Các chủ thể của thị trường chứng khoán - Pdf 20

THẢO LUẬN
CÁC CHỦ THỂ CỦA THỊ TRƯỜNG CHỨNG
KHOÁN
A. MỞ ĐẦU
Để thực hiện mục tiêu đến năm 2020 phấn đấu đưa Việt Nam trở
thành một nước công nghiệp phát triển đòi hỏi trong nước phải có một
nguồn vốn lớn để đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của nền kinh tế. Vì vậy,
Việt Nam cần phải có chính sách huy động tối đa mọi nguồn lực tài chính
trong và ngoài nước để chuyển các nguồn vốn nhàn rỗi trong nền kinh tế
thành nguồn vốn đầu tư và thị trường chứng khoán tất yếu sẽ ra đời vì nó
giữ vai trò quan trọng đối với việc huy động vốn trung và dài hạn cho
hoạt động kinh tế.
Nhận thức rõ việc xây dựng thị trường chứng khoán là một nhiệm
vụ chiến lược có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với tiến trình xây dựng
và phát triển đất nước, trước yêu cầu đổi mới và phát triển kinh tế, phù
hợp với các điều kiện kinh tế – chính trị và xã hội trong nước và xu thế
hội nhập kinh tế quốc tế, trên cơ sở tham khảo có chọn lọc các kinh
nghiệm và mô hình thị trường chứng khoán trên thế giới, thị trường
chứng khoán Việt Nam đã ra đời.
Sự ra đời của thị trường chứng khoán Việt Nam được đánh dấu
bằng việc đưa vào vận hành Trung tâm giao dịch chứng khoán TP.Hồ Chí
Minh ngày 20/07/2000 và thực hiện phiên giao dịch đầu tiên vào ngày
28/07/2000.
Để thị trường chứng khoán bước vào hoạt động và ngày một phát triển thì
cần có sự tham gia của các nhà đầu tư trong và ngoài nước. Từ khi thành
lập đến nay, số lượng cũng như chất lượng của các nhà đầu tư ngày một
tăng lên. Bên cạnh đó thì dưới sự tác động của nền kinh tế thị trường các
nhà đầu tư cũng không tránh khỏi những khó khăn, hạn chế. Vậy chúng ta
cùng tìm hiểu vấn đề này để đưa ra những giải pháp hữu hiệu cho thị
trường chứng khoán Việt Nam.
B. NỘI DUNG

nguyên tắc ưu tiên về giá và ưu tiên về thời gian.
- Giao dịch chứng khoán niêm yết lô lẻ được thực hiện trực tiếp giữa
người đầu tư với công ty chứng khoán thành viên là thành viên của trung
tâm giao dịch chứng khoán trên nguyên tắc thỏa thuận về giá.
Quy trình giao dịch chứng khoán niêm yết tại sở giao dịch chứng khoán:
Toàn bộ quy trình này được tiến hành theo năm bước:
- Bước 1: Nhà đầu tư đến mở tài khoản và đặt lệnh mua hay bán chứng
khoán tại một công ty chứng khoán.
- Bước 2: Công ty chứng khoán chuyển lệnh đó cho đại diện của công ty
tại sở giao dịch chứng khoán để nhập vào hệ thống giao dịch của sở.
- Bước 3: Sở giao dịch chứng khoán thực hiện ghép lệnh và thông báo kết
quả giao dịch cho công ty chứng khoán.
- Bước 4: Công ty chứng khoán thông báo kết quả giao dịch cho nhà đầu
tư.
- Bước 5: Nhà đầu tư nhận được chứng khoán (nếu là người mua) hoặc
tiền (nếu là người bán) trên tài khoản của mình tại công ty chứng khoán
sau ba ngày làm việc kể từ ngày mua bán nếu quy định về thời gian thực
hiện thanh toán bù trừ chứng khoán là T+3.
II. Phân loại và thực trạng các nhà đầu tư hiện nay:
1. Nhà đầu tư cá nhân:
a. Nhà đầu tư cá nhân chủ yếu là các cá nhân hộ gia đình có tiền tiết kiệm và
muốn đầu tư vào chứng khoán để hưởng lợi tức. Họ cũng là những người
bán chứng khoán của mình trên thị trường thứ cấp để rút vốn khi cần thiết.
Đây là loại chủ thể tham gia TTCK quan trọng và đông đảo.
b. Thực trạng;
- Một chủ thể quan trọng trên thị trường chứng khoán là các nhà đầu
tư cá nhân nhỏ lẻ.
Các nhà đầu tư này có một số đặc điểm nổi bật sau:
+ Có trên 70% tổng số tài khoản đầu tư trên thị trường chứng khoán là
tài khoản cá nhân

liền sau đó với các phiên giá giảm mạnh. Những biến động giá trên thị
trường gần đây cho thấy một lượng CP lớn được bán ra rất sớm chỉ sau
một - hai phiên giá tăng. Động thái này càng rõ ràng hơn khi thị trường ở
vào thời điểm T+3, tức là ngày làm việc thứ ba sau khi các giao dịch
được thực hiện - tiền và CP mới về tài khoản.

Các thống kê thị trường cũng thể hiện những biến đổi đảo ngược
chóng mặt của cung cầu CP - từ trạng thái chào mua cao gấp nhiều lần
chào bán sang trạng thái chào bán ế liên tục khối lượng lớn - chứng tỏ
tâm lý lo ngại khả năng tăng giá sớm kết thúc vẫn thường trực. Bài học về
sự mất giá vừa qua khiến không ít nhà đầu tư mất phương hướng và
thường đầu tư theo lối “ăn ít nhưng chắc”.
Xu hướng “bán non” này cũng được hậu thuẫn bởi cách đầu tư ăn
theo, hay đầu cơ CP, vốn diễn ra phổ biến ở thời kỳ thị trường tăng
trưởng và giá tăng liên tục. Không phủ nhận việc đầu cơ giúp tạo ra khả
năng thanh khoản tốt cho thị trường, tuy nhiên đối với một thị trường mà
tỉ lệ nhà đầu tư cá nhân ít kinh nghiệm quá lớn, đầu cơ tạo ra những cơn
sốt ảo và các nhà đầu cơ “non tay” thường chính là những người chịu hậu
quả nặng nề nhất khi thị trường diễn biến bất lợi.
+ Số lượng cá nhân tham gia TTCK còn quá ít so với tiềm lực tài
chính trong dân, so với các loại hình đầu tư khác như gửi tiết kiệm hoặc
đầu tư bất động sản.
+ Công chúng đầu tư chưa nhận được sự tư vấn đầy đủ và có chất
lượng từ các công ty chứng khoán. Phải thừa nhận rằng tư vấn đầu tư
chứng khoán là 1 công việc khó, đòi hỏi những người làm tư vấn, phân
tích chứng khoán phải có trình độ cao trong bối cảnh hạ tằng của TTCK
còn chưa đầy đủ và hoàn thiện .
Tuy nhiên các nhà đầu tư chứng khoán cá nhân đã trưởng thành rất
nhiều, đầu tư có kinh nghiệm và thận trọng hơn trước . Quan sát giá cả
của các loại cổ phiếu trên TTCK với nhau trong các thời kỳ thì nhận thấy

rớt giá và chỉ số chứng khoán được dự báo sẽ giảm đến mức thấp kỷ lục
thì thị trường lại đảo chiều tăng mạnh. Bước sang tháng 3/2009, thị
trường chứng khoán Việt Nam đã tăng điểm ấn tượng. Cụ thể, kết thúc
tháng 3/2009, VN-Index đã tăng lên 280,67 điểm, tăng 14%. Chỉ số
HASTC tăng 17% lên 98,37 điểm. Có thể nói, các nhà đầu tư đã lấy lại
được niềm tin khi chứng kiến một tháng 3 tăng điểm ấn tượng nhất kể từ
tháng 11/2008, VN-Index không chỉ khởi sắc về điểm số mà khối lượng
giao dịch cũng tăng mạnh trong hai tuần cuối tháng 3.
Kết thúc tháng 4, VN-Index đạt 321,63 điểm, tăng 14,5% và chỉ số
HASTC đạt 111,95 điểm, tăng 13,8%, so với cuối tháng 3. VN-Index
tăng nhẹ qua các phiên và khối lượng giao dịch ấm dần lên càng củng cố
hơn niềm tin của các nhà đầu tư.
Tính đến hết ngày 30/06/2009, VN-Index đã tăng 132,67 điểm(42,03%)
và HNX-Index tăng 44,57 điểm (42,66%) so với thời điểm kêt thúc năm
2008. Đây là một bước tiến dài của thị trường chứng khoán trong nước
nếu như so với 6 tháng đầu năm 2008, VN-Index đã mất 527,62 điểm
(56,91%), còn HASTC-Index giảm 211,49 điểm (65,37%) so với thời
điểm kết thúc năm 2007.
Thị trường chứng khoán đã có nửa năm khá thành công nếu so với cả
năm 2008, trong tháng 7/2009, dù không còn tăng nóng như hồi tháng 6
nhưng đóng cửa phiên giao dịch cuối cùng của tháng 7, chỉ số VN-Index
vẫn tăng điểm so với mức đóng cửa cuối tháng 6. Cụ thể, VN-Index đã
tăng 18,47 điểm (4,12%) sau 23 phiên giao dịch để vươn lên đứng ở mức
466,76 điểm. Điều này chứng tỏ niềm tin của các nhà đầu tư (NĐT) vào
thị trường (TT) đã được khẳng định và phía trước vẫn còn nhiều dấu hiệu
phục hồi.
Nhà đầu tư CK hy vọng vào những tháng cuối năm
- Một chủ thể ngày một chiếm vị trí cao trong thị trường chứng khoán là
nhà đầu tư nước ngoài.
Đối với các cổ phiếu còn hấp dẫn thì nhà đầu tư nước ngoài đã gần

Ngân hàng thương mại là các chủ thể tham gia thường xuyên và đa dạng
trên TTCK. Các ngân hàng tham gia đầu tư, kinh doanh chứng khoán trên
TTCK nhiều hay ít là tuỳ thuộc vào mô hình ngân hàng đa năng hay ngân
hàng chuyên doanh ở mỗi nước.
Vai trò của các NHTM trên thị trường sơ cấp:
Vai trò đầu tư trực tiếp :
Với tiềm lực tài chính mạnh và khả năng sử dụng vốn ngắn hạn đầu
tư dài hạn, các NHTM có thể đóng vai trò là nhà đầu tư trên thị trường
trái phiếu, đặc biệt là đối với trái phiếu Chính phủ, vốn đòi hỏi tầm nhìn
đầu tư trung và dài hạn. Trên thực tế, một số lượng lớn trái phiếu Chính
phủ và công trái là do NHTM mua. Trong năm 2007, tổng lượng trái
phiếu Chính phủ phát hành là 17.226 tỷ đồng, trong đó các NHTM mua
12.058 tỷ đồng, chiếm khoảng 70%.
Vai trò của ngân hàng thương mại trên thị trường thứ cấp:
a. Sản phẩm phái sinh:
Các NHTM có thể thực hiện các sản phẩm phái sinh như: hoán đổi, kỳ
hạn, quyền chọn, hợp đồng tương lai đối với các trái phiếu, cổ phiếu trên
thị trường. Ở đây, sự kết hợp liên thị trường giữa thị trường tiền tệ với thị
trường chứng khoán sẽ cung cấp cho các nhà đầu tư nhiều công cụ để
kinh doanh (đầu cơ) và bảo hiểm rủi ro, đồng thời tăng tính thanh khoản
của thị trường.
b. Cho vay chứng khoán:
Nghiệp vụ cho vay chứng khoán rất phổ biến đối với các TTCK phát
triển. Tại Mỹ, Cục dự trữ liên bang (Fed) thực hiện nghiệp vụ này với các
đại lý sơ cấp đối với trái phiếu Chính phủ. Nghiệp vụ này một mặt làm
tăng thanh khoản của thị trường, mặt khác giúp Fed điều tiết được lượng
cung tiền. Tài sản thế chấp thường là tiền mặt. Nghiệp vụ cho vay chứng
khoán giữa các trung gian tài chính có phạm vi rộng hơn cả về danh mục
chứng khoán cho vay cũng như danh mục tài sản thế chấp. Bên vay thế
chấp tài sản khi nhận chứng khoán và phải trả lại chứng khoán, đồng thời

Chưa nói đến sự chính xác và cơ sở thực tế của những suy tính, lo ngại
trên, mà ở đây cho thấy một phần còn thiếu của các ngân hàng thương
mại trong việc công bố, cập nhật thông tin cụ thể về các khoản đầu tư và
mức lỗ - lãi theo từng thời điểm nhạy cảm của thị trường (dù đó là những
chênh lệch “ảo” vì chưa cụ thể bán ra) với cổ đông và nhà đầu tư.
Trước hết, nhìn lại tổng hợp trên, đối chiếu với quy định tại Quyết định
457/2005/QĐ-NHNN do Ngân hàng Nhà nước ban hành ngày 19/4/2005
về các tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của các tổ chức tín dụng, có
thể thấy ngay vốn lưu động của hầu hết những ngân hàng trên chỉ khoảng
từ 2.500 – 3.000 tỷ đồng nhưng lại đầu tư từ 3.000 tỷ đồng cho tới trên
9.000 tỷ đồng vào chứng khoán vốn. Như vậy, đây là một hiện tượng bất
thường.
Sự "bất thường" đó xuất phát từ cách nhìn đánh gộp khái niệm chứng
khoán là cổ phiếu trên thị trường có mức giảm tới 50% từ đầu năm đến
nay với sự tách biệt về bản chất của chứng khoán nợ và chứng khoán vốn
trong tổng vốn đầu tư của ngân hàng, theo hạch toán, kế toán mà Ngân
hàng Nhà nước quy định (ứng với các tài khoản 141 và 142).
Trong lượng vốn đầu tư hàng nghìn tỷ đồng của mỗi thành viên nói trên,
chiếm phần lớn là chứng khoán nợ (trái phiếu chính phủ, trái phiếu doanh
nghiệp, chứng chỉ tiền gửi của tổ chức tín dụng…), chờ đáo hạn hoặc có
thể bán. Và đáng chú ý là lỗ - lãi của khoản đầu tư vào đây được tính theo
% lãi suất, không căn theo thị giá để có thể lỗ tới 50% như đầu tư cổ
phiếu (chứng khoán vốn).
Thực tế cho thấy sau giai đoạn ào ạt cho vay chứng khoán, đến đầu
2008, phần lớn các ngân hàng đều báo lỗ vì mảng này. Các công ty
chứng khoán có mảng tự doanh chiếm tỷ lệ lớn cũng lỗ nặng. Cuộc
khủng hoảng tài chính thế giới cũng là một minh chứng cho thấy rủi
ro từ hoạt động ngân hàng đầu tư là cực lớn. Hàng loạt ngân hàng
đầu tư lừng lẫy một thời của Mỹ đã phải dừng hoạt động, sáp nhập
với đơn vị khác hoặc chuyển đổi thành mô hình ngân hàng đa năng.

Hiện nay tỷ lệ người dân Việt Nam tham gia đầu tư chứng khoán
vẫn còn rất nhỏ, nên việc số lượng các CtyCK gia tăng nhanh trong một
khoảng thời gian khá ngắn đã dẫn đến một số công ty gặp nhiều khó khăn
trong hoạt động kinh doanh. Với khả năng tài chính và kinh nghiệm còn
hạn chế, vì mục tiêu lợi nhuận của mình một số CtyCK đã sử dụng những
biện pháp cạnh tranh không lành mạnh, gây ra những ảnh hưởng xấu đến
sự phát triển chung của thị trường, tạo tâm lý lo ngại cho các nhà đầu tư.
Trên thực tế, hiện nay với số lượng trên 60 CtyCK được cấp phép
và đi vào hoạt động nhưng phải chia nhau một thị trường quá nhỏ chỉ với
trên dưới 250.000 khách hàng (là các nhà đầu tư, tổ chức và cá nhân,
trong khi đó các CtyCK lớn và hoạt động lâu năm như SSI, VCBS,
ACBS, BCVS, SBS đã thâu tóm khoảng 85% lượng khách hàng, những
CtyCK mới và quy mô vốn nhỏ phải chật vật chia nhau 15% thị phần còn
lại (chưa kể số CtyCK mới đang nộp hồ sơ chờ cấp phép tại UBCKNN).
Nhiều CtyCK đã phải bỏ ra hàng chục tỷ đồng để mua sắm trang thiết bị,
thuê mặt bằng nhưng thực tế hoạt động trong thời gian gần đây số
lượng khách hàng đến đầu tư không đáng kể, khiến nhiều CtyCK bị thâm
hụt vốn sở hữu.
Để hút khách trên thị trường, nhiều công ty đã mở rộng dịch vụ
repo và hạ phí Tuy nhiên, nóng bỏng hơn cả là cuộc đua hạ phí. Theo
quy định, phí giao dịch thu từ các nhà đầu tư là 0,5% trên giá trị giao
dịch. Nhưng hiện nay đã bị một số CtyCK hạ đến mức thấp nhất, thậm
chí có CtyCK không thu phí trong 3 tháng đầu hoạt động. Đặc biệt, nhiều
CtyCK mới thành lập đã sử dụng chiêu khuyến mại bằng cách tặng tiền
cho khách hàng mở tài khoản giao dịch tại công ty và trừ dần vào phí giao
dịch. Trên thực tế trong thời gian gần đây, thông tin về việc giảm, miễn
phí giao dịch của các CtyCK liên tục được công bố trên thị trường. Trong
đó, tất cả các CtyCK lớn nhỏ lần lượt vào cuộc, dù đây là nguồn thu đáng
kể, nhất là với những thành viên mới hoạt động. Cuộc cạnh tranh phí giao
dịch được giới chuyên môn nhận định là đang ở hồi căng thẳng. Đỉnh

Hàng loạt doanh nghiệp khác cũng “dốc” tiền mua cổ phiếu với số lượng
rất lớn. Điển hình là Công ty CP phát triển đô thị Kinh Bắc đăng ký mua
hơn 1,2 triệu cổ phiếu SGT của Công ty CP công nghệ viễn thông Sài
Gòn từ ngày 15/5 đến 14/7 (trước đó, Công ty Kinh Bắc đã mua 360.710
cổ phiếu SGT). Công ty CP dịch vụ bưu chính viễn thông Sài Gòn mua
hơn 37.400 cổ phiếu CSG của Công ty CP cáp Sài Gòn. Tổng công ty CP
đầu tư phát triển xây dựng mua 420.936 cổ phiếu DIC của Công ty CP
đầu tư và thương mại DIC
Dù hoạt động kinh doanh chính không mấy thuận lợi do ảnh hưởng của
suy thoái kinh tế nhưng nhiều doanh nghiệp vẫn “chịu chơi” tung ra
lượng lớn tiền mua cổ phiếu quỹ như Công ty CP Năm Bảy Bảy đăng ký
mua lại hơn 1,5 triệu cổ phiếu NBB; Công ty CP Hoàng Anh Gia Lai
đăng ký mua ba triệu cổ phiếu HAG; Công ty CP Bourbon Tây Ninh
(SBT) đăng ký mua hai triệu cổ phiếu SBT từ ngày 17/4 - 17/7
- Hàng loạt công ty nộp đơn xin niêm yết, số lượng doanh nghiệp phát
hành cổ phiếu để tăng vốn điều lệ hoặc huy động vốn cho đầu tư sản
xuất ngày càng nhiều, thị trường chứng khoán phát triển đang đem lại
cho các doanh nghiệp cơ hội tài chính và họ đã không bỏ lỡ
+ Phát hành cổ phiếu huy động vốn vì phải vay ngân hàng
Theo kế hoạch năm 2007 đã được đại hội cổ đông thông qua, Công ty cổ
phần xi măng Hà Tiên 1 sẽ phát hành thêm thêm 25.700.000 CP với tổng
mệnh giá là 257 tỉ đồng. Vốn huy động được sẽ đầu tư vào cảng container
và Khu công nghiệp đa ngành Phước
Thắng tại Vũng Tàu (tổng vốn đầu tư là 600 tỉ đồng). Đồng thời công ty
sẽ cải tạo, nâng cấp thiết bị nhà máy hiện hữu tại Thủ Đức (500 tỉ đồng)
trong giai đoạn từ nay đến năm 2009.
Những phiên đấu giá
CP luôn thu hút được
khá đông nhà đầu tư
tham gia

+ Đầu tư tiền gửi có kỳ hạn tại các ngân hàng và các tổ chức tài
chính chiếm 50%. Trong đó phần lớn là đầu tư vào các ngân hàng
quốc doanh và các ngân hàng cổ phần lớn.

+ Đầu tư vào các cổ phiếu niêm yết và OTC chiếm 8%.
 Các quỹ tương trợ:
Các quỹ tương trợ là những trung gian tài chính thu nhận
vốn của nhiều nhà đầu tư nhỏ bằng cách bán cho họ những cổ phần
và dùng những món tiền thu được này để mua các chứng khoán.
Nhờ quá trình chuyển đổi tài sản có khi phát hành các cổ phần với
những lượng tiền nhỏ và mua các lô lớn chứng khoán, các quỹ
tương trợ có thể thu được lợi về sự giảm giá theo quy mô đối với
tiền hoa hồng môi giới và về việc mua các danh mục chứng khoán
đa dạng hoá. Các nhà đầu tư nhỏ thu được lợi do chi phí giao dịch
nhỏ hơn.
 Các quỹ trợ cấp:
Trong việc thực hiện các chức năng trung gian tài chính chuyển đổi tài
sản, các quỹ trợ cấp đem lại cho công chúng một loại bảo vệ khác – thanh
toán tiền thu nhập hưu trí và trợ cấp khác ( thanh toán tiền y tế, trợ giúp
người tàn tật,….). Vì các khoản trợ cấp được thanh toán hàng năm và có
thể dự tính ở mức độ chính xác cao, do đó, các quỹ trợ cấp thường sử
dụng nguồn vốn tạm thời nhàn dỗi có tính chất cố định để đầu tư vào các
chứng khoán dài hạn. Thông thường hơn 1/2 giá trị tài sản có của các quỹ
trợ cấp là trái phiếu và cổ phiếu.
Quỹ đầu tư (QĐT) và công ty quản lý quỹ đầu tư (CtyQLQ) ra đời xuất
phát từ nhu cầu nội tại của thị trường tài chính và khi TTCK đã phát triển
ở mức độ nhất định. Thực tiễn đã chứng minh rằng, mặc dù TTCK đã
xuất hiện từ giữa thế kỷ XV nhưng các QĐT, CtyQLQ mới chỉ bắt đầu
xuất hiện vào cuối thế kỷ XIX và phát triển mạnh mẽ từ giữa thế kỷ XX
đến nay.

kinh tế quốc tế… tác động tới hoạt động đầu tư - kinh doanh chứng
khoán; phát hiện, dự đoán khuynh hướng phát triển và những biến động
có thể sảy ra đối với toàn bộ nền kinh tế - đặc biệt là đối với thị trường tài
chính và triển vọng phát triển của từng ngành, từng lĩnh vực cụ thể. Đồng
thời, để tính toán khả năng sinh lời, triển vọng tăng trưởng, phân tích rủi
ro đối với từng loại chứng khoán cụ thể; QĐT, CtyQLQ đầu tư sử dụng
công cụ phân tích kỹ thuật để thực hiện điều này.
Mục tiêu đầu tư được xác định và thiết lập trên cơ sở những kết quả
nghiên cứu thị trường và phân tích lợi nhuận, rủi ro theo quy trình như sơ
đồ 3. Đồng thời, phải xuất phát từ khả năng tài chính, khả năng tham gia
của các nhà đầu tư, những đặc điểm và mục tiêu thành lập quỹ Trên cơ
sở đó, phải xác định mục tiêu đầu tư là thu nhập, lãi vốn hay kết hợp cả
hai mục tiêu này để bảo tồn và phát triển quỹ một cách hiệu quả
nhất.
Mục tiêu đầu tư được thực hiện thông qua các chiến lược đầu tư. Nghĩa
là, chiến lược đầu tư phải được thành lập trên cơ sở mục tiêu đầu tư. Căn
cứ vào mục tiêu đầu tư chủ động xây dựng chiến lược đầu tư để xác định
cơ cấu tài sản (phân bố tài sản) và lựa chọn chứng khoán theo hướng
năng động hoặc theo cơ cấu ổn định. Từ đó hình thành chiến lược đầu tư
mang tính chủ động hay thụ động hoặc sử dụng chiến lược hỗn hợp cả hai
thuộc tính này để hình thành danh mục đầu tư.
Chiến lược đầu tư mang tính chủ động: áp dụng chiến lược này, danh
mục đầu tư thường tập trung vào các công cụ tài chính mang tính mạo
hiểm, mức độ rủi ro cao như đối với việc đầu tư - kinh doanh cổ phiếu,
các công cụ tài chính phái sinh và liên quan nhiều đến yếu tố tạo lập thị
trường.
Với việc áp dụng chiến lược này, các nhà hoạch định kỳ vọng vào sự tăng
trưởng về giá trị tương lai hoặc vào sự phát triển đột biến để lựa chọn
ngành, lĩnh vực và các chứng khoán cụ thể. Điều này đòi hỏi phải sử
dụng thuần thục cả hai loại công cụ phân tích nêu trên để có thể phát huy

Để nâng cao hiệu quả vốn đầu tư; việc quản trị, điều hành QĐT, CtyQLQ
đầu tư phải luôn luôn hướng vào các chỉ tiêu kinh tế cơ bản như: tổng thu
nhập, tỷ lệ thu nhập, tổng chi phí, tỷ lệ chi phí và chất lượng hoạt động
của bộ máy quản trị điều hành. Đồng thời, các QĐT, CtyQLQ đầu tư
không chỉ khai thác và sử lý tốt các thông tin thị trường, mà còn phải
cung cấp thông tin một cách chính xác, kịp thời, đầy đủ về tình hình tài
chính và hoạt động QĐT, CtyQLQ đầu tư. Hội đồng quản trị phải cung
cấp cho các NĐT các báo cáo về tình hình hoạt động đầu tư, tình hình tài
chính. Nếu QĐT theo mô hình hợp đồng thì phải cung cấp cho nhà đầu tư
các tài liệu báo cáo định kỳ của CtyQLQ đầu tư, báo cáo của người thụ
ủy và các báo cáo tài chính (bao gồm: báo cáo về tài sản và công nợ, thu
nhập và chi phí, sự thay đổi giá trị tài sản ròng…).
Danh mục đầu tư thể hiện một cách tổng thể mục tiêu, chiến lược đầu tư,
việc phân bố tài sản và lựa chọn chứng khoán không chỉ đối với các loại
hình chứng khoán, ngành, lĩnh vực mà QĐT, CtyQLQ đầu tư quan tâm;
mà còn thể hiện cả mục tiêu, phạm vi hoạt động của chúng trên thị trường
tài chính thế giới. Danh mục đầu tư của các QĐT, CtyQLQ ở các nước
trên thế giới trong những năm qua đã không chỉ tập trung việc phân bố tài
sản và lựa chọn những chứng khoán ở các thị trường vốn phát triển mà
còn tranh thủ những cơ hội đầu tư vào những TTCK đang phục hồi ở
những quốc gia thực hiện việc chuyển đổi mô hình kinh tế (đặc biệt là đối
với TTCK của một số nước Đông Âu, Nga và Trung Quốc).
Tại Việt Nam, các nhà đầu tư nước ngoài (ĐTNN) cũng đã bắt đầu quan
tâm, tiến hành đầu tư, thành lập CtyQLQ ở Việt Nam để tận dụng những
cơ hội đầu tư xuất hiện trên TTCK và trong quá trình cổ phần hóa (CPH)
doanh nghiệp nhà nước (DNNN). Năm 2003, lần đầu tiên ở Việt Nam,
CtyQLQ đầu tư đã được thành lập, đó là Công ty Liên doanh QLQ đầu tư
chứng khoán Việt Nam- VietFund Management (VFM). Đây là một liên
doanh giữa Công ty Dragon Capital Management và Ngân hàng Thương
mại (NHTM) Cổ phần Sài Gòn Thương Tín.

nên đối xử với nó như làm một việc làm "chẳng trúng thì trượt”.
Trước khi quyết định mua một loại cổ phiếu nào đó, hãy phân tích những
nền tảng của công ty đó hay của nhóm ngành đó và chắc chắn rằng công
ty hay ngành đó có sự bảo hộ tối thiểu từ Nhà nước. Bạn đừng nên chỉ
nhìn vào giá cổ phiếu tăng giảm từng ngày.
Việc bạn mua một cổ phiếu nào đó là bởi vì trông nó có vẻ sắp lên giá
hoặc bởi vì bạn rất thích các sản phẩm hay dịch vụ của công ty đó, thì
không phải là một chiến lược đầu tư đúng đắn.
4. Mua vào với giá cao và bán ra với giá thấp
Quy tắc cốt yếu trong đầu tư là mua vào với giá thấp và bán ra với
giá cao. Vậy mà tại sao lại có rất nhiều nhà đầu tư quyết định làm ngược
lại? Có hai lý do chính để có thể giải thích cho hành động trên. Thứ nhất,
các nhà đầu tư đuổi theo những gì mà cổ phiếu đó đang làm được trên thị
trường. Thứ hai là chạy theo “mốt đầu tư”.
Việc một chứng khoán hay một ngành nào đó đã hoạt động tốt trong quá
khứ không có nghĩa là nó sẽ tiếp tục phát triển tốt trong tương lai. Tương
tự như vậy, việc mua một loại cổ phiếu đang được ưa chuộng trên thị
trường thường dẫn đến việc đầu tư đúng vào thời điểm đỉnh cao của một
chu trình hoặc một xu hướng nào đó, và đó cũng là lúc nó chuẩn bị “lao
xuống dốc”.
Các nhà đầu tư cũng thường quyết định mua vào với giá cao và bán ra với
giá thấp bởi vì họ chỉ nghĩ đến những cái lợi trước mắt thay vì tập trung
vào chiến lược đầu tư dài hạn. Cách đầu tư này là kiểu đầu tư mưu mẹo
chứ không hề mang tính chiến lược.
Khi một cổ phiếu nào đó xuống giá, quá nhiều nhà đầu tư thường chậm
trễ trong việc cắt giảm thua lỗ và bán chúng ra, thay vào đó họ lại chờ đợi
và hy vọng sẽ giành lại được dù là chút ít những gì họ đã mất.
Nếu là những nhà đầu tư khôn ngoan họ biết rằng điều đó chẳng bao giờ
có thể xảy ra cả. Không phải tất cả mọi đầu tư đều sẽ gia tăng về giá trị,
vì vậy hãy luôn đặt lệnh “ngừng thua lỗ” đối với bất kì một cổ phiếu nào


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status