1
ĐỀ TÀI
Mô hình SWOT để xây dựng chiến lược đẩy mạnh xuất khẩu
hàng thuỷ sản Việt Nam vào thị trường Mỹ - Một thị trường
mở nhưng đầy thách thức
LỜI MỞ ĐẦU
Thuỷ sản Việt Nam đang trên đà phát triển mạnh với những thành tựu to lớn
đang góp phần đưa nền kinh tế Việt Nam hội nhập kinh tế quốc tế. Xuất khẩu
hàng thuỷ sản Việt Nam đó cú một tốc độ tăng trưởng tương đương với tốc độ
tăng trưởng của các ngành công nghiệp, dịch vụ và xây dựng.Với giá trị xuất
khẩu hàng năm có chiều hướng tăng lên và đã vượt qua giới hạn 10% ( gần 12%)
của giá trị xuất khẩu quốc gia vào năm 2001 thì phải nói đây là thế mạnh thực sự
của quốc gia.
Cùng với những cơ hội rộng mở, hàng thuỷ sản Việt Nam đang phải đối mặt
với những thách thức lớn đặt ra trong sân chơi chung thương mại quốc tế. Khi
hàng thuỷ sản Việt Nam đó cú chỗ đứng trên một số thị trường lớn như Mỹ, EU,
Nhật Bản đi kèm theo nó là rất nhiều rủi ro. Mỹ được coi là thị trường chiến
lược của hàng thuỷ sản Việt Nam với kim ngạch xuất khẩu nhất, nhì so với tổng
kim ngạch xuất khẩu hàng thuỷ sản Việt Nam và đang chiếm một thị phần đáng
kể trên thị trường thuỷ sản Mỹ. Việc tiếp tục đẩy mạnh xuất khẩu và nâng cao
thị phần trên thị trường này không dơn giản trong khi cạnh tranh ngày càng gay
gắt, hơn nữa thị trường Mỹ luôn chứa đựng những yếu tố rủi ro bất ngờ, đòi hỏi
phải có sự nghiên cứu kĩ lưỡng môi trường kinh doanh để xây dựng chiến lược
cho phù hợp trong từng thời kì. Việc phân tích điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội,
thách thức của việc xuất khẩu thuỷ sản Việt Nam vào thị trường Mỹ sẽ giúp
chúng ta đánh giá tốt hơn về hiện trạng, xem xét các yếu tố nội tại cũng như các
tác động khách quan từ phía thị trường Mỹ để đưa ra những chiến lược thực hiện
mục tiêu đề ra, nâng cao lợi nhuận, giành nhiều thị phần hơn trên đất Mỹ. Đó là
2
lý do tôi chọn mô hình SWOT để xây dựng chiến lược đẩy mạnh xuất khẩu hàng
thuỷ sản Việt Nam vào thị trường Mỹ- một thị trường mở nhưng đầy thách thức.
chuỗi giá trị Mỗi công cụ phân tích sẽ cho ta cách nhìn môi trường kinh doanh
dưới các góc độ khác nhau. Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài thì mô hình
SWOT là thích hợp hơn cả.
1.2.Khỏi quát về mô hình SWOT
Mô hình SWOT chỉ ra các điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức đối với
ngành hàng, doanh nghiệp từ đó kết hợp phát triển các loại chiến lược, đề xuất
các giải pháp để phát huy những điểm mạnh, khai thác những cơ hội, tối thiểu
hoá những điểm yếu và hạn chế những thách thức để hoạt động kinh doanh đạt
hiệu quả cao, lợi nhuận lớn và tránh được các rủi ro. Các loại chiến lược là:
chiến lược thế mạnh-cơ hội (SO); chiến lược điểm yếu-cơ hội (WO); chiến lược
thế mạnh-đe doạ (ST); chiến lược điểm yếu-đe doạ (WT). Ngoài ra cũn cú cỏc
chiến lược mở rộng kết hợp nhiều yếu tè như: SOT, SWT, OWT, SWOT.
Các yếu tố điểm mạnh, điểm yếu là các yếu tố bên trong (môi trường bên
trong) cũn cỏc yếu tố cơ hội, thách thức (môi trường bên ngoài). Sự kết hợp các
yếu tố bên trong và bên ngoài là vấn đề cơ bản nhất và khó khăn nhất của việc
xây dựng và sử dụnh ma trận SWOT. Điều này đòi hỏi phải có sự phán đoán tốt
về mối quan hệ giữa các yếu tố.
Ma trận SWOT
Yếu tố bên trong\ yếu
tố bên ngoài
O: cơ hội T: thách thức
S: thế mạnh Chiến lược SO: sử
dụng những điểm mạnh
để khai thác cơ hội.
Chiến lược ST: khai
thác điểm mạnh để
vượt qua thách thức.
W: điểm yếu Chiến lược WO: tận
dụng cơ hội để vượt
qua những điểm yếu.
chỉ rõ những thế mạnh của hàng thuỷ sản mà chúng ta cần phát huy những cơ
hội mở ra trên thị trường Mỹ cần tận dụng, những điểm yếu ta cần khác phục và
những thách thức cần vượt qua. Cách phân tích này khá rõ ràng và trọng tâm,
6
giúp ta dễ dàng đánh giá hiện trạng, năng lực cạnh tranh, nhu cầu thị trường để
định hướng xác định mục tiêu cho xuất khẩu thuỷ sản Việt Nam và các biện
pháp để thực hiện mục tiêu Êy.
Còng như sử dụng mô hình SWOT để phân tích môi trường kinh doanh của
mặt hàng bất kỳ, trong phạm vi nghiên cứu của đề tài đã chỉ ra thế mạnh của
hàng thuỷ sản Việt Nam như: điều kiện tự nhiên, chất lượng sản phẩm, phong
phú mặt hàng điểm yếu về nguyờn liệu cho chế biến xuất khẩu, về trình độ
khoa học kỹ thuật ; những cơ hội cho hàng thuỷ sản Việt Nam trên thị trường
Mỹ như: xu hướng tiêu dùng gia tăng, những ưu đãi cũng như thách thức đặt
ra cho hàng thuỷ sản như thách thức từ hệ thống pháp luật Mỹ, khoảng cách về
văn hoá kinh doanh Trong chương II sẽ phân tích sâu hơn từng yếu tố trên và
sự đánh giá kết hợp các yếu tố đó trên cơ sở vận dụng mô hình SWOT
7
CHƯƠNG 2: XUẤT KHẨU HÀNG THUỶ SẢN VIỆT NAM
SANG TRƯỜNG MỸ, ĐIỂM YẾU, ĐIỂM MẠNH, CƠ HỘI VÀ
NHỮNG THÁCH THỨC.
I. THỰC TRẠNG XUẤT KHẨU THỦY SẢN VIỆT NAM SANG THỊ TRƯỜNG MỸ
1. Đặc điểm thị trường thủy sản Mỹ
1.1 Tình hình sản xuất thủy sản của Mỹ và những đối thủ cạnh tranh
Mỹ có khoảng 1300 nhà máy chế biến thủy sản trang thiết bị hiện đại, đóng
góp khoảng 25 tỷ USD trong tổng thu nhập quốc dân của Mỹ. Các doanh nghiệp
sản xuất thủy sản của Mỹ cung cấp trên 50% sản lượng thủy sản của thị trường
Mỹ.
Mỹ là đối thủ cần nghiên cứu đầu tiên vì tình hình cung cấp thủy sản của Mỹ
cho thị trường nội địa là yếu tố ảnh hưởng rất lớn đến sản lượng thủy sản nhập
khẩu vào Mỹ.
nghiệp Việt Nam cần phải nghiên cứu kĩ lưỡng môi trường vĩ mô và mức độ
cạnh tranh trên thị trường trước khi xây dựng các chiến lược kinh doanh của
mình để có thể xâm nhập thành công.
1.2 Tình hình nhập khẩu thủy sản của Mỹ
Mỹ là cường quốc thứ 2 thế giới về nhập khẩu thủy sản, chỉ sau Nhật. Mỹ
nhập khẩu thủy sản từ 130 nước trên thế giới với khối lượng 1,6 triệu tấn, đạt
khoảng 10 tỷ USD( năm 2000 ). Người tiêu dùng Mỹ sử dụng xấp xỉ 8% tổng
sản lượng thủy sản của thế giới, trong đó hơn một nửa từ nhập khẩu. Đây là thị
trường tiềm năng rất lớn đối với ngành thủy sản Việt Nam nói riêng và thế giới
nói chung.
Hàng năm, trung bình Mỹ phải nhập khẩu một lượng hải sản giá trị khoảng 2.5
tỷ USD từ các nước Châu Á. Riêng mặt hàng tôm, xuất khẩu của Thái Lan
chiếm trên 25% tổng lượng tôm nhập khẩu vào Mỹ, trong khi đó thị phần của
Trung Quốc tăng từ 12% lên đến 16%. Các nguồn cung cấp lớn phải kể đến Việt
Nam, Ecuado, Braxin và Indonexia.
9
2. Tình hình xuất khẩu thuỷ sản Việt Nam vào Mỹ
Nhận thức được tầm quan trọng của việc đa dạng hoá thị trường xuất khẩu
trong việc gia tăng giá trị xuất khẩu và hình thành thế chủ động và cân đối về thị
trường, thủy sản Việt Nam đã thực hiện mở rộng thị trường xuất khẩu sang EU,
Trung Quốc, Mỹ… Đặc biệt là thị trường Mỹ được đánh giá là thị trường đầy
triển vọng. Năm 2000 đứng sau Nhật Bản nhưng từ năm 2001_2003 thị trường
Mỹ đã trở thành thị trường hàng đầu của thủy sản Việt Nam. Tuy nhiên, đến
2004 có những thay đổi. Dưới đây là bảng tỉ trọng các thị trường.
Tỷ trọng các thị trường chính XK thủy sản Việt Nam
Đơn vị tính: %
1998 1999 2000 2001 2002 2003 2004
Mỹ 11.6 13.8 20.9 28.92 32.0 35.3 24.1
Nhật 42.3 40.7 32.8 26.14 27.0 26.3 31.4
EU 12.4 9.6 6.9 6.7 4.2 5.7 9.9
Nguồn: VIETNAM TRADE REVIEW
Qua bảng trên ta thấy khối lượng và giá trị tất cả các mặt hàng xuất khẩu
tăng từ 2002_2003, năm 2004 có sự giảm sút do những nguyên nhân đã nói ở
trên. Qua đó ta nhận thấy hai mặt hàng thủy sản chủ lực của Việt Nam sang thị
trường Mỹ là tôm và cá.
Về tôm: khối lượng xuất khẩu tôm vào Mỹ của Việt Nam liên tục tăng lên
từ năm 1999 _2003. Năm 1999 với 95 triệu USD Việt Nam đứng hàng thứ 9
trong 10 nước cung cấp tôm hàng đầu cho thị trường này. Nhưng đến 2002 với
467,332 triệu USD tăng 467,237 triệu USD so với năm 1999 đưa Việt Nam lên
hàng thứ 6, riêng mặt hàng này chiếm tới 76% về giá trị trong tổng số các mặt
hàng xuất khẩu vào Mỹ. Năm 2003 giá trị xuất khẩu mặt hàng này đạt 513,276
triệu USD tăng 45,944 triệu USD so với 2002 và chiếm tới 70.6% về giá trị.
Về cá: Cá là mặt hàng chủ lực xếp thứ 2 sau tôm. Mặt hàng này có tốc độ
tăng đáng kể, năm 2000 đạt 59 triệu USD tăng lên 209,628 triệu USD năm 2003.
11
Đây là một con số đáng kể, tăng 209,569 triệu USD so với năm 2000 và nó
chiếm tới 28.8% về giá trị trong tổng số các mặt hàng xuất khẩu vào Mỹ.
Dự báo Việt Nam có thể xuất khẩu 600 triệu USD hải sản vào Mỹ năm 2010,
tăng 7 lần so với năm 1998, 6 lần so với năm 2000. Dưới đây là dự báo xuất
khẩu thuỷ sản Việt Nam sang Mỹ:
Dự báo xuất khẩu thuỷ sản Việt Nam sang thị trường Mỹ
Xuất khẩu thủy sản Việt
Nam vào Mỹ (triệu USD)
Tăng xuất khẩu thủy
sản Việt
Nam
vào Mỹ
(%)
thị phần thủy sản Việt
Nam
nghìn tấn cá đối và 700 nghìn tấn cá nổi nhỏ và 120 nghìn tấn cá nổi đại dương.
Bên cạnh cá biển còn có nhiều nguồn lợi tự nhiên như trên 1600 loài giáp xác,
sản lượng cho phép khai thác hàng năm là 50-60 nghìn tấn/năm, loài có giá trị
kinh tế cao là tôm biển, tôm hùm và tôm mũ ni, cua, ghẹ, khoảng 2500 loài động
vật thân mềm trong đó ý nghĩa kinh tế lớn nhất là bạch tuộc, sản lượng cho phép
khai thác hàng năm là 60-70 nghìn tấn/năm.
Từ năm 2000 đến nay nuôi trồng thủy sản đã trở thành nghề sản xuất phổ biến
trong cả nước và chiếm vị trí quan trọng hàng đầu đưa xuất khẩu thủy sản tăng
nhanh trong thời gian qua. Năm 2004, sản lượng thủy sản nuôi trồng khai thác
nội địa đạt 1427000 tấn tăng 165,3% so với năm 1998. Trong đó tập trung vào
phát triển các đối tượng có giá trị xuất khẩu cao và có khả năng về thị trường
như tôm sú, cá tra, cá basa… Nuôi tôm sú phát triển nhanh về quy mô, năng suất
và sản lượng, đưa sản lượng tôm nuôi từ 25000 tấn năm 1998 lên khoảng
295000 tấn năm 2004. Cá tra, cá basa ngày càng phát triển, năm 2004 đạt
khoảng 300000 tấn đưa kim ngạch xuất khẩu sản phẩm này lên gần 240 triệu
USD.
Như vậy, tiềm năng của thủy sản Việt Nam còn rất lớn đảm bảo nguồn nguyên
liệu phong phú, dồi dào cho ngành chế biến thủy sản Việt Nam. Điều đó tạo điều
kiện cho các doanh nghiệp tập trung vào đổi mới công nghệ, tạo ra những sản
phẩm thủy sản chế biến chất lượng cao đáp ứng được yêu cầu của các thị trường
khó tính nói chung và thị trường Mỹ nói riêng.
13
1.2 Sản phẩm đã đáp ứng tiêu chuẩn của các nước nhập khẩu
Bộ thủy sản đã ban hành hàng loạt các tiêu chuẩn ngành về điờự kiện đảm
bảo an toàn vệ sinh của tàu cá, cảng cá, chợ cá, cơ sở thu mua, cơ sở sản xuất
nước đá, sơ chế thủy sản, kho lạnh, cơ sở bán lẻ… Xây dựng và ban hành các
tiêu chuẩn an toàn vệ sinh thực phẩm tương đương với tiêu chuẩn cuả các nước
nhập khẩu. Công tác kiểm tra, kiểm soát về an toàn vệ sinh thực phẩm đã được
chuyển đổi từ kiểm tra sản phẩm cuối cùng sang quản lí và thực hiện các biện
pháp về an toàn vệ sinh thực phẩm theo hệ thống xuyên suốt từ khâu sản xuất
1.3.2.Mở rộng thị trường
Những kết quả đạt được trong xuất khẩu thủy sản những năm qua không thể
tách rời với việc tập trung chỉ đạo công tác thị trường. Nhà nước và doanh
nghiệp tiến hành nhiều hoạt động xúc tiến thương mại: hội thảo về thị trường,
tham dự hội chợ quốc tế về thủy sản, cung cấp thông tin về thị trường, tuyên
truyền quảng cáo sản phẩm thủy sản Việt Nam trên các phương tiện thông tin
đại chúng, tạp chí chuyên ngành quốc tế, bước đầu đưa thương mại điện tử vào
ngành thủy sản… Nhờ đó ta đã hình thành thế chủ động và cân đối về thị trường,
không lệ thuộc vào thị trường trường truyền thống Nhật Bản, giảm tỷ trọng các
thị trường trung gian, bước đầu giành được vị trí quan trọng trên các thị trường
lớn có yêu cầu khắt khe về chất lượng và an toàn vệ sinh như Mỹ, EU.
Cơ cấu của các thị trường đó có sự thay đổi, thị trường Nhật vẫn là thị trường
lớn nhưng giảm về tỷ trọng: năm 1998 là 42,30% năm 2003 xuống còn 26,3%,
đứng thứ 2 là Mỹ. Năm 2004 do tác động của vụ kiện bán phá giá tôm nên thị
trường Mỹ lùi xuống vị trí thứ 2 và Nhật Bản lại chiếm ngôi đầu bảng. Tuy
nhiên sau kết luận cuối cùng về việc kiện bán phá giá tôm của doanh nghiệp
Việt Nam thì thị trường Mỹ sẽ được khôi phục lại vị trí của nó và ngày càng trở
thành thị trường quan trọng.
Như vậy với việc mở rộng phát triển thị trường, sản phẩm thủy sản Việt
Nam ngày càng có tiếng vang trên thị trường thế giới. Do đó khi vào thị trường
Mỹ, một thị trường nhiều biến động ta có thể linh hoạt chủ động đối phó với
15
những biến động đó, không làm ảnh hưởng lớn đến hoạt động xuất khẩu thủy
sản. Không ngừng giữ vững và nâng cao thị phần trờn cỏc thị trường truyền
thống đồng thời mở rộng phát triển các thị trường tiềm năng tạo nên sự phát
triển cân đối, bền vững cho sản phẩm thủy sản Việt Nam.
1.4 Đó cú một số công nghệ cao trong chế biến và nuôi trồng
Rào cản lớn cho xuất khẩu thủy sản Việt Nam sang thị trường Mỹ hiện nay là
Mỹ đã đưa ra các quy định về tiêu chuẩn chất lượng ngặt nghèo mà những quy
định này chủ yếu đối với các sản phẩm có nguồn gốc nuôi trồng. Vì vậy để đảm
Bên cạnh những điểm mạnh hàng thủy sản Việt Nam vẫn còn rất nhiều điểm
yếu kém. Đất nước ta đang trong quá trình đổi mới CNH- HĐH, cũng như các
ngành khác thủy sản Việt Nam đang phải từng bước khắc phục những yếu kém,
tồn tại để nâng cao năng lực cạnh tranh.
2.1. Về nguyên liệu
Tuy nuôi trồng và khai thác thủy sản được quan tâm và phát triển nhưng việc
phát triển nguyên liệu ở nhiều nơi còn mang tính tự phát, dễ nảy sinh tác hại đối
với môi trường ảnh hưởng lớn đến phát triển thủy sản bền vững.
Sản xuất nguyên liệu và bảo quản sau thu hoạch về cơ bản chưa đáp ứng các
tiêu chuẩn về vệ sinh an toàn thực phẩm. Giỏ tôm giống cao, giá thức ăn nuôi
tôm cũng cao đã làm tăng giá thành nguyên liệu, khi tỷ trọng giá nguyên liệu
thường chỉ chiếm đến 90% giá thành sản phẩm. Giá nguyên liệu cao đã làm
giảm khả năng cạnh tranh của sản phẩm tôm Việt Nam đặc biệt khi thị trường
thế giới biến động, giá xuất khẩu giảm.
Khai thác hải sản chưa được đầu tư đồng bộ nhất là về hậu cần dịch vụ công
nghệ khai thác và bảo quản trên tàu, điều tra hướng dẫn về nguồn lợi… Việc tổ
chức các đoàn đội khai thác gắn kết khai thác với thu mua chế biến xuất khẩu
mới chỉ dừng lại ở một bộ phận rất nhỏ. Vì vậy tỷ lệ sản phẩm khai thác hải sản
17
đưa vào chế biến xuất khẩu tuy đã tăng lên nhưng chưa tương xứng với tiềm
năng của nước ta.
Việc kiểm soát, đánh giá và quy hoạch hệ thống các cơ sở chế biến thủy sản
còng như hệ thống kho lạnh chưa được tiến hành đầy đủ trên toàn quốc nên gây
khó khăn cho xây dựng chiến lược đầu tư phù hợp.
2.2. Về công tác thị trường
Công tác thị trường tuy đã được quan tâm và đạt được một số kết quả nhưng
mới chỉ ở trình độ thấp. Phương thức tiếp thị và bán hàng tuy đã chuyển sang
chủ động nhưng vẫn thông qua sử dụng thương hiệu của đối tác, chưa có khả
năng tiếp cận người tiêu dùng, chưa xây dựng được chiến lược phát triển thị
trường cho sản phẩm chủ lực cũng như chưa tổ chức triển khai xây dựng thương
Tăng (giảm)
về giá trị
( % )
Tôm đông lạnh 1059,068 47,28 Tăng 7,87% Tăng 11,55%
Cá đông lạnh 440 19,7 Tăng 20% Tăng 26,2%
Mực, bạch tuộc 130 5,8 Giảm 1,17%
Nguồn: báo cáo tổng kết ngành thủy sản năm 2003 (T1/2004)
Do vậy việc cân đối và phát triển các mặt hàng nhất là các mặt hàng giá trị
gia tăng là tất yếu, đảm bảo khi có biến động bất lợi về mặt hàng nào đó ta vẫn
có thể chủ động chuyển hướng kinh doanh. Hiện nay tôm vẫn chiếm tỷ trọng
quá cao trên thị trường Mỹ khi vụ kiện phá giá xảy ra đã làm ảnh hưởng rất lớn
đến xuất khẩu thuỷ sản vào Mỹ, nếu ta phát triển hơn nữa các mặt hàng khác
chẳng hạn cá ngừ, các sản phẩm đồ hộp công nghệ cao có thể ứng phó với
biến động bất lợi đối với mặt hàng tôm.
2.4. Vấn đề bảo đảm vệ sinh an toàn thực phẩm
Công tác quản lí an toàn vệ sinh mới chỉ tập trung thực hiện ở khu vực chế
biến chưa được thực hiện tốt ở khu vực sản xuất nguyên liệu và bảo quản sau
thu hoạch ( chủ yếu sử dụng đá và muối ) nên vẫn còn hiện tượng bị các nước
nhập khẩu cảnh báo và trả lại hàng. Yêu cầu về truy xuất nguồn gốc sản phẩm
đang là một thách thức lớn đối với toàn ngành. Tình trạng tiờm chớch tạp chất
vẫn còn diễn ra ở nhiều nơi, việc sử dụng kháng sinh trong nuôi trồng, bảo quản
nguyên liệu vẫn chưa kiểm soát tốt. Mặt khác do thiếu những cơ sở dịch vụ như
cho cá tập trung ở cỏc vựng sản xuất nguyên liệu nờn đó tạo kẽ hở cho tư
thương Ðp giá nguyên liệu ảnh hưởng đến hiệu quả sản xuất của nông ngư dân,
nhất là vào những thời điểm có nhiều nguyên liệu.
2.5 Vấn đề áp dụng khoa học kỹ thuật
19
Công tác nghiên cứu khoa học phục vụ cho sản xuất thủy sản tuy có được
quan tâm nhưng chưa đáp ứng được nhu cầu ngày càng cao nhằm tạo sức cạnh
tranh trên thị trường thế giới. Nhiều kết quả nghiên cứu còn chậm được phổ biến
hội mới, nếu ngành thủy sản Việt Nam không khắc phục những điểm yếu trờn
thỡ sẽ bị đào thải. Cạnh tranh ngày càng khốc liệt, để tồn tại và phát triển thì
thủy sản Việt Nam còn phải nỗ lực hơn nữa, tạo ra nhiều thế mạnh mới, khắc
phục những yếu kém. Nếu không sẽ không giữ được vị trí hiện có trên thị trường
Mỹ mà còn thất bại trên cả những thị trường dễ tính hơn.
3. Cơ hội cho hàng thủy sản Việt Nam
Với tư cách là nền kinh tế lớn hàng đầu thế giới, là chủ của nhiều công nghệ
nguồn, là nơi tập trung đông đảo các công ty đa quốc gia, ngân hàng và quĩ đầu
tư lớn, Mỹ có vai trò và ảnh hưởng đáng kể trong giới đầu tư thế giới.Từ khi
hiệp định thương mại Việt_Mỹ( BTA) được kí kết tạo điều kiện cho các doanh
nghiệp Việt Nam hướng sang thị trường Mỹ, tăng nguồn cung cấp nhập khẩu
với sức cạnh tranh có lợi cho Việt Nam, đồng thời đưa Việt Nam vào mạng lưới
kinh doanh toàn cầu của họ. Thị trường Mỹ đã mở ra nhiều cơ hội mới cho các
ngành kinh tế Việt Nam đặc biệt là thủy sản, dệt may, đồ gỗ…
3.1.Hiệp định thương mại Việt_ Mỹ(BTA) và những tác động của nó
3.1.1.Mét số ưu đãi
Ngày 28/11/2001 nghị quyết số 48/2001/QH1 về phê chuẩn hiệp định giữa
CHXHCN Việt Nam và Hợp chủng quốc Hoa Kì về quan hệ thương mại đã
được Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam khóa X kỳ họp thứ 10 thông qua.
BTA gồm 7 chương với nhiều nội dung liên quan đến thương mại, đầu tư, sở
hữu trí tuệ… trong đó nội dung tác động nhiều đến hoạt động xuất nhập khẩu
nói chung và xuất khẩu thủy sản nói riêng là nội dung về thương mại hàng hóa.
Theo hiệp định thì Việt Nam được hưởng một số ưu đãi sau:
-Quy chế tối huệ quốc và không phân biệt đối xử
-Đối xử quốc gia
21
-Hai bên cam kết khuyến khích và tạo thuận lợi cho các hoạt động xúc tiến
thương mại tại mỗi nước như hội chợ triển lãm, trao đổi cỏc phỏi đoàn và hội
thảo thương mại
-Hai bên khuyến khích việc sử dụng trọng tài để giải quyết tranh chấp phát
khỏ quan trọng. Việc triển khai trôi chảy BTA-một hiệp định lớn, toàn diện với
những cam kết đôi khi còn cao hơn WTO đã tạo nên niềm tin cho các đối tác
song phương và đa phương trong quá trình đàm phán.
Như vậy BTA đã mở ra nhiều hướng đi mới cho các ngành kinh tế Việt Nam
thâm nhập vào thị trường Mỹ. Điều này đòi hỏi hàng thủy sản Việt Nam phải
nắm bắt cơ hội đồng thời tìm hiểu và có biện pháp đối phó với những thách thức
của nó. Thực tế những năm qua khi thâm nhập thị trường Mỹ, hàng thủy sản đã
thu được những thành công nhất định nhưng cũng còn nhiều vướng mắc và biến
động.
3.2.Những xu hướng tiêu dùng có lợi cho hàng thủy sản Việt Nam trên thị
trường Mỹ
Cùng với sự gia tăng tiêu dùng toàn cầu, xu hướng tiêu dùng thuỷ sản tại Mỹ
tiếp tục tăng lên bất chấp những khó khăn của nền kinh tế. Một trong những lÝ
do chủ yếu khiến cho khối lượng nhập khẩu thủy sản của Hoa Kỳ có xu hướng
tăng là do mức tiêu thụ thủy sản bình quân của ngưới dân nước này vẫn tiếp tục
tăng trong khi sản lượng trong nước thấp, giá bán lại cao hơn giá hàng nhập
khẩu.
Mỹ là thị trường nhập khẩu và tiêu thụ tôm đông lạnh lớn nhất thế giới đặc
biệt là từ Châu Á, nhập khẩu tôm của Mỹ đạt kỷ lục mới trong năm 2004. Theo
số liệu thống kê của cục hải quan Mỹ, tổng khối lượng nhập khẩu tôm của nước
này trong năm 2004 đạt 1,14 tỷ pao tăng 2% so với 1,11 tỷ pao của năm 2003.
Khối lượng tôm nhập khẩu vào Mỹ vẫn tăng mạnh bất chấp thuế chống phá giá
được áp dụng với tôm nhập khẩu từ 6 nước ( Trung Quốc, Việt Nam, Braxin,
Ecuađo, Ấn Độ, Thái Lan ).
23
Động lực khiến cho nhập khẩu tôm vào Hoa Kỳ trong những năm gần đây
gia tăng là do giỏ tụm trờn toàn cầu giảm, một phần do sản lượng nuôi tôm ngày
càng cao. Những hạn chế của liên minh Châu Âu đối với tôm nhập khẩu cũng
khiến lượng tôm chào bán sang Hoa Kỹ tăng lên. Hơn nữa thực tế ngành sản
xuất tôm nội địa của Mỹ không thể nào cung ứng đủ nhu cầu của người tiêu
cho thấy qui mô ảnh hưởng của thuế trừng phạt tôm với các mặt hàng khác. Ông
cho biết việc áp đặt thuế trừng phạt này ảnh hưởng tới việc làm của người Mỹ và
hàng xuất khẩu Mỹ. Thuế trừng phạt chỉ mang lại lợi Ých cho một bộ phận nhỏ
người đánh bắt tôm, nhưng sẽ gây tác động lớn tới các ngành công nghiệp tiêu
dùng tôm, cũng như các mặt hàng xuất khẩu của Mỹ, mà lực lượng lao động
trong các ngành này đông hơn nhiều.
Rõ ràng rằng những quyết định thiếu hợp lí về vụ kiện tôm đối với 6 nước
trong đó có Việt Nam đã gây thiệt hại cho chính nền kinh tế Mỹ. Chúng ta có
thể tin tưởng rằng những ý kiến phản hồi từ dư luận Mỹ và những chứng minh
từ phía chúng ta có thể tác động tới chính phủ Mỹ có những quyết định đúng
đắn hơn.
Hơn nữa, cuộc khủng hoảng về thực phẩm thịt ở Châu Âu và Mỹ ở mặt hàng
thịt bò, cừu, và dịch cúm gia cầm đã khiến cho người tiêu dùng Mỹ gia tăng tiêu
thụ sản phẩm thủy sản.
Những sự kiện trên đã tạo ra hàng thủy sản Việt Nam những cơ hội để có thể
tăng nhanh sản lượng xuất khẩu thủy sản vào thị trường Mỹ.
3.5. Những ưu đãi từ phía chính phủ Việt Nam
Trong những năm qua, chính phủ và các ban ngành khỏc luụn quan tâm đến
việc xây dựng và phát triển ngành thuỷ sản trở thành một ngành kinh tế có thế
mạnh của nước ta, phát huy lợi thế trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế.
-Về định hướng phát triển
Theo điều 5 của luật thủy sản:
Nhà nước có chính sách bảo đảm phát triển thủy sản bền vững: khuyến khích
tạo điều kiện thuận lợi cho các tổ chức cá nhân khai thác và sử dụng hợp lý
25
nguồn lợi thủy sản, đảm bảo tái tạo nguồn lợi thủy sản và phát triển nuôi trồng
thủy sản trên biển, sông, hồ, đầm các vựng tự nhiên.
Nhà nước khuyến khích tổ chức cá nhân đầu tư nghiên cứu khoa học và ứng
dụng công nghệ tiên tiến phát triển nguồn nhân lực, xây dựng kết cấu hạ tầng,
phát triển nuôi thủy sản sạch, đẩy mạnh hoạt động khuyến ngư để phục vụ có