ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
NGUYỄN THỊ MINH THU QUY TRÌNH XÂY DỰNG, BAN HÀNH VĂN BẢN
QUY PHẠM PHÁP LUẬT CỦA CHÍNH PHỦ
TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY
CHUYÊN NGÀNH: Lý luận và lịch sử nhà nước và pháp
luật
MÃ SỐ : 60.38.01 TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI - NĂM 2007
4
1. Quy định của pháp luật hiện hành về quy trình xây dựng, ban hành
văn bản quy phạm pháp luật của Chính phủ 31
2. Thực trạng việc thực hiện quy trình xây dựng, ban hành văn bản
quy phạm pháp luật của Chính phủ 38
2.1. Tình hình thực hiện quy trình 38
2.1.1. Lập Chương trình xây dựng, ban hành văn bản quy
phạm pháp luật của Chính phủ 38
2.1.2. Thành lập Ban soạn thảo 45
2.1.3. Tổ chức soạn thảo văn bản 46
2.1.4. Thẩm định dự thảo nghị quyết, nghị định 52
2.1.5. Thẩm tra dự thảo nghị quyết, nghị định 54
2.1.6. Thông qua dự thảo nghị quyết, nghị định 58
2.1.7. Chỉnh lý lần cuối dự thảo để trình Thủ tướng Chính phủ
ký văn bản 59
2.1.8. Ban hành văn bản 60
2.1.9. Công bố văn bản 60
2.2. Nhận xét về tình hình thực hiện quy trình xây dựng, ban hành
văn bản quy phạm pháp luật của Chính phủ 61
2.2.1. Ưu điểm 61
2.2.2. Nhược điểm 62
2.2.3. Nguyên nhân của những nhược điểm trong việc thực
hiện quy trình xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp
luật của Chính phủ 64
Chương 3. MỘT SỐ KIẾN NGHỊ ĐỔI MỚI, HOÀN THIỆN QUY
TRÌNH XÂY DỰNG, BAN HÀNH VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP
LUẬT CỦA CHÍNH PHỦ TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY 65
1. Các giải pháp chung 65
6
2.6. Hoàn thiện các quy định pháp luật về công tác thẩm định,
thẩm tra 82
2.7. Quy định các hình thức thông qua văn bản quy phạm pháp
luật của Chính phủ 83
2.8. Quy trình xây dựng, ban hành nghị định theo quy định tại
điểm b khoản 2 Điều 56 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp
luật 84
2.9. Bổ sung quy định về xây dựng, ban hành nghị quyết liên tịch
của Chính phủ 85
2.10. Xây dựng và thực hiện chiến lược đào tạo đội ngũ cán bộ,
công chức làm công tác xây dựng pháp luật có kiến thức chuyên
môn và kỹ năng soạn thảo pháp luật 86
2.11. Đảm bảo đủ và kịp thời kinh phí cho việc nghiên cứu, soạn
thảo văn bản quy phạm pháp luật 87
KẾT LUẬN 89
TÀI LIỆU THAM KHẢO 91
tác xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Chính phủ trong
những năm vừa qua còn không ít hạn chế, bất cập như chưa ban hành kịp thời 8
và đầy đủ các văn bản hướng dẫn thi hành luật, pháp lệnh, nghị quyết của
Quốc hội, Uỷ ban Thường vụ Quốc hội; một số văn bản còn mâu thuẫn,
chồng chéo, thậm chí trái pháp luật, thiếu tính khả thi; cơ quan được giao
soạn thảo văn bản lúng túng khi x ác định nội dung văn bản Điều này đã
trực tiếp tác động tiêu cực đến vị trí, vai trò chỉ đạo, điều hành của Chính phủ
và hiệu lực quản lý nhà nước cũng như ảnh hưởng đến tiến trình đẩy mạnh
công cuộc đổi mới và hội nhập của đất nước.
Có rất nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng nói trên, trong đó có
nguyên nhân quan trọng là hiện nay những quy định của pháp luật về quy
trình xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật nói chung và văn bản
quy phạm pháp luật của Chính phủ nói riêng chưa hoàn thiện, chưa thực sự
khoa học. Chính vì vậy, trong nhiều văn bản của Đảng và Nhà nước, nhiệm
vụ hoàn thiện và chuẩn hoá quy trình xây dựng văn bản quy phạm pháp luật
tiếp tục được đặt ra và được coi là nội dung quan trọng được ưu tiên thực hiện
trong các chiến lược, chương trình cải cách tư pháp, cải cách hành chính nhà
nước hiện nay.
Trong bối cảnh đó, nhằm góp phần nghiên cứu, đánh giá đúng thực
trạng, tìm rõ nguyên nhân và đưa ra các kiến nghị để từng bước hoàn thiện
quy trình xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Chính phủ, qua
đó nâng cao chất lượng hệ thống pháp luật, tạo cơ sở cho việc nâng cao năng
lực, hiệu quả công tác quản lý, chỉ đạo, điều hành của Chính phủ và hệ thống
hành chính nhà nước trên các mặt đời sống kinh tế, xã hội, tôi mạnh dạn chọn
đề tài "Quy trình xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật của
Chính phủ trong giai đoạn hiện nay" làm Luận văn tốt nghiệp cao học Luật.
Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu đề tài
10
Nguyên cứu lập pháp số tháng 9/2003; "Công tác ban hành văn bản quy định
chi tiết và hướng dẫn thi hành luật, pháp lệnh: thực trạng và giải pháp", Tạp
chí Nghiên cứu lập pháp số tháng 3/2006 của TS. Phạm Tuấn Khải và những
công trình nghiên cứu, bài viết của các tác giả khác.
Tuy nhiên, mỗi công trình khoa học, bài viết nghiên cứu chỉ đề cập đến
quy trình xây dựng văn bản quy phạm pháp luật của Chính phủ ở những khía
cạnh, góc độ nhất định.
Phạm vi nghiên cứu của đề tài
Đề tài tập trung vào việc xem xét những vấn đề lý luận và thực tiễn của
quy trình xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Chính phủ kể
từ khi có Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 1996, Luật số
02/2002 ngày 16 tháng 12 năm 2002 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật
Ban hành văn bản quy phạm pháp luật, Nghị định số 161/2005/NĐ-CP ngày
27 tháng 12 năm 2005 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều
của Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật và các văn bản khác có liên
quan.
Đề tài này không đi sâu nghiên cứu và giải quyết các vấn đề như khái
niệm văn bản quy phạm pháp luật, phân loại văn bản quy phạm pháp luật, thời
điểm có hiệu lực của văn bản quy phạm pháp luật, thời điểm áp dụng văn bản
quy phạm pháp luật, áp dụng pháp luật chuyên ngành và các vấn đề khác.
Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp luận:
Đề tài được nghiên cứu trên cơ sở phương pháp luận truyền thống của
chủ nghĩa Mác - Lênin; các quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin về nhà
nước và pháp luật liên quan đến vai trò của nhà nước, pháp luật, về xây dựng
bản quy phạm pháp luật của Chính phủ.
- Chương 2: Thực trạng việc thực hiện quy trình xây dựng, ban hành
văn bản quy phạm pháp luật của Chính phủ.
- Chương 3: Một số kiến nghị đổi mới, hoàn thiện quy trình xây dựng,
ban bành văn bản quy phạm pháp luật của Chính phủ trong giai đoạn hiện
nay.
- Kết luận.
- Tài liệu tham khảo. 13
Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUY TRÌNH XÂY DỰNG,
BAN HÀNH VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT CỦA CHÍNH PHỦ
1. Địa vị pháp lý và nhiệm vụ, quyền hạn của Chính phủ
1.1. Địa vị pháp lý của Chính phủ
Ngay từ khi xuất hiện nhà nước thì hoạt động quản lý, điều hành nhà
nước và xã hội đã là một hoạt động không thể thiếu của mỗi nhà nước cho dù
nó tồn tại và được tổ chức với quy mô lớn hay nhỏ, với những hình thức, cơ
chế hoạt động hoặc tên gọi khác nhau. Thuật ngữ "chính phủ" chỉ xuất hiện
với tư cách là một cơ quan điều hành từ giai đoạn nhà nước tư bản. Trong
tiếng Anh, từ Government có nghĩa là cai trị, chính quyền, chính phủ, cơ
quan điều hành.
Danh từ "chính phủ" có nhiều nghĩa, khi thì chỉ định tất cả các cơ quan
nhà nước bao gồm cả lập pháp, hành pháp và tư pháp như cách hiểu trong
cụm từ "the govenrment" của Chính phủ Mỹ. Còn theo nghĩa hẹp được dùng
trong quy định của hiến pháp, chính phủ có nghĩa là nội các, hay là thành
phần của chính phủ tương đương với nội các ở những nước không có chế
định nội các [8, tr.92]. Còn theo nghĩa rộng, Chính phủ có thể được hiểu là bộ
máy thực hiện chức năng hành pháp, là cơ quan nắm quyền lực công của một
chung tập trung vào người đứng đầu chính phủ thì sự phân biệt giữa địa vị
pháp lý, nhiệm vụ, quyền hạn của chính phủ và người đứng đầu chính phủ là
vấn đề cần làm rõ trong quá trình hoàn thiện bộ máy nhà nước ta hiện nay để
đảm bảo tính tập trung, dân chủ, thống nhất, hiệu quả của hoạt động hành
pháp. Theo đó, trách nhiệm của tập thể và cá nhân cần được phân định rõ
ràng, khoa học, hợp lý để tập thể không làm "lu mờ" khả năng sáng tạo,
không phát huy được trách nhiệm của cá nhân, ngược lại cá nhân không 15
chuyên quyền, quyết định thay tập thể.
Ở nước ta, ngay sau cách mạng tháng 8/1945, Quốc hội khoá I đã xác
định "Cơ quan hành chính cao nhất của toàn quốc là Chính phủ Việt Nam dân
chủ cộng hoà" (Điều 43 Hiến pháp năm 1946 của nước Việt Nam dân chủ
cộng hoà (sau đây gọi là tắt là Hiến pháp năm 1946)). Đến Hiến pháp nước
Việt Nam dân chủ cộng hoà năm 1959 (sau đây gọi là tắt là Hiến pháp năm
1959), tại Điều 71, Quốc hội quy định: "Hội đồng Chính phủ là cơ quan chấp
hành của cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất và là cơ quan hành chính nhà
nước cao nhất của nước Việt Nam dân chủ cộng hoà". Đến Hiến pháp nước
Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1980 (sau đây gọi là tắt là Hiến
pháp năm 1980) thì Chính phủ của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt
Nam được quy định "là cơ quan chấp hành và hành chính nhà nước cao nhất
của cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất" (Điều 104 Hiến pháp năm 1980).
Đến Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 (sau
đây gọi là tắt là Hiến pháp năm 1992), Hiến pháp của thời kỳ đổi mới của
Việt Nam đã được ban hành với một số nội dung đổi mới khá quan trọng,
nhằm làm cho Chính phủ trở nên năng động hơn, linh hoạt hơn, đáp ứng tốt
hơn yêu cầu nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác chỉ đạo, điều hành, tập
trung thống nhất và thông suốt trong điều kiện và hoàn cảnh mới.
Tại Điều 109 Hiến pháp năm 1992, Chính phủ được xác định "là cơ
thị, thông tư mà hiệu lực pháp lý của các loại văn bản này không rõ). Đến
nay, địa vị pháp lý của Chính phủ đã được nhận thức lại trên cơ sở phân biệt
thẩm quyền của Chính phủ và thẩm quyền của Thủ tướng. Chẳng hạn, Chính
phủ chỉ được ban hành hai loại văn bản là nghị quyết, nghị định; Thủ tướng
Chính phủ ban hành quyết định, chỉ thị; bộ trưởng ban hành quyết định, chỉ
thị, thông tư trong phạm vi quản lý ngành, lĩnh vực.
Để đáp ứng yêu cầu đổi mới, trong đó có đổi mới và nâng cao hiệu quả 17
của hoạt động quản lý nhà nước và tiếp cận với cách nhìn hiện đại về Chính
phủ trong việc quản lý các công việc hành pháp của đất nước thì trong tổ
chức và hoạt động của Chính phủ cần tiếp tục đề cao nguyên tắc chế độ tập
thể trong hoạt động của Chính phủ với đề cao trách nhiệm cá nhân của Thủ
tướng Chính phủ và các thành viên Chính phủ. Nguyên tắc này phù hợp với
bản chất hoạt động của Chính phủ và phù hợp với cơ chế linh hoạt của nền
kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Theo đó, vai trò, thẩm quyền
của Chính phủ, người đứng đầu Chính phủ (Thủ tướng Chính phủ) và các
thành viên Chính phủ cần được phân biệt rõ: tập thể Chính phủ có thẩm
quyền gì, Thủ tướng Chính phủ có thẩm quyền gì, bộ trưởng có thẩm quyền
gì tương ứng với phạm vi trách nhiệm và lĩnh vực hoạt động. Vai trò cá nhân
của Thủ tướng Chính phủ cần được đề cao và quy định rõ hơn, cụ thể hơn để
đảm bảo tính thống nhất, ổn định và kỷ cương của nền hành chính: Thủ
tướng Chính phủ là thành viên Chính phủ, nhưng là người đứng đầu Chính
phủ, quyết định các hoạt động hành chính của đất nước. Ngoài tư cách là
người đứng đầu, Thủ tướng Chính phủ còn có quyền định hướng và quyết
định những vấn đề quan trọng trong tập thể Chính phủ [16, tr.18]. Những vấn
đề thuộc thẩm quyền của tập thể Chính phủ cũng cần được làm rõ và song
song với nó là đổi mới phương thức làm việc của Chính phủ một cách khoa
học, hợp lý, phát huy được sáng tạo của các thành viên Chính phủ để nâng
sở; bảo đảm việc tôn trọng và chấp hành Hiến pháp và pháp luật; phát huy
quyền làm chủ của nhân dân trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc,
bảo đảm ổn định và nâng cao đời sống vật chất và văn hoá của nhân dân.
Trong Luật Tổ chức Chính phủ năm 2001 và nhiều văn bản quy phạm
pháp luật khác, nhiệm vụ, quyền hạn của Chính phủ được thể hiện trên tất cả
các ngành, lĩnh vực như: kinh tế; khoa học, công nghệ và môi trường; văn 19
hoá, giáo dục, thông tin, thể thao và du lịch; y tế và xã hội; dân tộc và tôn
giáo; quốc phòng, an ninh và trật tự, an toàn xã hội; đối ngoại; tổ chức hành
chính nhà nước; hướng dẫn và kiểm tra Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân
dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương; pháp luật và hành chính tư pháp.
Nhiệm vụ, quyền hạn của Chính phủ còn được thể hiện trên các
phương diện, các mặt hoạt động của các Bộ và cụ thể là các Bộ trưởng đối
với các lĩnh vực quản lý ngành, lĩnh vực.
Để thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn này, Chính phủ có nhiều quyền
hạn cụ thể, trong đó quyền quan trọng nhất là ban hành nghị quyết, nghị định
căn cứ vào luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Uỷ ban
Thường vụ Quốc hội, lệnh, quyết định của Chủ tịch nước. Nghị quyết, nghị
định của Chính phủ có hiệu lực trong phạm vi toàn quốc và là cơ sở pháp lý
quan trọng cho hoạt động của hệ thống bộ máy quản lý, là phương tiện chủ yếu
bảo đảm cho việc thi hành các nhiệm vụ, chức năng quản lý trên phạm vi cả
nước.
1.3. Thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Chính phủ
Học thuyết phân quyền thời kỳ cách mạng tư sản (thế kỷ thứ XVIII)
phân chia quyền lực nhà nước thành ba nhánh quyền lực cơ bản: lập pháp,
hành pháp và tư pháp. Ba quyền này được giao cho những cơ quan khác
nhau: quốc hội nắm quyền lập pháp, chính phủ nắm quyền hành pháp và toà
án nắm quyền tư pháp. Lập pháp là quyền ban hành các đạo luật, ấn định
quốc hội thông qua [11, tr.10].
Quyền lập quy được đa số các nước hiện nay thừa nhận là quyền của
cơ quan hành pháp nhưng việc thực hiện quyền lập quy không được trái với
các nguyên tắc pháp lý đã được xác lập bởi quyền lập pháp. Chính phủ lập
quy trên tinh thần tổ chức thi hành các đạo luật và không được trái với các 21
nguyên tắc và nội dung của các đạo luật. Trong điều kiện nhà nước pháp
quyền, tính tuân thủ pháp luật trong hoạt động của mọi cơ quan nhà nước, tổ
chức và công dân, tính thống nhất, đồng bộ của hệ thống pháp luật là một
trong những nội dung quan trọng để bảo đảm quyền con người; nhưng song
song với nó cũng là nhu cầu cần phải đảm bảo sự năng động, sáng tạo, thích
ứng, linh hoạt, chủ động của hoạt động quản lý, điều hành đất nước, do đó,
quyền lập quy của chính phủ là cần thiết nhưng phải đảm bảo tuân thủ pháp
luật, các văn bản do chính phủ ban hành không được đi ngược với mong
muốn của nhân dân, tức là không được trái luật.
Nhận thức sự cần thiết của quyền lập quy đối với ngành hành pháp, các
nhà lập hiến Việt Nam đã sớm thừa nhận quyền lập quy của Chính phủ. Điều
53 Hiến pháp năm 1946 ghi nhận cho Chính phủ quyền ban hành các sắc lệnh
[2]. Sau đó, Hiến pháp năm 1959 cũng quy định Hội đồng Chính phủ ban bố
nghị định, nghị quyết, chỉ thị tại các điều 73, 74, 76 [3]. Hội đồng Bộ trưởng
theo Hiến pháp năm 1980 có quyền ra nghị quyết, nghị định, chỉ thị, thông tư
(Điều 190) [4]. Hiến pháp hiện hành cũng tiếp tục thừa nhận quyền lập quy
của Chính phủ. Điều 115 Hiến pháp năm 1992 quy định: "Căn cứ vào Hiến
pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Uỷ ban
thường vụ Quốc hội, lệnh, nghị quyết của Chủ tịch nước, Chính phủ ra nghị
quyết, nghị định, Thủ tướng Chính phủ ra quyết định, chỉ thị và kiểm tra việc
thi hành các văn bản đó". Như vậy, so với Hiến pháp năm 1959, Hiến pháp
năm 1980 thì đến Hiến pháp năm 1992, loại văn bản mà Chính phủ có thẩm
nhưng chưa đủ chín muồi để quy định thành luật. Do đó, việc Chính phủ ban
hành nghị định điều chỉnh các quan hệ mới phát sinh trong quản lý là một
định hướng đúng. Trên thực tế, trong những năm vừa qua, Chính phủ đã ban
hành rất nhiều nghị quyết, nghị định để điều chỉnh các quan hệ xã hội mới 23
phát sinh trong hầu hết các lĩnh vực quản lý nhà nước như: các nghị quyết về
cải cách thủ tục hành chính; về xã hội hoá các hoạt động y tế, giáo dục, văn
hoá, thể dục thể thao; về kinh tế trang trại Các văn bản đó đã trở thành
những hành lang pháp lý rất quan trọng trong công tác quản lý nhà nước, làm
cơ sở cho việc xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật.
2. Văn bản quy phạm pháp luật của Chính phủ
2.1. Khái niệm văn bản quy phạm pháp luật
Điều 1 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 1996 đã được
sửa đổi, bổ sung năm 2002 định nghĩa: "Văn bản quy phạm pháp luật là văn
bản do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành theo thủ tục, trình tự luật
định, trong đó có quy tắc xử sự chung, được Nhà nước bảo đảm thực hiện
nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội theo định hướng xã hội chủ nghĩa".
Khoản 1 Điều 3 Nghị định số 161/2005/NĐ-CP ngày 27/13/2005 quy
định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Ban hành văn bản
quy phạm pháp luật quy định văn bản quy phạm pháp luật do cơ quan nhà
nước ở trung ương ban hành là văn bản:
"a) Do cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền ban hành theo hình
thức quy định tại Điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Ban
hành văn bản quy phạm pháp luật;
b) Được ban hành theo thủ tục, trình tự quy định tại Luật Ban hành
văn bản quy phạm pháp luật, luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Ban
hành văn bản quy phạm pháp luật, các quy định của Nghị định này và các
văn bản quy phạm pháp luật có liên quan;
25
cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ và các cơ quan khác thuộc thẩm
quyền của Chính phủ thành lập; các biện pháp cụ thể để thực hiện nhiệm vụ,
quyền hạn của Chính phủ;
b) Nghị định quy định những vấn đề hết sức cần thiết nhưng chưa đủ
điều kiện xây dựng thành luật hoặc pháp lệnh để đáp ứng yêu cầu quản lý
nhà nước, quản lý kinh tế, quản lý xã hội. Việc ban hành nghị định này phải
được sự đồng ý của Uỷ ban thường vụ Quốc hội".
- Được ban hành theo trình tự, thủ tục do Luật Ban hành văn bản quy
phạm pháp luật, Nghị định số 161/2005/NĐ-CP và các văn bản quy phạm
pháp luật khác liên quan như: lập chương trình xây dựng văn bản quy phạm
pháp luật của Chính phủ; thành lập Ban soạn thảo để soạn thảo văn bản quy
phạm pháp luật của Chính phủ; tổ chức soạn thảo; xin ý kiến các cơ quan, tổ
chức, cá nhân có liên quan; tiếp thu ý kiến; gửi cơ quan có thẩm quyền thẩm
định; tiếp thu ý kiến thẩm định
- Có chứa quy tắc xử sự chung. Quy tắc xử sự chung ở đây được hiểu
là quy phạm điều chỉnh một hoặc một nhóm các quan hệ xã hội nhất định.
Quy phạm pháp luật là thành tố cấu thành của hệ thống pháp luật, là đặc
trưng cơ bản nhất để phân biệt văn bản quy phạm pháp luật với văn bản cá
biệt. Tuy nhiên, các hiểu về quy phạm pháp luật, về phân biệt quy phạm pháp
luật với các quy tắc chuyên môn, nghiệp vụ, về cách phân loại quy phạm
pháp luật, về văn bản quy phạm pháp luật hiện nay còn rất khác nhau và chưa
thống nhất. Ngoài ra, các quy định của pháp luật cũng chưa tìm ra được khái
niệm và các quy định chính xác, khoa học và hợp lý nhất về vấn đề này, vì
vậy, trong thực tế việc ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Chính phủ
còn có sự lẫn lộn giữa văn bản quy phạm pháp luật với văn bản cá biệt; giữa
văn bản quy phạm pháp luật với các công văn chỉ đạo, điều hành hàng ngày