BÀI THẢO LUẬN
MÔN: QUẢN TRỊ KINH DOANH QUỐC TẾ
Họ và tên: Phan Thị Tuyết
Lớp : ĐHQT3A3HN
Câu 1: Trình bày khái niệm quản trị kinh doanh quốc tế, so sánh sự khác biệt giữa
kinh doanh quốc tế và kinh doanh trong nước thông qua những ví dụ cụ thể. Trên cơ sở
sự so sánh này, hãy phác thảo chân dung một nhà quản trị kinh doanh quốc tế trong
điều kiện hiện nay.
Bài làm
Khái niệm quản trị kinh doanh quốc tế: Quản trị kinh doanh Quốc tế là quá trình
hoạch định, tổ chức, lãnh đạo, kiểm tra hoạt động kinh doanh quốc tế nhằm đạt
được các mục tiêu đề ra trong điều kiện sử dụng hợp lý và tiết kiệm các nguồn lực
đang có và sẽ có
So sánh sự khác biệt giữa kinh doanh quốc tế và kinh doanh trong nước
* Chủ thể tham gia kinh doanh:
- Kinh doanh quốc tế : hoạt động kinh doanh diễn ra giữa các nước, các quốc gia với
nhau
- Kinh doanh trong nước : hoạt động kinh doanh chỉ diễn ra trong nội bộ quốc gia,
giữa các tế bào kinh tế của quốc gia đó
Ví dụ cụ thể:
- Kinh doanh quốc tế : Việt Nam xuất khẩu gạo sang Phillipines, Malaysia,
Singapore, Mỹ, Đài Loan, Trung Quốc…
Việt Nam xuất khẩu cà phê sang Hoa Kỳ, Đức, Tây Ban Nha, Nhật Bản
Việt Nam nhập khẩu nhiều thiết bị máy móc từ Trung Quốc, Đức, Nhật Bản,
Hàn Quốc, Đài Loan…
Chủ thể kinh doanh là Việt Nam, Philippines, Malayxia, Singapore, Mỹ, Đài
Loan, Trung Quốc, Hoa Kỳ, Đức, Tây Ban Nha, Nhật Bản…
- Kinh doanh trong nước : Nhiều mặt hàng được sản xuất và kinh doanh các sản
phẩm thiết yếu phục vụ chính nhu cầu của người dân trong nước như: mặt hàng
thực phẩm, đồ gia dụng,…
Chủ thể kinh doanh là các doanh nghiệp sản xuất trong nước và người tiêu dùng
kế hoạch mà còn phải có trách nhiệm giám sát, theo dõi, thực hiện, hoàn thành kế
hoạch đó.
- Có kĩ năng ứng xử và giao tiếp. Kĩ năng này đòi hỏi sự tinh tế, linh hoạt, kiến thức
cũng như kinh nghiệm xã hội của nhà quản trị kinh doanh. Đối với quản trị kinh
doanh quốc tế thì kĩ năng này lại rất quan trọng. Mục tiêu của kĩ năng này là nâng
cao sự hiểu biết và tôn trọng lẫn nhau trên cơ sở nhận diện và công nhận các giá trị
và nhu cầu của các đối tượng giao tiếp. Đây là cơ sở quan trọng của giao tiếp, xử lý
mâu thuẫn và thương lượng
- Để có thể làm tốt kĩ năng giao tiếp thì đối với nhà quản trị kinh doanh quốc tế cần
trang bị cho mình vốn ngoại ngữ tốt. Ngoại ngữ được coi là công cụ không thể
thiếu, nó là cầu nối giữa các nhà quản trị với các doanh nghiệp, tổ chức nước ngoài,
với kho kiến thức đồ sộ của thế giới. Có ngoại ngữ tốt, nhà quản trị sẽ không chỉ
giao tiếp tốt hơn mà còn có điều kiện tiếp cận với nguồn kiến thức chuyên môn của
các nước khác trên thế giới
- Kiến thức chuyên môn cụ thể về nghề nghiệp và kiến thức tổng quát về doanh
nghiệp, ngành, các hoạt động liên quan, kiến thức về môi trường kinh doanh, pháp
lý, kinh tế, chính trị quốc tế và xu hướng phát triển chủ đạo. Phải luôn cập nhật và
chủ động tích lũy kiến thức
- Tiếp nhận và xử lý thông tin một cách hiệu quả. Nhà quản trị phải biết nhận dạng
vấn đề, triệu chứng, nguyên nhân và xử lý các thông tin để đưa ra giải pháp chính
xác trong thời gian ngắn nhất. Nhà quản trị phải có khả năng phát triển và sáng tạo
các phương pháp giải quyết vấn đề mới cho chính mình và doanh nghiệp
- Ý chí, nghị lực, lòng kiên nhẫn và sự quyết tâm cũng là điều không thể thiếu. Trong
môi trường kinh doanh quốc tế, có rất nhiều rủi ro, cơ hội cũng như thách thức. Nhà
quản trị phải có nghị lực và lòng kiên nhẫn để có thể vượt qua những thử thách
trong môi trường khốc liệt này.
- Bên cạnh những tiêu chuẩn trên thì còn có yêu cầu về sức khỏe, kinh nghiệm, biết
tuyển dụng nhân tài
Câu 2: Trình bày vai trò của hoạt động kinh doanh quốc tế thông qua những ví dụ
thực tế đối với các chủ thể của Việt Nam (chú ý đến tình hình thời sự liên quan đến vai
* Bước vào thời kỳ hội nhập, Công ty cổ phần Docimexco không ngừng nỗ lực, sáng
tạo để thực hiện tốt các kế hoạch, chiến lược đề ra, nâng cao chất lượng sản phẩm
nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng khắt khe của thị trường, góp phần phục vụ đắc lực
nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội địa phương. Docimexco từng bước đổi mới và
mở rộng lĩnh vực sản xuất vật tư nông nghiệp, kinh doanh sang nuôi trồng thủy sản,
đầu tư phát triển hạ tầng khu công nghiệp,
- Thủy sản: mở rộng phân xưởng hiện tại, tiếp tục đầu tư xây dựng mới phân xưởng
sản xuất với công suất 15.000 tấn/năm. Phát triển thêm một số thị trường mới như:
Hàn Quốc, Trung Quốc, Nhật Bản,
- Gạo: đầu tư xây dựng mới nhà máy chế biến (công suất 8 - 10 nghìn tấn) và kho
chứa (10 nghìn tấn) tại huyện Thanh Bình hoặc Khu công nghiệp Sông Hậu.
- Phân bón: tích cực khai thác nguồn hàng trong nước, làm đại lý hay nhà phân phối
của những hãng lớn, thiết lập mạng lưới phân phối với những phương thức mua bán
mới phù hợp với sự thay đổi tình hình. Xây dựng kho chứa 6.000 tấn ở cửa khẩu
Dinh Bà để bán sang biên giới và chứa lúa, mua nông sản nhập khẩu từ
Camphuchia
Docimexco khi tham gia vào thị trường thế giới đã mở rộng quy mô tối ưu cho
mỗi ngành sản xuất, tạo điều kiện xây dựng các ngành mũi nhọn, nâng cao năng
suất lao động, chất lượng sản phẩm và hạ giá thành, thúc đẩy việc khai thác các
nhân tố tăng trưởng theo chiều sâu, trao đổi và ứng dụng nhanh chóng các công
nghệ mới, thu hút được vốn đầu tư nước ngoài, nâng cao tốc độ tăng trưởng và
hiệu quả của nền kinh tế
* Mặc dù nằm ở Đồng bằng sông Cửu Long, trung tâm sản xuất và xuất khẩu lúa gạo
lớn của cả nước, nhưng trong những năm trước đây, Công ty cổ phần Docimexco
chỉ xuất khẩu gạo theo đơn hàng nhỏ, chưa ký được hợp đồng lớn có yêu cầu
nghiêm ngặt về số lượng, chủng loại và thời gian giao nhận. Nhận thức rõ điều đó,
từ năm 2000, Công ty cổ phần Docimexco đã chủ động nâng cấp, đổi mới thiết bị và
hội đủ điều kiện cần thiết để tham gia đấu thầu và ký kết hợp đồng cung cấp gạo
lớn.
- Công ty cổ phần Docimexco đã đầu tư gần 20 tỷ đồng xây dựng mới dây chuyền
- Kim ngạch xuất khẩu bình quân đầu người ước cả năm sẽ vượt qua mốc 1.083
USD, cao hơn nhiều so với mức kỷ lục 831 USD đã đạt được vào năm 2010.
- tỷ lệ xuất khẩu/GDP vượt qua mốc 80%, cao hơn nhiều so với tỷ lệ kỷ lục đã đạt
được vào năm trước (70,9%).
- Tốc độ tăng kim ngạch xuất khẩu đạt 33%. Tốc độ tăng này có ý nghĩa quan trọng
xét về 4 mặt: cao nhất tính từ năm 1997 đến nay; cao nhất so với tốc độ tăng của
các ngành, lĩnh vực khác; cao gấp trên 3 lần tốc độ tăng theo chỉ tiêu kế hoạch đề ra
(10%); hệ số giữa tốc độ tăng xuất khẩu/ tốc độ tăng GDP lên đến 5,5 lần- cao nhất
từ trước tới nay. Xuất khẩu đã trở thành động lực của tăng trưởng kinh tế.
- Tăng trưởng của xuất khẩu đạt được ở hầu hết các mặt hàng chủ yếu. Có một số
mặt hàng có kim ngạch tăng với tốc độ cao hơn tốc độ chung, như hạt tiêu, sắn và
sản phẩm sắn, sắt thép, xăng dầu, phương tiện vận tải và phụ tùng, cà phê, dầu thô,
sản xuất hóa chất, cao su, Trong đó có 21 mặt hàng tăng trên 100 triệu USD, có
18 mặt hàng tăng trên 200 triệu USD, có 16 mặt hàng tăng trên 300 triệu USD, có
14 mặt hàng tăng trên 400 triệu USD, có 11 mặt hàng tăng trên 500 triệu USD.
- Tăng trưởng xuất khẩu, một phần nhờ lượng tăng, một phần lớn nhờ giá tăng, trong
đó giá tăng (tính được đơn giá) và đóng góp lớn vào mức tăng chung có: dầu thô,
tiếp đến là cà phê, cao su, xăng dầu, hạt điều, gạo, hạt tiêu, than đá, sắt thép, sắn và
sản phẩm sắn,
- Do tốc độ tăng so với năm trước của tổng kim ngạch xuất khẩu cao hơn của tổng
kim ngạch nhập khẩu (33% so với 25%), nên nhập siêu đã giảm cả về kim ngạch,
cả về tỷ lệ nhập siêu so với năm trước. Về kim ngạch tuyệt đối còn 10 tỷ USD so
với 12,6 tỷ USD. Tỷ lệ nhập siêu còn 10,4% so với 17,5%
Câu 3: Trình bày cơ sở của hoạt động kinh doanh quốc tế. Nếu là nhà hoạch định
chiến lược xuất nhập khẩu của Việt Nam trong 5 năm tới thì bạn sẽ quan tâm tới
những lĩnh vực hay mặt hàng gì? Hãy giải thích thông qua những ví dụ thực tế trong
các năm vừa qua.
Bài làm
a. Cơ sở của hoạt động kinh doanh quốc tế:
* Mở rộng phạm vi thị trường kinh doanh
khẩu gạo là rất lớn
- Số liệu thống kê của Tổng cục Hải quan cho thấy trong tháng 4/2012, lượng gạo
xuất khẩu đạt 872 nghìn tấn và trị giá đạt 380 triệu USD, tăng 39,6% về lượng và
tăng 32% về trị giá so với tháng trước. Tính đến hết 4 tháng/2012, tổng lượng gạo
xuất khẩu của cả nước đạt gần 2,2 triệu tấn, trị giá đạt 1,03 tỷ USD, giảm 19,2% về
lượng và giảm 23,1% về trị giá so với cùng kỳ năm 2011.
Trong 4 tháng đầu năm nay, gạo của Việt Nam xuất sang các châu lục đều giảm
nhưng lại tăng đột biến sang thị trường Trung Quốc. Đặc biệt, trong tháng 4/2012 xuất
khẩu gạo sang Trung Quốc đạt 393 nghìn tấn, tiếp tục tăng mạnh so với các tháng
trước đó. Tính đến hết tháng 4/2012 tổng lượng gạo xuất khẩu sang Trung Quốc đạt
680 nghìn tấn, tăng gấp hơn 4,4 lần và chiếm 31% tổng lượng gạo xuất khẩu của cả
nước. Tiếp theo là sang Malaixia: 258 nghìn tấn, tăng 26,9%; sang Inđônêxia: 255
nghìn tấn, giảm 62,5%; sang Bờ Biển Ngà: 116 nghìn tấn, tăng 2,7 lần so với cùng kỳ
năm trước
Xuất khẩu gạo của Việt Nam sang Trung Quốc năm 2010-2011 và 4 tháng đầu năm 2012
- Nước ta có Đồng Bằng Sông Cửu Long là vựa lúa của cả nước và của Đông Nam Á.
Nhờ có công nghệ kĩ thuật, máy móc thiết bị mà sản lượng gạo tăng với chất lượng tốt.
Cơ cấu gạo xuất khẩu trong quí 1/2012 của Việt Nam:
Loại gạo xuất khẩu chủ yếu trong 3 tháng đầu năm 2012 là gạo 3-10% tấm chiếm tới
41% tổng khối lượng gạo xuất khẩu các loại. Sau đó đến gạo 15-20% tấm chiếm 34%
tổng khối lượng. Khối lượng gạo chất lượng thấp 25-50% tấm chiếm khoảng 4% tổng
khối lượng.
Thị trường xuất khẩu lúa gạo của Việt Nam
Thị trường tiêu thụ các loại gạo xuất khẩu của Việt Nam chủ yếu là Châu Á và Châu
Phi chiếm tới 90% tổng khối lượng gạo xuất khẩu.
Tuy nhiên, tại một số thị trường xuất khẩu gạo của Việt Nam như Indonesia,
Philippines, do sản xuất trong nước dự báo tăng nên nhu cầu nhập khẩu gạo giảm
Theo số liệu thống kê của Tổng cục Hải quan khối lượng gạo xuất khẩu 2 tháng đầu
năm 2012 đạt 448.848 tấn với giá trị 219.8 triệu USD, giảm 31.6% về khối lượng và
giảm 29.7% về giá trị so với cùng kì năm ngoái. Bên cạnh nguyên nhân do nhu cầu của