ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
NGUYỄN VĂN LÂM PHÁP NHÂN TRONG HỆ THỐNG
CÁC CHỦ THỂ CỦA QUAN HỆ PHÁP LUẬT LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI - 2011
MỤC LỤC Trang MỞ ĐẦU
1
Chƣơng 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ CHỦ THỂ
QUAN HỆ PHÁP LUẬT VÀ PHÁP NHÂN
6
1.1
Khái niệm và nội dung của quan hệ pháp luật
6
1.1.1
Khái niệm
6
1.1.2
Nội dung quan hệ pháp luật
6
1.2
Các vấn đề cơ bản về chủ thể quan hệ pháp luật
6
1.2.1
Khái niệm chủ thể quan hệ pháp luật
6
1.2.2
Quyền tự do lập hội
9
Chƣơng 2: THỰC TRẠNG HỆ THỐNG PHÁP LUẬT VÀ ÁP DỤNG
PHÁP LUẬT VỀ PHÁP NHÂN Ở VIỆT NAM
11
2.1
Lịch sử phát triển chế định về pháp nhân trong pháp luật VN
11
2.2
Thực trạng pháp luật về chủ thể quan hệ pháp luật
11
2.2.1
Thực trạng phân loại các chủ thể quan hệ pháp luật
11
2.2.2
Thực tiễn áp dụng pháp luật về chủ thể quan hệ pháp luật
12
2.3
Thực trạng mô hình pháp nhân trong pháp luật Việt Nam
12
2.3.1
Mô hình pháp nhân theo quy định của Bộ luật dân sự 2005
12
2.3.2
Mô hình pháp nhân theo Luật doanh nghiệp 2005
13
2.4
Thực trạng quy định pháp luật về thành lập, hoạt động và
chấm dứt pháp nhân.
16
2.6.1
Mô hình pháp nhân tuy đã được du nhập vào Việt Nam từ lâu,
nhưng mới được quan tâm, và chú ý đến
16
2.6.2
Thiếu một lý thuyết lập pháp về mô hình của pháp nhân
16
2.6.3
Chưa xây dựng một hệ thống pháp luật hoàn chỉnh về pháp nhân
16
2.6.4
Chưa quan niệm đúng đắn về thành lập pháp nhân
16
2.6.5
Hệ thống pháp luật còn cồng kềnh, phức tạp, chưa thống nhất,
đồng bộ với nhau
16
2.6.6
Kỹ thuật lập pháp ở nước ta còn yếu
16
2.6.7
Chưa xác định được vị trí của từng đạo luật trong hệ thống các
văn bản pháp luật
16
2.6.8
Tính thiếu ổn định của hệ thống pháp luật dân sự
16
2.6.9
Quá trình tiếp thu kinh nghiệm pháp luật nước ngoài thiếu lựa
Định hướng đảm bảo quyền sở hữu của các chủ thể quan hệ PL
19
3.2.3
Định hướng hoàn thiện quy định pháp luật về pháp nhân- từ bản
chất của các học thuyết pháp nhân
19
3.2.4
Định hướng xây dựng một BLDS là nền tảng cho các luật chuyên ngành
19
3.2.5
Tăng cường tính công khai và minh bạch thông tin.
19
3.2.6
Hoàn thiện hệ thống pháp luật về pháp nhân
19
3.2.7
Nâng cao hiệu quả hoạt động của cơ quan hành chính nhà nước
3.2.8
Phát triển hệ thống cung cấp thông tin và phổ biến giáo dục pháp
luật cho các chủ thể quan hệ pháp luật
19
3.3
Các giải pháp hoàn thiện hệ thống pháp luật và thi hành pháp
luật về pháp nhân ở nước ta hiện nay
20
3.3.1
Đổi mới các quan niệm về pháp nhân
20
3.3.2
pháp lý khác có tư cách chủ thể là pháp nhân. Pháp nhân là một khái niệm để
chỉ một loại chủ thể quan hệ pháp luật độc lập với các chủ thể khác và thành
viên của pháp nhân, pháp nhân ra đời đáp ứng điều kiện của đời sống xã hội
và hoạt động lập pháp. Ngày nay, các pháp nhân tham gia tích cực và là chủ
thể chủ yếu trong các hoạt động kinh tế, hoạt động quản lý của nhà nước trên
cơ sở nhà nước tôn trọng quyền tự do ý chí, tự do lập hội của công dân.
Ở Việt Nam, có thể nhận định rằng trong các quy định pháp luật hiện
hành, chưa thấy một học thuyết xuyên suốt về pháp nhân, các quy định pháp
luật chưa thống nhất, thiếu lôgic, dẫn đến sự chồng chéo, mâu thuẫn, rời rạc
giữa luật chung và các luật chuyên ngành. Trong khi đó, những người thực thi
pháp luật, các nhà nghiên cứu pháp luật còn nhiều điểm chưa thống nhất về
các đặc trưng cơ bản làm tiêu chí để xác định tư cách pháp nhân của tổ chức,
2
cũng như các quyền và nghĩa vụ khi pháp nhân tham gia các quan hệ pháp
luật dân sự, kinh tế, hình sự. Chế định về đại diện pháp nhân tham gia các
giao dịch vẫn còn chưa rõ ràng. Thực tế cho thấy, việc phân định trách nhiệm
pháp lý của pháp nhân và trách nhiệm của những người đứng đầu pháp nhân
chưa rõ ràng trong pháp luật Việt Nam hiện nay. Bộ luật dân sự được xây
dựng không dựa trên nền tảng lý luận khoa học pháp lý về pháp nhân một
cách vững chắc, làm cơ sở cho việc xây dựng những luật chuyên ngành trước
những đòi hỏi của thực tiễn xã hội.
Chế định pháp nhân được quy định trong nhiều lĩnh vực pháp luật của
đời sống xã hội của một quốc gia và trong quan hệ quốc tế. Trong các chủ thể
quan hệ pháp luật, pháp nhân là một thực thể pháp lý trìu tượng, được thiết
lập hay tổ chức bởi những người sáng lập theo một cách hợp pháp, hoạt động
bởi mục đích lợi nhuận hay phi lợi nhuận, và dưới hình thức sở hữu tư nhân
hay nhà nước. Quá trình hoàn thiện các quy định về pháp nhân tại mỗi quốc
gia, đòi hỏi những nhà nghiên cứu luật học đưa ra các học thuyết về pháp
nhân nhằm giải thích sự hình thành, phát triển trên thế giới làm tiền đề định
chủ thể quan hệ pháp luật và pháp nhân làm tiền đề lý luận cho các quy định
pháp luật phù hợp với đời sống thực tiễn hơn.
Tình hình nghiên cứu về quan hệ pháp luật và các chủ thể quan hệ pháp
luật ở nước ta cho thấy hoạt động nghiên cứu quan hệ pháp luật nói chung
chưa có nhiều và chưa mang tính chuyên sâu. Các tài liệu nghiên cứu về đề tài
này còn ít, nội dung mới chỉ xem xét, nghiên cứu ở một vài khía cạnh như:
quyền chủ thể, nghĩa vụ pháp lý của chủ thể, phân loại quan hệ pháp luật hoặc
nghiên cứu quan hệ pháp luật với tư cách là một yếu tố trong cơ chế điều
chỉnh pháp luật. Xét về tính chất, mức độ thì đó mới chỉ là những bài viết
đăng ở các tạp chí; trong giáo trình môn học lý luận chung về nhà nước và
4
pháp luật hoặc là một phần nhỏ liên quan đến đề tài khác. Có thể nêu lên một
số tài liệu như: Chương "Quan hệ pháp luật" trong cuốn chuyên khảo: Những
vấn đề lý luận cơ bản về pháp luật của GS.TSKH Đào Trí Úc; Bài nghiên cứu
"Quan hệ pháp luật xã hội chủ nghĩa" của PGS.TS Thái Vĩnh Thắng, Tạp chí
Dân chủ pháp luật, số 12-1996, số 2-1997; Bài nghiên cứu "Một số vấn đề về
quan hệ pháp luật" của GS.TS. Hoàng Thị Kim Quế, Tạp chí Khoa học - Đại
học Quốc gia Hà Nội, tháng 2-1999; Bài nghiên cứu "Sự kết hợp các lợi ích
xã hội trong việc qui định và thực hiện các quyền và nghĩa vụ của chủ thể
quan hệ pháp luật" của PGS.TS Võ Khánh Vinh, Tạp chí Nhà nước và pháp
luật, số 12-2002. Năm 2010, PGS, TS Nguyễn Ngọc Điện viết cuốn sách
tham khảo về “Chủ thể quan hệ pháp luật dân sự”, do Nhà xuất bản chính trị
2010 đã đưa ra các khía cạnh pháp lý của các chủ thể là cá nhân và các chủ
thể không phải là cá nhân trong quan hệ pháp luật dân sự.
Các công trình nghiên cứu về pháp nhân, ngay từ khi nước ta còn là
thuộc địa của thực dân Pháp, mô hình pháp nhân đã được các thương gia
người Pháp du nhập, và áp dụng trong hoạt động của mình tại các thuộc địa.
Các nhà luật học thời bấy giờ đã nghiên cứu về các học thuyết pháp nhân, tìm
ra các đặc tính của pháp nhân. Tiêu biểu là các tác giả như: Vũ Văn Mẫu
pháp luật kinh doanh, thương mại; bên cạnh đó, là những lĩnh vực luật chuyên
ngành điều chỉnh quan hệ pháp luật của chủ thể pháp nhân mang tính đặc thù
hơn. Ngoài ra, pháp nhân trong lĩnh vực công cũng chịu sự điều chỉnh của
Hiến pháp, của lĩnh vực luật hành chính.
Phạm vi nghiên cứu của luận văn tập trung giải quyết các vấn đề pháp lý
của mô hình pháp nhân trong lĩnh vực tư hay còn gọi pháp nhân tư pháp, bởi
pháp nhân tư pháp tham gia vào hầu hết các quan hệ xã hội và góp phần quan
trọng trong phát triển kinh tế - xã hội hiện đại ngày nay. Trong luận văn, tác giả
6
cũng đề cập đến vấn đề của các pháp nhân công pháp chỉ với mục đích đơn
thuần nhằm làm rõ thêm thực trạng pháp luật của Việt Nam về pháp nhân.
4. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Xuất phát từ nhu cầu thực tiễn và lý luận của nền luật học nước ta, dựa
trên những chủ trương, đường lối và chính sách xây dựng kinh tế - xã hội hội
nhập kinh tế quốc tế một cách toàn diện. Luận văn đặt mục đích nghiên cứu
các vấn đề lý luận trên cơ sở các học thuyết về pháp nhân với tư cách là chủ
thể cơ bản của quan hệ pháp luật tôn trọng quyền tự do ý chí và quyền tự do
lập hội của công dân. Nêu toàn diện thực trạng các quy định pháp luật hiện
nay về pháp nhân, và những định hướng, giải pháp hoàn thiện quy định pháp
luật về vấn đề này.
Bởi mục đích đó, luận văn có các nhiệm vụ sau:
- Tìm hiểu, phân tích các khái niệm cơ bản liên quan đến quan hệ
pháp luật, chủ thể quan hệ pháp luật và các loại hình chủ thể quan hệ pháp luật;
- Nêu và phân tích mô hình học thuyết về pháp nhân đã hình thành
và phát triển trên thế giới.
- Nghiên cứu cơ sở lý luận của việc hình thành và phát triển pháp
nhân căn cứ vào quyền tự do ý chí và quyền tự do lập hội của công dân;
- Phân tích khái niệm, đặc điểm và phân loại pháp nhân của các
nước trên thế giới và quá trình du nhập vào Việt Nam.
ra thực trạng trong quá trình thực thi pháp luật về pháp nhân hiện nay. Từ đó,
tìm ra các nguyên nhân dẫn của những tồn tại.
Ba là, về định hướng hoàn thiện: tác giả luận văn này nêu lên các cơ sở
hình thành các định hướng và các định hướng, giải pháp mang tính toàn diện
nhằm hoàn thiện hệ thống pháp luật về chủ thể quan hệ pháp luật nói chung
và chủ thể là pháp nhân nói riêng.
8
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục,
luận văn bao gồm 3 chương:
Chương 1. Những vấn đề lý luận cơ bản về chủ thể quan hệ pháp luật
và pháp nhân
Chương 2. Thực trạng hệ thống pháp luật và thi hành pháp luật về
pháp nhân ở Việt Nam
Chương 3. Định hướng và giải pháp hoàn thiện pháp luật và thi hành
pháp luật về pháp nhân ở Việt Nam
9
Chƣơng 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN
VỀ CHỦ THỂ QUAN HỆ PHÁP LUẬT VÀ PHÁP NHÂN.
1.1 Khái niệm và nội dung quan hệ pháp luật
1.1.1 Khái niệm
Trong đời sống xã hội, con người tham gia vào những quan hệ rất đa
dạng và phong phú: như quan hệ hôn nhân gia đình, quan hệ lao động, quan
hệ tài sản, quan hệ chính trị….các quan hệ ấy phát sinh trong hoạt động lao
động, sản xuất, công tác, học tập, sinh hoạt đời thường. Người ta gọi đó là các
quan hệ xã hội.
Quan hệ xã hội được điều chỉnh bởi các quy phạm xã hội (quy
tham gia nhiều quan hệ pháp luật khác nhau, tạo ra những quan hệ chằng chịt
nhau. Nếu các quan hệ trong xã hội muốn ổn định, bình đẳng và phát triển
giữa các chủ thể thì phải có sự điều chỉnh của các quy phạm pháp luật và đó
là phương tiện để quản lý xã hội của nhà nước.
Trong đó, có những quan hệ xã hội không được pháp luật chi phối.
Những quan hệ loại này được xác lập và diễn tiến theo những lề thói được xã
hội chấp nhận.
Ví như, trong lĩnh vực hôn nhân gia đình, có giao dịch hứa
hôn; trong cuộc sống hàng ngày người ta có thể đi nhờ xe, đi ăn giỗ,
mời nhau một ly cà phê mà chẳng bận tâm đến luật pháp. Con
người tham gia vào các quan hệ ấy cũng được coi là các chủ thể,
song các ứng xử của chủ thể không cần pháp luật điều chỉnh. Pháp
luật chỉ điều chỉnh một quan hệ khi được xác lập giữa các chủ thể là
11
quan hệ có tính pháp lý, nghĩa là được pháp luật đề cập, một cách
trực tiếp hoặc gián tiếp [50, tr. 8].
“Quan hệ pháp luật là hình thức pháp lý cần thiết cho tất cả những quan
hệ xã hội được pháp luật điều chỉnh. Quan hệ pháp luật thể hiện mối liên hệ
đặc biệt giữa các chủ thể, mối liên hệ thông qua các quyền và nghĩa vụ pháp
lý” [49, tr398]. Trong quan hệ pháp luật dân sự, giao dịch dân sự là hành vi
pháp lý có ý thức thể hiện ý chí của các chủ thể quan hệ pháp luật dân sự
nhằm xác lập, thay đổi hay chấm dứt quyền và nghĩa vụ dân sự. Giao dịch dân
sự là một trong những căn cứ quan trọng và phổ biến nhất làm phát sinh quan
hệ pháp luật dân sự.
Trong cơ chế điều chỉnh pháp luật, quan hệ pháp luật là một thành tố
quan trọng thể hiện đời sống pháp lý hiện thực trên tất cả các lĩnh vực của đất
nước qua mỗi chặng đường xây dựng và phát triển và là cơ sở thực tế để đánh
giá hiệu quả pháp luật, giá trị xã hội của pháp luật. Trong quá trình áp dụng
pháp luật để giải quyết các vấn đề thực tiễn đặt ra, sẽ trả lời các câu hỏi tại
Thứ nhất, là sự bắt buộc phải có những xử sự nhất định do quy phạm
pháp luật xác định trước.
Thứ hai, các xử sự này nhằm thực hiện quyền chủ thể của bên kia.
Thứ ba, trong trường hợp cần thiết, nghĩa vụ pháp lý sẽ được thực hiện
bằng các biện pháp cưỡng chế của nhà nước.
Nghĩa vụ pháp lý xuất hiện trên cơ sở quy phạm pháp luật quy định
nghĩa vụ cho các chủ thể tham gia vào các quan hệ cụ thể bắt buộc phải tuân
theo. Sự xuất hiện nghĩa vụ thụ động, tức bên có nghĩa vụ phải kìm chế mình
không thực hiện những hành vi bị ngăn cấm.
“Quan hệ pháp luật sẽ không tồn tại nếu không có quyền chủ thể và
nghĩa vụ pháp lý của các chủ thể tham gia” [49, tr421].
13
Ví dụ: Trong quan hệ hợp đồng, các chủ thể tham gia hợp đồng theo tự
nguyện, bình đẳng trên cơ sở nguyên tắc tự do ý chí. Những thỏa thuận trong
hợp đồng sẽ rằng buộc các quyền và nghĩa vụ của các bên tham gia (nếu như
thỏa thuận đó không trái luật). Nếu các bên không thỏa thuận hoặc thỏa thuận
không đầy đủ về quyền và nghĩa vụ của các bên trong quá trình thực hiện hợp
đồng, thì các bên có thể dẫn chiếu các quy định của pháp luật về những vấn
đề cụ thể gặp phải. Như vậy, bằng ý chí của mình, các chủ thể quan hệ pháp
luật đã tạo lập cho mình những quyền và nghĩa vụ pháp lý trên cơ sở thỏa
thuận và các quy định của pháp luật.
Quan hệ pháp luật có thể xuất hiện, thay đổi, chấm dứt theo những điều
kiện nhất định, cụ thể là: quy phạm pháp luật điều chỉnh, chủ thể tham gia
quan hệ và sự kiện pháp lý phát sinh. Nếu thiếu một trong ba điều kiện trên
thì không phát sinh quan hệ pháp luật. Nếu chỉ có quy phạm pháp luật thì
chưa đủ, phải có chủ thể có đầy đủ năng lực chủ thể tham gia và đồng thời
phải có những hoàn cảnh, điều kiện của đời sống thực tế đã được các nhà làm
luật ghi nhận trong phần giả định của quy phạm pháp luật, đó là sự phát sinh,
thay đổi, chấm dứt quan hệ pháp luật khi xảy ra.
nhiều ngành luật khác nhau điều chỉnh. Cũng là người chủ doanh
nghiệp tư nhân đó nhưng tư cách pháp lý của anh ta sẽ khác nhau khi
anh ta mua sắm đồ dùng ở ngoài siêu thị và khi anh ta ký kết hợp
đồng mua nguyên liệu phục vụ cho sản xuất trong doanh nghiệp.
Trong trường hợp thứ nhất, người chủ doanh nghiệp hành động với
tư cách cá nhân, với tư cách là một công dân có đủ năng lực pháp lý
và năng lực hành vi. Còn trong trường hợp thứ hai, anh ta hành động
với tư cách là một doanh nghiệp được thành lập hợp pháp và có giấy
15
phép đăng ký kinh doanh. Rõ ràng trong một con người có hai tư
cách chủ thể của hai ngành luật khác nhau [50, tr.26-27].
Như vậy, một chủ thể của một hành vi nào đó, có thể tham gia nhiều
quan hệ xã hội khác nhau và trở thành chủ thể của nhiều quan hệ pháp luật
khác nhau.
Có thể định nghĩa về chủ thể quan hệ pháp luật: Chủ thể quan hệ pháp
luật bao gồm cá nhân và các thực thể pháp lý khác có đầy đủ năng lực tham
gia vào các quan hệ xã hội chịu sự điều chỉnh của pháp luật và phát sinh
các quyền và nghĩa vụ pháp lý theo quy định của các văn bản quy phạm
pháp luật.
Từ định nghĩa, có thể thấy đặc điểm của chủ thể quan hệ pháp luật bao
gồm: Năng lực chủ thể; quy phạm pháp luật điều chỉnh quan hệ xã hội; quyền
và nghĩa vụ pháp lý của chủ thể.
- Chủ thể phải có đầy đủ năng lực tham gia quan hệ pháp luật:
Nếu là cá nhân, phải có đủ hai yếu tố là: năng lực pháp luật của cá nhân
là khả năng có quyền, nghĩa vụ pháp lý khi tham gia các quan hệ xã hội được
pháp luật điều chỉnh và năng lực hành vi là có khả năng nhận thức được hành
vi của mình và tự chịu trách nhiệm về hành vi đó.
Nếu là thực thể pháp lý khác (các chủ thể không phải cá nhân), phải
được pháp luật công nhận sự tồn tại hay được thành lập theo quy định của
cần ban đầu, còn năng lực hành vi là điều kiện đủ để chủ thể tham gia các
quan hệ pháp luật. Nếu một chủ thể chỉ có năng lực pháp luật mà không có
năng lực hành vi, sẽ không trở thành chủ thể của quan hệ pháp luật được.
1.2.3 Phân loại chủ thể quan hệ pháp luật
Theo khoa học pháp lý nói chung và truyền thống pháp luật dân sự nói
riêng chia các chủ thể quan hệ pháp luật thành hai loại: thể nhân và pháp nhân
17
Cá nhân
Cá nhân (thể nhân) được hiểu là con người cụ thể, là thành viên của xã
hội loài người. Về mặt vật chất, con người là một thực thể sống, có hình hài
cụ thể và có mối quan hệ mật thiết với các cá thể người khác. Trong xã hội, cá
nhân là chủ thể của các quan hệ phát sinh trong quá trình hoạt động, phát triển
của mình. Đó là hoạt động mang tính ý thức của con người trong khuôn khổ
đời sống xã hội.
Cá nhân trên phương diện pháp lý là thực thể có năng lực hưởng quyền
và nghĩa vụ, hay nói đúng hơn là chủ thể quan hệ pháp luật. Cá nhân thực
hiện hoạt động có ý thức của mình trong khuôn khổ của pháp luật quy định,
và phải chịu trách nhiệm nếu vi phạm các quy định đó. Cá nhân xác lập các
quan hệ theo ý chí, hoàn cảnh của mình, từ đó, phát sinh các quyền và nghĩa
vụ theo luật định buộc cá nhân phải tuân thủ.
Cá nhân gồm có công dân, người nước ngoài, người không có quốc tịch.
Cá nhân là chủ thể quan hệ pháp luật khi theo quy định của pháp luật họ có
năng lực chủ thể bao gồm năng lực pháp luật và năng lực hành vi.
Điều 14 BLDS 2005 về năng lực pháp luật dân sự của cá nhân:
1. Năng lực pháp luật dân sự của cá nhân là khả năng của cá
nhân có quyền dân sự và nghĩa vụ dân sự; 2. Mọi cá nhân đều có năng
lực pháp luật dân sự như nhau; 3. Năng lực pháp luật dân sự của cá
nhân có từ khi người đó sinh ra và chấm dứt khi người đó chết [69].
Cá nhân có khả năng nhận thức được hành vi của mình và tự chịu trách
trong quá trình hoạt động của pháp nhân.
Hiện nay, có thể nói, trong khoa học pháp lý nói chung và
pháp luật dân sự nói riêng vẫn chưa có một định nghĩa thống nhất
19
về khái niệm hay dấu hiệu của pháp nhân; song ngày càng thấy có
nhiều tiêu chí để xác định pháp nhân đã được sử dụng trước đây,
nay không còn giá trị [50, tr.47].
Ngay các quy định về pháp nhân trong Bộ luật dân sự cũng tỏ ra mơ hồ
về các dấu hiệu của pháp nhân.
Hộ gia đình
Ngoài chủ thể là cá nhân và pháp nhân, bộ luật dân sự Việt Nam liệt kê
các chủ thể pháp luật khác là hộ gia đình và tổ hợp tác- những chủ thể pháp lý
không phải là cá nhân mà cũng không hưởng quy chế của pháp nhân.
Pháp luật Việt Nam định nghĩa hộ gia đình mà các thành viên có tài sản
chung, cùng đóng góp công sức để hoạt động kinh tế chung trong sản xuất
nông, lâm, ngư nghiệp hoặc một số lĩnh vực sản xuất, kinh doanh khác do
pháp luật quy định là chủ thể khi tham gia quan hệ dân sự thuộc các lĩnh vực
này.
Điều 108 Bộ luật dân sự 2005 quy định:
Tài sản chung của hộ gia đình gồm quyền sử dụng đất, quyền
sử dụng rừng, rừng trồng của hộ gia đình, tài sản do các thành viên
đóng góp, cùng nhau tạo lập nên hoặc được tặng cho chung, được
thừa kế chung và các tài sản khác mà các thành viên thoả thuận là
tài sản chung của hộ [69].
Theo điều 107 BLDS quy định:
1. Chủ hộ là đại diện của hộ gia đình trong các giao dịch dân
sự vì lợi ích chung của hộ. Cha, mẹ hoặc một thành viên khác đã
thành niên có thể là chủ hộ.
20
Hộ gia đình trong lĩnh vực kinh doanh có thể được gọi là hộ
kinh doanh do một cá nhân là công dân Việt Nam hoặc một nhóm
người hoặc một hộ gia đình làm chủ, chỉ được đăng ký kinh
doanh tại một địa điểm, sử dụng không quá mười lao động, không
có con dấu và chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình đối
với hoạt động kinh doanh [69].
Theo quy định của pháp luật Việt Nam căn cứ vào số lượng lao động
được sử dụng trong hộ kinh doanh chỉ được đăng ký kinh doanh tại một địa
điểm, sử dụng không quá mười lao động. Và nếu Hộ kinh doanh có sử dụng
thường xuyên hơn mười lao động phải chuyển đổi sang hoạt động theo hình
thức doanh nghiệp. Việc buộc hộ kinh doanh sử dụng thường xuyên hơn
mười lao động phải đăng ký kinh doanh dưới hình thức doanh nghiệp có lẽ
chưa tính đến đặc trưng của từng ngành nghề kinh doanh.
Điều 111 Bộ luật dân sự 2005:
Hộ gia đình phải chịu trách nhiệm dân sự về việc thực hiện
quyền, nghĩa vụ dân sự do người đại diện của hộ gia đình xác lập,
thực hiện nhân danh hộ gia đình. Hộ gia đình chịu trách nhiệm dân
sự bằng tài sản chung của hộ; nếu tài sản chung không đủ để thực
hiện nghĩa vụ chung của hộ thì các thành viên phải chịu trách nhiệm
liên đới bằng tài sản riêng của mình [69].
Tổ hợp tác
Điều 111 Bộ luật dân sự 2005 quy định:
Tổ hợp tác được hình thành trên cơ sở hợp đồng hợp tác có