách tư
pháp, cải cách hành chính, xây dựng bộ máy nhà nước trong sạch, vững mạnh
đồng thời làm cho việc thực hiện nhiệm vụ bảo vệ an ninh quốc gia, giữ gìn
trật tự xã hội, bảo vệ quyền con người, quyền và lợi ích hợp pháp của công
dân được tốt hơn qua đó thúc đẩy quá trình xây dựng, hoàn thiện nhà nước
pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân ở
nước ta. Đồng thời, qua hoạt động xử lý đơn khiếu nại, tố cáo và giám sát

hiện chúng trong đời sống thực tiễn. Về bản chất, quyền giám sát tối cao của
Quốc hội mang bản chất của quyền lực nhà nước nghĩa là thực hiện ý chí của
nhân dân. Khẳng định tính quyền lực nhà nước của quyền giám sát tối cao của
Quốc hội là khẳng định vị trí pháp lý của Quốc hội giữ vai trò quyết định
trong sự vận hành của cơ chế tổ chức và thực hiện quyền lực ở nước ta.
Quốc hội thực hiện chức năng giám sát tối cao với mục đích là kiểm
soát hệ thống các cơ quan hành pháp và tư pháp trong việc thực hiện chức
năng, quyền hạn của bộ máy hành chính, bộ máy tư pháp, việc thực thi pháp
luật và các quyết định của Quốc hội. Việc Quốc hội thực hiện quyền giám sát
đối với hoạt động của các cơ quan hành pháp và tư pháp xuất phát từ một vấn
đề có tính nguyên tắc: Cơ quan quyền lực nhà nước cần phải kiểm soát các
hoạt động của bộ máy nhà nước nhằm duy trì sự vận hành của bộ máy nhà
nước theo hướng đáp ứng tốt nhất ý chí và nguyện vọng của nhân dân. Với tư
cách là cơ quan đại diện của dân, Quốc hội giám sát hoạt động của bộ máy 19
nhà nước ta là nhằm bảo vệ quyền lợi của nhân dân, đặc biệt là thực hiện dân
chủ xã hội chủ nghĩa [39, tr.376].
Tuy nhiên, do tính chất hoạt động không thường xuyên nên Quốc hội
không thể trực tiếp giám sát đối với mọi đối tượng, mọi khâu trong quá trình
thực hiện Hiến pháp và pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân
nên quyền giám sát tối cao của Quốc hội đã được uỷ quyền cho Uỷ ban
thường vụ Quốc hội, Hội đồng dân tộc, Uỷ ban của Quốc hội, Đoàn đại biểu
Quốc hội và đại biểu Quốc hội. Do đó, các chủ thể này có quyền tiến hành các
hoạt động xử lý đơn khiếu nại, tố cáo và giám sát việc giải quyết khiếu nại, tố
cáo của công dân trong phạm vi lĩnh vực phụ trách.
Để bảo đảm hiệu quả công tác giám sát của các cơ quan của Quốc hội
đối với việc giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân, Luật khiếu nại, tố cáo,
Luật hoạt động giám sát của Quốc hội, Quy chế hoạt động của Uỷ ban thường

chức, cá nhân có liên quan hoặc người khiếu nại, tố cáo đến trình bày và cung
cấp thông tin, tài liệu mà Hội đồng dân tộc, Uỷ ban quan tâm. Ngoài ra, Hội
đồng dân tộc, Uỷ ban của Quốc hội có thể tổ chức các cuộc họp có sự tham
gia của cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan để có thêm thông tin đánh giá
về việc giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân.
1.4. Hoạt động xử lý đơn khiếu nại, tố cáo của công dân tại các cơ
quan của Quốc hội
1.4.1. Hoạt động tiếp công dân, tiếp nhận đơn thư khiếu nại, tố cáo
của công dân
Tiếp công dân là một nhiệm vụ của Quốc hội, của Ủy ban thường vụ
Quốc hội, Hội đồng dân tộc, các Uỷ ban của Quốc hội, các đại biểu Quốc
hội và đoàn đại biểu Quốc hội. Hoạt động tiếp công dân là nhằm thu thập và
tiếp nhận ý kiến, nguyện vọng của công dân, hướng dẫn giúp đỡ công dân
thực hiện việc khiếu nại, tố cáo và nhận đơn thư của công dân để xử lý.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status