Quyền của người khuyết tật nhìn từ góc độ lịch sử, văn hóa, pháp lý và thực tiễn - Pdf 25


đại học quốc gia hà nội
khoa luật

phan thanh minh quyền của ng-ời khuyết tật nhìn từ góc độ
lịch sử, văn hóa, pháp lý và thực tiễn

luận văn thạc sĩ luật học

Hà nội - 2011

MỤC LỤC
Trang

Trang phụ bìa Lời cam đoan Mục lục Danh mục từ viết tắt MỞ ĐẦU
1

Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ QUYỀN CỦA NGƯỜI
KHUYẾT TẬT
6
1.1.
Quan điểm, chủ trương, chính sách về quyền của người
khuyết tật
6
1.1.1.
Đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về

1.3.3.2.
Pháp luật về người khuyết tật góp phần thay đổi cách nhìn
nhận của xã hội đối với người khuyết tật và gia đình họ
24

1.3.3.3.
Pháp luật về người khuyết tật góp phần vào việc làm rõ
những đặc thù riêng về người khuyết tật ở nước ta
24
1.3.4.
Pháp luật quốc tế về bảo vệ quyền của người khuyết tật
25
1.3.4.1.
Tổng quan pháp luật quốc tế về bảo vệ quyền của người
khuyết tật
26
1.3.4.2.
Nội dung cơ bản của Công ước quốc tế về quyền của người
khuyết tật
26
1.3.4.3.
Ý nghĩa sự ra đời của Công ước quốc tế về quyền của người
khuyết tật
26
1.4.
Điều chỉnh pháp luật về người khuyết tật và quyền của
người khuyết tật
27
1.4.1.
Điều chỉnh pháp luật về người khuyết tật

2.1.1.
Pháp luật quốc tế về quyền của người khuyết tật
34
2.1.1.1.
Công ước quốc tế về quyền của người khuyết tật
34
2.1.1.2.
Chương trình hành động ở khu vực Châu Á - Thái Bình Dương
38
2.1.1.3.
Đối với các quốc gia trên thế giới
40

2.1.2.
Pháp luật Việt Nam về quyền của người khuyết tật
42
2.1.2.1.
Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật, văn bản hướng dẫn
42
2.1.2.2.
Công tác tuyên truyền, phổ biến nâng cao nhận thức
49
2.2.
Thực thi pháp luật về quyền của người khuyết tật ở Việt Nam
51
2.2.1.
Tình hình thực tế về người khuyết tật
51
2.2.2.
Đánh giá việc thực thi pháp luật về quyền của người khuyết tật

2.3.1.3.
Các chính sách hỗ trợ
69
2.3.1.4.
Phát triển phúc lợi và các dịch vụ cần thiết
69
2.3.1.5.
Trách nhiệm của Nhà nước và các tổ chức
70
2.3.1.6.
Sự tham gia giám sát
71
2.3.1.7.
Các vấn đề được lựa chọn phù hợp với điều kiện thực tế của
Việt Nam
71
2.3.2.
Kinh nghiệm từ pháp luật một số quốc gia
71
2.3.2.1.
Luật cơ bản về người khuyết tật Nhật Bản
71
2.3.2.2
Luật về người khuyết tật của Malaysia
75

2.3.2.3.
Kinh nghiệm từ Luật bảo vệ người khuyết tật của Trung Quốc
81
2.3.2.4

Hoàn thiện hệ thống pháp luật về người khuyết tật
94
3.3.4.
Đẩy mạnh phòng ngừa khuyết tật
96
3.3.5.
Tăng cường cơ chế thực thi và giám sát, đánh giá việc thực
hiện các quyền của người khuyết tật
97

KẾT LUẬN
99

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
101 Danh môc c¸c b¶ng

Sè hiÖu
b¶ng
Tªn b¶ng
Trang
1.1
Quan điểm của cộng đồng về người khuyết tật
20


2
"Người khuyết tật" là những người nằm trong nhóm những người yếu
thế của xã hội. Chính vì thế, họ là những đối tượng luôn dành được sự quan
tâm của tất cả các quốc gia, dân tộc đặc biệt trên bình diện quyền. Cùng với
quyền con người, vấn đề quyền của người khuyết tật cũng đang thu hút sự chú
ý của các chuyên gia nghiên cứu nói riêng và toàn xã hội nói chung, nhằm
nâng cao hơn nữa vị thế của người khuyết tật trong xã hội, tạo cho họ cuộc
sống tốt hơn - bình thường như bao con người bình thường trong xã hội -
đồng thời xây dựng cơ chế phòng ngừa khuyết tật và hỗ trợ tích cực để thực
thi các quyền của người khuyết tật.
Từ tình hình trên tôi lựa chọn "Quyền của người khuyết tật nhìn từ
góc độ lịch sử, văn hóa, pháp lý và thực tiễn" làm đề tài luận văn thạc sĩ của
mình, với mong muốn góp phần vào việc hoàn thiện hơn những vấn đề về
quyền của người khuyết tật ở nước ta.
2. Tình hình nghiên cứu
Nghiên cứu về quyền của người khuyết tật là một đề tài khá mới mẻ
trên cả bình diện lý thuyết và thực tiễn. Đã có một số công trình khoa học liên
quan đến vấn đề này, cụ thể:
- Đề tài "Các biện pháp tổ chức giáo dục hòa nhập giúp trẻ em khuyết
tật thính giác vào lớp 1", Luận án Tiến sĩ giáo dục học, của Nguyễn Thị
Hoàng Yến.
- Đề tài "Hoàn thiện pháp luật về quyền của người khuyết tật ở Việt
Nam hiện nay", Luận án Tiến sĩ Luật học của Nguyễn Thị Báo, Học viện
Chính trị - Hành chính Quốc gia.
- Báo cáo kết quả thực hiện Pháp lệnh về người tàn tật và đề án trợ
giúp người khuyết tật giai đoạn 2006 - 2010, của Bộ Lao động, Thương binh
và Xã hội năm 2008.
- Báo cáo đánh giá tình hình thực hiện các chính sách trợ giúp phụ nữ
khuyết tật năm 2008, của Trung ương Hội liên hiệp Phụ nữ Việt Nam.


nhìn từ góc độ lịch sử, văn hóa, pháp lý và thực tiễn.
- Đánh giá đúng đắn, toàn diện về quyền của người khuyết tật từ góc
độ lịch sử, văn hóa, pháp lý và việc thực thi quyền của người khuyết tật, thuận
lợi và khó khăn;
- Đưa ra các khuyến nghị để bảo vệ, bảo đảm và thúc đẩy việc thực
hiện quyền của người khuyết tật trong giai đoạn hiện nay ở Việt Nam.
4. Phạm vi nghiên cứu của đề tài
Quyền của người khuyết tật là một vấn đề tương đối rộng, do vậy trong
phạm vi luận văn thạc sĩ, tác giả chỉ tập trung nghiên cứu về "quyền của người
khuyết tật nhìn từ góc độ lịch sử, văn hóa, pháp lý và thực tiễn" và đi sâu vào
phân tích khía cạnh pháp lý và thực tiễn về quyền của người khuyết tật.
5. Đóng góp khoa học của đề tài
Luận văn là một trong những công trình đầu tiên ở trong nước nghiên cứu
có hệ thống về quyền của người khuyết tật và có những đóng góp mới sau đây:
- Làm sáng tỏ một số vấn đề chung về quyền của người khuyết tật.
- Đánh giá có hệ thống và khái quát thực trạng pháp luật và thực thi
pháp luật về quyền của người khuyết tật.
- Đề xuất những quan điểm và giải pháp cơ bản góp phần bảo vệ, bảo
đảm và thực hiện quyền của người khuyết tật ở Việt Nam.
6. Phương pháp nghiên cứu
Đề tài được nghiên cứu dựa trên phương pháp luận Mác - Lênin, tư
tưởng Hồ Chí Minh và đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam về nhà nước
và pháp luật. Đề tài được thực hiện bởi các phương pháp thống kê, phân tích,
tổng hợp để xử lý tài liệu thu thập, so sánh và minh họa bằng biểu đồ, sơ đồ,
tham khảo tài liệu trong và ngoài nước.

5
7. Kết cấu cấu luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội
dung của luận văn gồm 3 chương:

neo đơn, tàn tật, mất sức lao động và trẻ mồ côi" [53]. Nghị quyết Đại hội Đảng
toàn quốc lần thứ VIII tiếp tục nhấn mạnh: "Thực hiện các chính sách bảo trợ
trẻ em mồ côi, lang thang cơ nhỡ, người già neo đơn, nạn nhân chiến tranh,
người tàn tật" và "tiến tới xây dựng luật về bảo trợ người tàn tật" [54].

7
Việc ban hành Dự án Luật nhằm cụ thể hóa cương lĩnh của
Đảng, Hiến pháp của Nhà nước, từng bước luật pháp hóa các quan
hệ chính trị, kinh tế, văn hóa - xã hội và các chính sách liên quan
đến người khuyết tật, tạo môi trường pháp lý, điều kiện và cơ hội
bình đẳng, không rào cản đối với người khuyết tật [54].
Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế, Nghị quyết Đại hội Đảng
toàn quốc lần thứ X khẳng định:
Mục tiêu và phương hướng tổng quát của 5 năm 2006 -
2010 là: nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng,
phát huy sức mạnh toàn dân tộc, đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi
mới, huy động và sử dụng tốt mọi nguồn lực cho công nghiệp hóa,
hiện đại hóa đất nước; phát triển văn hóa; thực hiện tiến bộ và công
bằng xã hội; tăng cường quốc phòng và an ninh, mở rộng quan hệ
đối ngoại; chủ động và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế [55].
Nghị quyết Hội nghị lần thứ 4 Ban Chấp hành Trung ương Đảng
(khóa X) đã nêu quan điểm xây dựng Luật Người tàn tật là phải thể hiện rõ
truyền thống thương người như thể thương thân, lá lành đùm lá rách của
người Việt Nam; phải thể chế hóa được tư tưởng Hồ Chí Minh và đường lối
chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước về người tàn tật;
làm rõ quyền và trách nhiệm của người tàn tật, tạo điều kiện để họ phát huy
khả năng tàn nhưng không phế, có chế tài kèm theo; làm rõ chức năng quản lý
của Nhà nước về người tàn tật; xã hội hóa việc chăm sóc, trợ giúp người tàn tật.
Hiến pháp các năm 1946, 1959, 1980, 1992 đều khẳng định người
khuyết tật là công dân, thành viên của xã hội, có quyền lợi và nghĩa vụ của

điểm chỉ đạo Nhà nước khuyến khích, tạo điều kiện thuận lợi cho người tàn
tật thực hiện bình đẳng các quyền về chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội và phát
huy khả năng của mình để ổn định đời sống, hòa nhập cộng đồng, tham gia
các hoạt động xã hội. Người tàn tật được Nhà nước và xã hội trợ giúp chăm

9
sóc sức khỏe, phục hồi chức năng, tạo việc làm phù hợp và được hưởng các
quyền khác theo quy định của pháp luật. Pháp lệnh đã quy định nội dung,
nguyên tắc, tổ chức thực hiện, phân công trách nhiệm các cơ quan, tổ chức và
chính quyền các cấp đảm người tàn tật thực hiện các quyền và trách nhiệm
của người tàn tật và sống hòa nhập cộng đồng xã hội; gia đình người tàn tật
thực hiện các trách nhiệm bảo vệ, nuôi dưỡng chăm sóc giúp đỡ người khuyết
tật của gia đình; Nhà nước và xã hội đối thực hiện các chương trình, đề án,
chính sách đối với người tàn tật trên các lĩnh vực chăm sóc sức khỏe và nuôi
dưỡng, học văn hóa, học nghề và việc làm, hoạt động văn hóa, thể dục thể
thao và sử dụng công trình công cộng… đối với người tàn tật. Sự ra đời của
Pháp lệnh về người tàn tật đã góp phần vào cải thiện đời sống của người
khuyết tật, đồng thời có nhiều thay đổi tích cực về mặt kinh tế, xã hội. Pháp
lệnh cũng là cơ sở pháp lý, nguyên tắc để Chính phủ, các Bộ, ngành đưa cá
vấn đề liên quan đến người khuyết tật vào các Luật chuyên ngành để trình
quốc hội thông qua, đồng thời xây dựng và ban hành các chính sách, chương
trình, dự án đề án trợ giúp người tàn tật hòa nhập cộng đồng, tổ chức huy
động nguồn lực quốc tế, trong nước trợ giúp người tàn tật có hiệu quả.
Để người khuyết tật được hưởng đầy đủ và bình đẳng các quyền con
người, quyền tự do cơ bản mang tính toàn cầu và tạo điều kiện tham gia bình
đẳng vào các hoạt động xã hội; đồng thời xây dựng xã hội không rào cản, theo
cam kết của Việt Nam với cộng đồng quốc tế trong việc thực hiện Thập kỷ
lần thứ II về người khuyết tật và yêu cầu hội nhập, cần nghiên cứu xây dựng
luật để thay thế Pháp lệnh về người tàn tật. Do vậy, tại kỳ họp thứ 7 thông qua
ngày 17 tháng 6 năm 2010, Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt

Tình nghĩa ấy được Người nâng lên cao đẹp hơn, trở thành tình nghĩa đồng
bào, đồng chí, tình nghĩa năm châu bốn biển một nhà. Ngay từ năm 1947,
trong khi cuộc chiến chống thực dân Pháp đang diễn ra quyết liệt, người đã

11
nói đến đời sống mới của một người, một nhà, một làng và khắp cả nước.
Người nhắc đến tục ngữ "lá lành đùm lá rách", "đói cho sạch rách cho thơm".
Và, nếu một mình no ấm mà nỡ để đồng bào xung quanh đói rét…, thì dù giàu
cũng không hưởng được. Người nói: Cách cư xử đối với đồng bào thì nên
thành thực, thân ái, sẵn lòng giúp đỡ những đối tượng yếu thế, trong đó có
người tàn tật, khuyết tật.
Tiếp thu tư tưởng vị tha ở Phật giáo, Hồ Chí Minh là hiện thân của
lòng nhân ái, độ lượng, khoan dung - những nét đặc trưng của giáo lý đạo
Phật. Theo người con người sống với nhau phải có tư tưởng vị tha, từ bi, bác
ái, cứu khổ cứu nạn, thương người như thể thương thân. Giúp đỡ những người
yếu thế, bất hạnh để họ có nghị lực vươn lên trong cuộc sống. Gia đình Bác
Hồ là gia đình nhà nho nghèo, gần gũi với nông dân, cũng thấm nhuần tinh
thần đó và để lại dấu ấn trong tư tưởng Hồ Chí Minh.
Tình yêu thương con người của Bác Hồ nói chung và tấm lòng của
người đối với người khuyết tật nói riêng là rất cụ thể, từ việc to như lo giải
phóng cho con người, khuyến khích: "phần tốt ở mỗi con người nẩy nở như
hoa mùa xuân, và phần xấu bị mất dần đi", "thương binh tàn nhưng không
phế", đến việc chăm lo từng con người cụ thể, không chỉ: Lụa tặng cụ già, sữa
tặng bà mẹ sinh ba, mà là từng bát cơm, manh áo, từ chỗ ở, việc làm để an cư,
lạc nghiệp đến tương cà mắm muối hàng ngày cho nhân dân. Bác lo cho cả
dân tộc và chăm lo cho từng chiến sĩ bảo vệ, phục vụ quanh Người. Theo Bác:
Yêu thương con người là phải tôn trọng, quý trọng con người. Bác đánh giá
cao vai trò của nhân dân: "Trong bầu trời không gì quý bằng nhân dân". Bác
tôn trọng từ các nhà khoa học, các bậc hiền tài cho tới những người lao công
quét rác, bởi theo Bác, từ Chủ tịch nước tới người lao động bình thường, nếu

giới và đã hiến dâng cả đời mình cho sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc,
giải phóng giai cấp và giải phóng con người.
Khi nước nhà giành được độc lập, trước hết quan tâm đến nhân dân,
Người khẳng định: "Nếu nước được độc lập mà dân không được hưởng hạnh

13
phúc tự do, thì độc lập ấy cũng chẳng có nghĩa lý gì" [59]. Nên ham muốn tột
bậc của cả đời Người là phấn đấu sao cho nước nhà được hoàn toàn độc lập, dân
ta được hoàn toàn tự do, ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành.
Từ khi bắt đầu biết nhận thức về cuộc sống cho đến khi trút hơi thở
cuối cùng trái tim Bác luôn thổn thức với niềm đau, nỗi khổ của con người.
Trước lúc vĩnh viễn đi xa, trong Di chúc, Người viết: "Đầu tiên là vấn đề con
người". Lòng yêu thương con người của Hồ Chí Minh không phải là lòng
thương hại của "bề trên" nhìn xuống, cũng không phải là sự động lòng trắc ẩn
của người "đứng ngoài" trông vào, mà là sự đồng cảm của những người cùng
cảnh ngộ. Vậy nên, Hồ Chí Minh không đứng ở trên cao nhìn xuống ban ơn,
không đứng ở bên ngoài thông cảm, mà đứng ở trong lòng nhân dân, trong
lòng nhân loại, đập cùng một nhịp tim, chia cùng một sức sống, mang cùng
một hơi thở… với nhân dân, với dân tộc và nhân loại. Tình yêu thương của
Người là tình yêu thương của người trong cuộc. Ở Hồ Chí Minh, lòng yêu
thương con người luôn gắn chặt với niềm tin mãnh liệt vào sức mạnh, phẩm
giá, khả năng vươn lên chân, thiện, mỹ của con người.
Tình thương yêu con người của Hồ Chí Minh không chỉ thấm đậm
trong các chủ trương chính sách phát triển kinh tế văn hóa xã hội của Người
khi đứng đầu Đảng, Nhà nước ta, mà còn thấm sâu trong phong cách làm việc
và lối sống hàng ngày của Người. Người dành tình yêu thương, sự quan tâm
đặc biệt của mình cho các em nhỏ, các cụ già, những người tàn tật. Sự quan
tâm, chăm sóc của Bác không phải bột phát, nó cứ thường xuyên, tự nhiên
như chính một thành tố cố hữu tạo nên tính cách một con người. Ở Bác có cả
một biển cả tình yêu bao la không bao giờ cạn.

nếu có phạm tội thì quan ti không được dùng hình phạt tra khảo, chỉ căn cứ
vào các bằng cớ mà định tội. Đối với những người có hoàn cảnh khó khăn
như cô quả, tàn tật, ốm đau, nghèo túng…, nhà nước cũng yêu cầu quan lại
các địa phương và mọi người đều phải quan tâm, giúp đỡ. Điều 294 - Bộ luật
Hồng Đức quy định: Trong kinh thành hay phường, ngõ và làng xóm có kẻ

15
đau ốm mà không ai nuôi nấng, nằm ở đường sá…thì xã quan ở đó phải dựng
lều lên mà giữ gìn, săn sóc và cho họ cơm cháo, thuốc men, cốt sao cứu cho
họ sống…Nếu trái lệnh này thì quan phường xã phải tội biếm hay bãi chức.
Điều 295 quy định: Những người góa vợ, góa chồng, mồ côi, tàn tật nặng,
nghèo khổ không có người thân thích để nương tựa, không thể tự mình nuôi
sống được, quan sở tại phải thu nuôi họ.
Các chính sách trên một phần là để giảm bớt khó khăn về đời sống,
ngoài ra còn có tác dụng giáo dục ý thức đạo đức, giữ gìn thuần phong mỹ tục
của dân tộc. Ngoài một số hạn chế do những đặc điểm kinh tế - chính trị - xã
hội đương thời chi phối, những quy định trong Bộ luật thể hiện sự tiến bộ
trong công tác xây dựng pháp luật của những nhà làm luật thời kỳ phong kiến.
Những nguyên tắc cơ bản và tư tưởng về bảo vệ, bảo đảm quyền của người
khuyết tật trong Bộ luật Hồng Đức không chỉ đề cao tính giai cấp mà còn thể
hiện tính nhân đạo vốn là nét đẹp truyền thống của người Việt Nam. Chính
bởi vậy, nhiều nguyên tắc tiến bộ trong Bộ luật này đã tiếp tục được kế thừa
và phát huy trong luật hình sự Việt Nam hiện đại.
Có thể thấy, Quốc triều Hình luật là bộ luật có những thành tựu to lớn,
có những nét riêng biệt, thể hiện độc đáo bản sắc dân tộc và tính độc lập của
một quốc gia có chủ quyền. Đây là bộ luật đã khẳng định được giá trị và vị
thế của mình trong lịch sử hệ thống pháp luật của dân tộc và trên thế giới bởi
những giá trị tiến bộ của nó vượt trước thời đại bấy giờ, và mang tính nhân
đạo nhân văn sâu sắc của người Việt. Những giá trị trong Quốc Triều Hình
Luật thể hiện ở nhiều khía cạnh khác nhau, bao trùm lên tất cả các lĩnh vực

của phật giáo. Phật giáo nói chung cho rằng người khuyết tật khó tiếp thu giáo
lý hơn bình thường, điều này không có gì khó hiểu, nó cũng tương tự như việc
khó khăn trong học tập. Về lý do đưa đến khuyết tật, thì theo Phật giáo đó là
do kết quả của nghiệp báo, tức là tạo thiện nghiệp thì được quả thiện, mà ác
nghiệp thì được quả ác. Nhưng điều đó không có nghĩa là có một linh hồn bất
biến nhập vào các thân xác trong từng kiếp sống để chịu khổ đau hay hạnh

17
phúc, tôn giáo này phủ nhận sự tồn tại thường hằng và có ngã tính của bất cứ
hiện tượng nào thuộc cuộc sống. Phật giáo nguyên thủy không cho người
khuyết tật quá nặng vào tăng đoàn, lý do không phải bởi sự kỳ thị mà là vì khi
Đức Phật còn tại thế, nhiều người do khuyết tật nên khả năng tự nuôi sống rất
khó khăn dẫn đến tâm lý mượn danh Tăng ni để được cúng dường, nhận
lương thực thực phẩm do người khác cung cấp, trong khi đó đi tu mục đích tối
thượng là để cầu giải thoát. Hệ tư tưởng phật giáo ảnh hưởng không nhỏ đến
văn hóa về quyền của người khuyết tật trong xã hội, bởi trong giáo lý nhà
phật không có sự phân biệt khuyết tật hay không khuyết tật. Dù là người như
thế nào, nếu có thành tâm, Đức Phật không bao giờ chối từ ai đi cùng ngài tới
bờ giác ngộ.
Bên cạnh hệ tư tưởng phật giáo, hệ tư tưởng của Công giáo về người
khuyết tật cũng có sức lan tỏa và ảnh hưởng lớn trong xã hội từ phong kiến
đến hiện đại, đặc biệt là ở Phương Tây. Công giáo cũng có cách nhìn tương
đối thân thiện về người khuyết tật. Theo quan niệm của Công giáo thì Thiên
Chúa là Đấng hoàn hảo, vì thế Ngài dựng nên và chia sẻ cho con người cũng
như vạn vật sự hoàn hảo của Người. Thiên Chúa không tạo ra sự khuyết tật.
Khuyết tật là điểm tiêu cực của lành lặn. Nếu suy tư theo luận lý, Thiên Chúa
là Đấng Hằng Hữu, là nguồn của tất cả hiện hữu như sự sống, sự thật, ánh
sáng… Sự chết, sự dối trá, bóng tối đều là mặt tiêu cực, không hiện hữu thật
sự. Trong quan niệm Công giáo Thiên Chúa không làm ra cái chết, dối trá,
bóng tối… nghĩa là tất cả những gì tiêu cực. Tuy nhiên, "tội lỗi đã xâm nhập

Người cũng chuyển thông quyền năng cứu chữa này cho các tông đồ
và tất cả những ai tin vào Người: cho Phêrô cứu chữa người què ở Giêrusalem
(x. Cv 3,1-10), và nhiều bệnh tật khác (x. Cv 5,12-16), cho chị Tabitha sống
lại (x. Cv 9, 36-42), cho Phaolô chữa người bại chân tại Lýt-ra (x. 14,8-10),
cho cậu bé Êutykhô sống lại (x. Cv 20,7-12). Vì thế, chúng ta không chỉ phục
vụ người khuyết tật bằng sức lực tài năng và phương tiện vật chất nhưng còn
bằng ân sủng của Đức Kitô và quyền năng của Chúa Thánh Thần. Tuy nhiên,

Trích đoạn Khỏi niệm người khuyết tật Bảo vệ và bảo đảm quyền của người khuyết tật trong điều kiện xõy dựng Nhà nước phỏp quyền ở Việt Nam Hoàn thiện hệ thống phỏp luật về người khuyết tật Xõy dựng ý thức đạo đức, ý thức phỏp luật trong việc bảo vệ và bảo đảm quyền của ngườikhuyết tật Tăng cường cơ chế thực thi và giỏm sỏt, đỏnh giỏ việc thực hiện cỏc quyền của người khuyết tật
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status