KHOA LUẬT
NGUYỄN THỊ THU TRÀ
THU HÚT SỰ THAM GIA CỦA NHÂN DÂN VÀO
HOẠT ĐỘNG LẬP PHÁP CỦA QUỐC HỘI VIỆT NAM
CHUYÊN NGÀNH: LÝ LUẬN VÀ LỊCH SỬ
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT
MÃ SỐ: 60 38 01
TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI - NĂM 2006
CÓ THỂ TÌM HIỂU LUẬN VĂN TẠI:
TRUNG TÂM THÔNG TIN THƯ VIỆN - ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ
NỘI
MC LC
Trang ph bỡa
Li cam oan
Mc lc
M
U
1
Chng 1. C S Lí LUN V THC TIN CA VIC THU HT NHN
DN THAM GIA VO HOT NG LP PHP CA QUC HI
7
1.1. Thu hỳt nhõn dõn tham gia vo hot ng lp phỏp ca Quc hi:
Nhng cỏch tip cn khỏc
nhau
7
1.1.1.Thu hỳt nhõn dõn tham gia vo hot ng lp phỏp ca Quc hi -
tip cn di gúc quyn lc nh
nc
7
1.1.2. Thu hỳt nhõn dõn tham gia vo hot ng lp phỏp ca Quc hi -
2.2.1. Cơ sở pháp lý của việc thu hút nhân dân tham gia vào hoạt động
lập pháp của Quốc hội………………………………………………………
63
2.2.2. Thực trạng tổ chức lấy ý kiến nhân dân vào các dự án
luật………
68
2.3. Phương hướng hoàn thiện cơ chế thu hút nhân dân tham gia vào
hoạt động lập pháp của Quốc
hội………………………………………………
82
2.3.1. Đổi mới quan điểm, nhận thức rõ về vai trò của nhân dân trong
hoạt động lập pháp của Quốc hội…………………………………………
82
2.3.2. Nghiên cứu sửa đổi, bổ sung Luật Ban hành văn bản quy phạm
pháp luật tạo cơ sở pháp lý cho việc thu hút nhân dân tham gia vào hoạt
động lập pháp của Quốc hội………………………………………………
84
2.3.3. Chú trọng sự tham gia của các chuyên gia, nhà khoa học vào quá
trình xây dựng pháp luật…………………………………………………………
90
2.3.4. Minh bạch hoá, công khai hoá hoạt động xây dựng pháp
luật………
94
2.3.5. Tăng cường các nguồn lực bảo đảm cho việc thu hút nhân dân
tham gia vào hoạt động lập pháp của Quốc hội………………………………
97
KẾT LUẬN …………………………………………………………………
101
ta là nước dân chủ, địa vị cao nhất là dân, bao nhiêu lợi ích là vì dân, bao
nhiêu quyền hạn đều là của dân, quyền hành và lực lượng đều ở nơi dân.
Kế thừa và phát huy truyền thống đó, trong công cuộc đổi mới toàn diện
đất nước hiện nay, Đảng và nhà nước ta luôn quán triệt tư tưởng “lấy dân làm
gốc” trong tổ chức và hoạt động của mình theo cơ chế “Đảng lãnh đạo, nhà
nước quản lý, dân làm chủ” nhằm mục tiêu xây dựng “dân giàu, nước mạnh, 2
công bằng, dân chủ, văn minh”.
Công cuộc đổi mới do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo kể từ Đại hội đại
biểu toàn quốc lần thứ VI (năm 1986) cho đến nay đã qua một chặng đường 20
năm. Đại hội Đảng IX đã tổng kết một bài học truyền thống, đó là “đổi mới
phải dựa vào nhân dân, vì lợi ích của nhân dân, phù hợp với thực tiễn, luôn
luôn sáng tạo Đổi mới là sự nghiệp của nhân dân, do nhân dân và vì nhân
dân. Để công cuộc đổi mới thành công phải động viên được mọi tầng lớp nhân
dân và các thành phần kinh tế tham gia" [1, tr. 81-82]. Hơn nữa, việc thực hiện
thành công đường lối của Đảng còn tuỳ thuộc vào vai trò giám sát, góp ý kiến
của nhân dân, thu hút trí tuệ của nhân dân trong quá trình thực hiện chiến lược,
nghị quyết của Đảng. Đảng cũng nhận định rằng trong cách thức thực hiện các
nhiệm vụ chiến lược và chức năng nhà nước thời gian qua còn có thiếu sót do
cách làm không sâu sát, chưa dân chủ lắng nghe ý kiến của nhân dân và tập thể
dân cư.
Các tư tưởng của Đảng cũng đề cập đến vai trò của chiến lược tổ chức
và thực hiện tư tưởng, nhà nước của dân, do dân, vì dân, thông qua sự kết hợp
hợp lý giữa dân chủ đại diện và dân chủ trực tiếp - sự tham gia của nhân dân
vào quản lý nhà nước và xã hội; trong đó có sự tham gia của nhân dân vào
quy trình xây dựng, ban hành và thực thi pháp luật.
Thể chế hoá quan điểm của Đảng, Điều 53 Hiến pháp năm 1992 quy
định: “Công dân có quyền tham gia quản lý nhà nước và xã hội, tham gia thảo
Trong bộ máy nhà nước ta, Quốc hội chiếm một vị trí đặc biệt quan
trọng. Theo Hiến pháp năm 1992, Quốc hội là cơ quan đại biểu cao nhất và là
cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa
Việt Nam. Vị trí, tính chất đó thể hiện ở chỗ Quốc hội là cơ quan duy nhất có
quyền lập hiến và lập pháp; quyết định những vấn đề cơ bản của đất nước;
giám sát tối cao đối với toàn bộ hoạt động của nhà nước (Điều 83). Vì thế, 4
không ở đâu tính chất quyền lực nhân dân lại thể hiện rõ nét như trong tổ
chức và hoạt động của Quốc hội nói chung, trong hoạt động lập pháp của
Quốc hội nói riêng, đặc biệt trong giai đoạn hiện nay, có thể xem đây là một
tiêu chí nhận diện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do
nhân dân, vì nhân dân mà Đảng và Nhà nước ta đang phấn đấu xây dựng.
Nhận thức rõ tầm quan trọng và những tư tưởng mang ý nghĩa chỉ đạo
của Đảng và Nhà nước về vấn đề này, chúng tôi mạnh dạn chọn đề tài “Thu
hút sự tham gia của nhân dân vào hoạt động lập pháp của Quốc hội Việt
Nam” làm đề tài luận văn tốt nghiệp Thạc sỹ chuyên ngành Luật học.
2. Tình hình nghiên cứu
Trong những năm qua, thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng và nhà
nước về việc thu hút nhân dân tham gia vào hoạt động lập pháp của Quốc hội, đã
có một số hội thảo, cuộc toạ đàm và các công trình nghiên cứu khoa học về quy
trình lập pháp đề cập đến vấn đề này. Chẳng hạn: Ban công tác lập pháp của Uỷ
ban Thường vụ Quốc hội phối hợp với Dự án cải cách pháp luật (SIDA) đã tổ
chức Hội thảo đổi mới quy trình xây dựng luật, pháp lệnh (2004); Hội thảo sáng
kiến pháp luật và việc chuẩn bị chương trình xây dựng luật, pháp lệnh (2004);
Văn Phòng Quốc hội đã chủ trì một đề tài nghiên cứu khoa học mang tên “Hoàn
thiện cơ chế tổ chức để nhân dân tham gia vào quy trình xây dựng, ban hành và
thực thi pháp luật” (2004) trong đó nội dung này là một hợp phần nghiên cứu
của đề tài; Bộ Tư pháp chủ trì đề án “Đổi mới cơ chế huy động sự tham gia của
vào hoạt động lập pháp của Quốc hội trong thời gian qua và phương hướng
hoàn thiện cơ chế để thu hút nhân dân tham gia vào hoạt động của Quốc hội
đạt hiệu quả cao trong thời gian tới.
5. Phạm vi nghiên cứu
Những vấn đề lý luận cơ bản về quyền lực nhà nước; nghị viện (Quốc
hội), chức năng lập pháp của nghị viện (Quốc hội); lý thuyết chung về sự tham 6
gia của nhân dân vào hoạt động lập pháp; kinh nghiệm của một số quốc gia trên
thế giới; thực trạng thu hút nhân dân tham gia vào hoạt động lập pháp của
Quốc hội ở nước ta; một số giải pháp cơ bản nhằm tăng cường sự tham gia của
nhân dân vào hoạt động lập pháp của Quốc hội nước ta trong giai đoạn hiện
nay.
6. Những đóng góp của Luận văn
Luận văn trình bày các cách tiếp cận mới về vấn đề thu hút nhân dân
tham gia vào hoạt động lập pháp của Quốc hội, đó là dưới góc độ quyền lực
nhà nước và dưới góc độ hiệu quả thực thi pháp luật.
Trên cơ sở lý thuyết về sự tham gia của nhân dân vào hoạt động lập
pháp, nghiên cứu kinh nghiệm của một số nước trên thế giới, xuất phát từ
thực trạng thu hút nhân dân tham gia vào hoạt động lập pháp của Quốc hội ở
nước ta trong thời gian qua, Luận văn đề xuất một số giải pháp cơ bản để thu
hút nhân dân tham gia vào hoạt động lập pháp của Quốc hội nhằm góp phần
nâng cao hiệu quả hoạt động lập pháp của Quốc hội nước ta.
Kết quả nghiên cứu của Luận văn có thể dùng làm tư liệu tham khảo
cho cơ quan có thẩm quyền hoạch định chính sách trong lĩnh vực lập pháp;
hoặc là tài liệu tham khảo cho các nhà nghiên cứu, tổ chức, cá nhân quan tâm
đến vấn đề này.
7. Phƣơng pháp nghiên cứu
- Phương pháp luận là quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về duy vật
quyền lực, nhưng nhìn chung quyền lực được hiểu là khả năng của cá nhân
hay tổ chức có thể buộc cá nhân hay tổ chức khác phải phục tùng ý chí của
mình. Quyền lực được sinh ra từ nhu cầu tổ chức hoạt động chung, nhu cầu
phân công lao động xã hội và quản lý xã hội. Quyền lực là điều kiện và
phương tiện cần thiết khách quan bảo đảm sự hoạt động bình thường của bất
kỳ cộng đồng xã hội nào. Quyền lực thể hiện mối quan hệ chỉ huy- lệ thuộc,
mệnh lệnh- phục tùng; thể hiện sự áp đặt ý chí của chủ thể có quyền đối với
chủ thể dưới quyền; yếu tố cưỡng chế vừa là nội dung quyền lực vừa là
phương pháp mang tính quyết định để thực hiện quyền lực. Có thể nói quyền
lực tồn tại ở khắp mọi nơi, ở bất kỳ nơi nào diễn ra hoạt động chung của con
người nhằm đảm bảo sự thống nhất ý chí của nhiều cá nhân để thực hiện các
công việc chung. Quyền lực có mặt ở xã hội có giai cấp cũng như xã hội chưa
có giai cấp, đã có nhà nước cũng như chưa có nhà nước.
Cũng như quyền lực nói chung, quyền lực nhà nước đã từng được đề
cập từ rất sớm và là một vấn đề phức tạp trong lịch sử tư tưởng nhân loại,
nhưng các nhà nghiên cứu đều thống nhất với nhau ở định nghĩa quyền lực 9
nhà nước là quyền lực của một nhóm chủ thể nhất định đối với toàn bộ xã hội,
với đặc thù sử dụng phương tiện cưỡng chế trong trường hợp không có sự
tuân thủ từ phía đối tượng bị áp đặt quyền lực.
Quyền lực nhà nước có những dấu hiệu nổi bật như tính hợp pháp của
việc sử dụng sức mạnh trong khuôn khổ nhà nước; tính chất công của quyền
lực nhà nước được áp đặt tới mọi công dân, trên danh nghĩa xã hội, với sự trợ
giúp của pháp luật; sự có mặt của một trung tâm đầu mối duy nhất đưa ra
quyết định; sự đa dạng của các phương tiện được sử dụng để bảo đảm ảnh
hưởng, tác động của chủ thể quyền lực đối với khách thể của quyền lực.
Nguồn gốc của nhà nước
Quyền lực nhà nước với tính cách là một phạm trù chính trị - pháp lý
độ tư hữu, tạo điều kiện làm phân hoá xã hội thành kẻ giàu, người nghèo. Hệ
quả kéo theo đó là xã hội bắt đầu phân chia thành giai cấp chủ nô và nô lệ;
Cuộc thứ hai: Thủ công nghiệp tách khỏi nông nghiệp và cũng trở
thành ngành kinh tế độc lập, càng tạo ra nhiều của cải hơn nữa cho xã hội,
càng tạo nên sự khác biệt giữa kẻ giàu, người nghèo, càng làm gia tăng mâu
thuẫn giữa chủ nô và nô lệ;
Cuộc thứ ba: Ngành thương nghiệp ra đời làm xuất hiện một lớp người
“tuy không tham gia sản xuất một tí nào, nhưng lại chiếm toàn bộ quyền lãnh
đạo sản xuất và bắt những người khác phụ thuộc vào mình về kinh tế… và
bóc lột cả hai” [15, tr.36].
Từ phân công lao động dẫn đến việc hình thành chế độ tư hữu, phân
chia xã hội thành các giai cấp có quyền lợi đối lập nhau đã làm mất đi cơ sở
kinh tế và xã hội vốn là lý do tồn tại của chế độ cộng sản nguyên thuỷ. Chế độ
cộng sản nguyên thuỷ không còn phù hợp với bước tiến của xã hội loài người,
vì vậy phải được thay thế bởi một chế độ xã hội khác, và nhà nước đã xuất 11
hiện như một tổ chức có sứ mệnh lịch sử quyền năng dẫn dắt định hướng cho
toàn xã hội.
Để duy trì sự tồn tại của xã hội loài người, nhà nước ra đời “không phải
là một quyền lực áp đặt vào xã hội” mà là “một lực lượng nảy sinh từ xã hội”,
một lực lượng “tựa hồ như đứng trên xã hội”, có nhiệm vụ làm dịu bớt xung
đột và giữ cho xung đột đó nằm trong vòng “trật tự” [15, tr. 38].
Các nhà kinh điển của Chủ nghĩa Mác cũng chỉ ra rằng, bên cạnh
nguyên nhân làm xuất hiện nhà nước nói trên mang tính phổ quát chủ yếu
diễn ra ở các quốc gia phương Tây, thì ở các quốc gia phương Đông con
đường hình thành nhà nước lại mang đặc điểm khác. Đó là do nhu cầu chế
ngự thiên nhiên (nhu cầu trị thuỷ - thuỷ lợi) có vai trò thúc đẩy quá trình hình
thành nhà nước khi mà sự phân chia giai cấp chưa đến mức mâu thuẫn đối
cấp, chưa có nhà nước nhưng những nguyên nhân dẫn đến sự ra đời của nhà
nước lại nảy sinh trong lòng xã hội đó. Đó là phân công lao động xã hội, mâu
thuẫn giai cấp đối kháng đến mức không thể điều hoà được, có nguy cơ đe
doạ sự tồn tại của một chế độ xã hội và cũng là đe doạ sự tồn vong của xã hội
loài người. Nhà nước là rất cần thiết cho cuộc sống con người, và chỉ đến đến
khi nào xây dựng xong chủ nghĩa cộng sản - kiểu nhà nước cuối cùng trong
lịch sử xã hội loài người thì theo dự kiến của các nhà kinh điển của chủ nghĩa
Mác - Lênin, nhà nước trở nên thừa, nó sẽ tự tiêu vong.
Đặc trưng của nhà nước là thiết lập quyền lực công cộng đặc biệt,
không còn hoà nhập với dân cư nữa. Trong xã hội cộng sản nguyên thuỷ đã có
quyền lực công cộng (quyền lực xã hội) nhưng đó là thứ quyền lực do dân cư
tự tổ chức ra; quyền lực đó hoà nhập với xã hội, không mang tính chính trị và
giai cấp. Nét đặc biệt của quyền lực công cộng sau khi nhà nước xuất hiện là
quyền lực đó không thuộc về tất cả mọi thành viên của xã hội nữa, mà chỉ
thuộc về giai cấp thống trị và phục vụ lợi ích của giai cấp thống trị. Quyền lực 13
nhà nước không thể thực hiện được bằng các phương pháp thông thường dựa
trên cơ sở tự nguyện của công dân nữa, mà phải sử dụng những phương pháp
cưỡng chế nhà nước.
Quyền lực nhà nước là dạng quyền lực xã hội mang tính giai cấp, tính
chính trị sâu sắc. Quyền lực nhà nước luôn luôn thuộc về giai cấp thống trị.
Thời cổ đại, quyền lực nhà nước chỉ thuộc về giai cấp chủ nô. Cũng tương tự
như vậy, dưới chế độ phong kiến, quyền lực nhà nước nằm trong tay giai cấp
phong kiến. Phức tạp hơn khi đánh giá tính chất của quyền lực nhà nước trong
nhà nước tư sản, vì về hình thức mọi người đều bình đẳng trước pháp luật,
đều có những quyền như nhau được khẳng định trong Hiến pháp và các bản
tuyên ngôn. Trên thực tế, trái với các bản tuyên ngôn, luật lệ đã đặt ra những
giới hạn về tài sản, học vấn để hạn chế quyền bầu cử của các tầng lớp dân
người khác” [12, tr.37].
Đam mê quyền lực là bản tính vốn có của con người. Con người luôn
có mong muốn chỉ đạo người khác. Mà quyền lực nhà nước lại là lĩnh vực có
khả năng nhất trong việc giúp cho con người đáp ứng lòng mong mỏi đó. Khi
có quyền lực trong tay, con người dễ bị thao túng bởi ham muốn này để thoả
mãn nhu cầu của mình. Có thể nói không ngoa rằng, sự lạm dụng quyền lực là
thuộc tính của những người gắn với quyền lực nhà nước, ở đâu có quyền lực
thì ở đó luôn luôn tiềm ẩn nguy cơ của sự lạm quyền.
Như vậy, cơ sở của việc cần phải giới hạn quyền lực nhà nước nằm ở
chỗ chống lại sự lạm dụng quyền lực nhà nước thông qua các hành vi của
quan chức thay mặt nhà nước đảm trách các công việc thuộc chức năng,
nhiệm vụ của nhà nước.
Sự hạn chế quyền lực nhà nước không phải mãi đến bây giờ mới được
đặt ra mà đã được các nhà tư tưởng chính trị - pháp lý lỗi lạc thời cổ đại như
J.Locke, S.L.Montesquieu, J.L. Rousseau đưa ra lý thuyết hạn chế quyền lực 15
nhà nước nhằm chống lại chế độ chuyên chế phong kiến. Các nhà tư tưởng
lúc bấy giờ trên cơ sở phê phán trong chế độ phong kiến chuyên chế, quyền
lực nhà nước nằm trong tay một số người theo thể thức thế tập truyền ngôi, có
toàn quyền ban hành các quyết định theo ý chí của mình và buộc mọi người
dân phải thực hiện. Thời kỳ phong kiến, toàn bộ quyền lực thuộc về nhà vua,
nhà vua vừa là người ban hành ra pháp luật, đồng thời lại là vị pháp quan tối
cao trong nhà nước. Mác đã phê phán cơ chế tổ chức quyền lực kiểu này và
cho rằng sự tuỳ tiện là quyền lực của nhà vua hay quyền lực của nhà vua là sự
tuỳ tiện.
Trong kho tàng tư tưởng nhân loại có hai học thuyết là học thuyết phân
quyền/ tản quyền/ tam quyền phân lập và học thuyết thống nhất quyền lực/ tập
quyền cùng nhằm mục đích hạn chế quyền lực vô hạn định của nhà vua, đồng
có thể ngăn chặn quyền lực khác”.
Những đóng góp của học thuyết này trong khoa học tổ chức thực hiện
quyền lực thể hiện ở chỗ: Phân chia quyền lực hoàn toàn không tạo ra bức
tường thành giữa các nhánh quyền lực, bởi vì chúng thuộc về một thực thể
thống nhất là quyền lực nhà nước. Cân bằng quyền lực trong phân chia quyền
lực đảm bảo cho việc không một nhánh quyền lực nào không thể không bị
kiểm soát, giám sát, không thể hành động một cách chuyên chế. Vấn đề được
giải quyết bằng hệ thống kìm chế và đối trọng (system of checks and
balances). Bên cạnh tư tưởng về cân bằng quyền lực và hệ thống kiềm chế và
đối trọng, học thuyết phân chia quyền lực còn được bổ sung bằng luận điểm
về sự cần thiết đối với mối tương quan, tương hỗ giữa các nhánh quyền lực.
Đòi hỏi này xuất phát từ sự thống nhất của quyền lực nhà nước, phương
hướng chung trong chính sách của nhà nước.
Qua sự phân tích trên đây, có thể tạm tổng kết về phân chia quyền lực
như một phương cách hạn chế quyền lực nhà nước hữu hiệu như sau: 17
(1) Quyền lực thống nhất tối cao thuộc về nhân dân;
(2) Không có cơ quan nào nắm giữ toàn bộ quyền lực nhà nước;
(3) Sự độc lập của các nhánh quyền lực nhà nước và các cơ quan nhà
nước có tính chất tương đối;
(4) Hệ thống kiềm chế và đối trọng giới hạn quyền lực của mỗi cơ
quan nhà nước và sự cản trở tập trung quyền lực trong tay một nhánh quyền
lực nào đó gây tổn hại cho những nhánh khác.
Montesquieu đã từng nói “kinh nghiệm hàng thế kỷ cho thấy rõ ràng
khi nắm quyền trong tay, bất kỳ người nào cũng có thiên hướng lạm dụng nó,
và người đó còn đi theo hướng ấy cho tới lúc chưa đạt đến giới hạn” [16,
tr.25]. Phân chia quyền lực ra đời cũng là nhằm giảm thiểu sự lạm dụng như
vậy. Hiện nay, hầu như tất cả các nước trên thế giới đều áp dụng nguyên tắc
nhân dân. Rousseau còn cho rằng, nhà nước được hình thành trên cơ sở bản
“khế ước xã hội”. Theo quan điểm của Rousseau, khế ước là sự thoả thuận
giữa những chủ thể bình đẳng với nhau chứ không phải giữa nhà cầm quyền
và nhân dân, nhà nước chỉ là khế ước có tính chất hình thức, khi phục tùng xã
hội, cá nhân không hề chịu tuân thủ một ai riêng rẽ và “được tự do như đã
từng tự do”. Tự do và bình đẳng giữa những người tham gia khế ước bảo đảm
sự liên kết nhân dân vào một thực thể với những quyền lợi không thể đi
ngược lại những quyền lợi của từng cá nhân.
Bỏ qua luận điểm mang màu sắc duy tâm siêu hình của Rousseau về
nguồn gốc nhà nước thì có thể nói, quan điểm của Rousseau về chức năng xã
hội của nhà nước và chủ quyền nhân dân chứa đựng những hạt nhân hợp lý đã
được các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác - Lênin tiếp nhận và phát triển
thêm một bước, không chỉ ghi nhận về mặt lý luận mà còn tìm kiếm, xây
dựng trên thực tế mô hình một cơ quan để có thể trao toàn bộ quyền lực nhà
nước nhằm thực hiện chuyên chính vô sản. Công xã Pari chính là hình thức 19
nhà nước chuyên chính vô sản đầu tiên; sau đó là nền cộng hoà Xô viết được
xây dựng trên đất nước quê hương của V. I. Lênin. Hiến pháp Liên Xô năm
1977 quy định nhân dân thực hiện quyền lực nhà nước qua các Xô viết đại
biểu nhân dân. Mọi cơ quan nhà nước khác chịu sự kiểm soát của Xô viết và
chịu trách nhiệm báo cáo trước Xô viết.
Hiến pháp Việt Nam cũng ghi nhận nguyên tắc đó khi quy định “Quốc
hội là cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân, cơ quan quyền lực nhà nước
cao nhất của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam” (Điều 83 Hiến pháp
năm 1992).
Nguyên tắc thống nhất quyền lực có những mặt tích cực như:
(1) Thống nhất quyền lực nhằm tìm kiếm sự hoà hợp nhất trí trong xã
hội, có tác động dung hoà các thế lực và xu hướng cạnh tranh nhau;
còn quan điểm tập trung quyền lực cũng không loại trừ việc thành lập các cơ
quan nhà nước khác nhau thực hiện các chức năng khác nhau để thực hiện
quyền lực nhà nước thống nhất. Mục đích cuối cùng là phải tìm ra phương
cách để vận hành bộ máy nhà nước một cách hữu hiệu, để thực hiện quyền lực
của nhân dân.
Các nhà lập hiến Việt Nam đã có quan điểm khách quan và toàn diện
khi trong Nghị quyết sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp năm 1992
năm 2001 một mặt ghi nhận nguyên tắc “quyền lực nhà nước là tập trung
thống nhất không thể phân chia”, mặt khác quy định “sự phân công, phân
nhiệm giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp,
hành pháp, tư pháp”.
Và cuối cùng, qua sự phân tích trên, chúng tôi muốn khẳng định là các
quốc gia trên thế giới, dù tổ chức thực hiện quyền lực nhà nước dựa trên
nguyên tắc nào thì đều phải giải quyết một vấn đề có tính lý luận và thực tiễn
đó là tìm ra phương cách để hạn chế quyền lực nhà nước. 21
Khái niệm và mục đích của sự hạn chế quyền lực nhà nước
Hạn chế quyền lực nhà nước là thuật ngữ chỉ tính chất dân chủ trong
một nhà nước, nghĩa là nhà nước không thể có quyền vô hạn định, mà nhà
nước chỉ có quyền trong một phạm vi nhất định được quy định rõ ràng trong
luật. Thuật ngữ này đối lập với thuật ngữ vô hạn định ám chỉ nhà nước phong
kiến và chiếm hữu nô lệ, quyền lực của họ là vô hạn định không bị hạn chế
[12, tr. 45].
Mục đích của sự hạn chế quyền lực nhà nước là nhằm bảo vệ quyền lợi
của nhân dân, quyền con người. Quyền con người (nhân quyền - những quyền
tự nhiên của con người) là những quyền cơ bản nhất của con người, được có
một cách tự nhiên gắn bó mật thiết với con người.
Có thể khái quát các quyền con người theo bản Tuyên ngôn độc lập bất