Tiềm năng du lịch thái nguyên nhìn từ góc độ lịch sử văn hoá (1995 - 2007) - Pdf 41

Header Page 1 of 166.

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

TẠ THỊ KIM NIÊN

TIỀM NĂNG DU LỊCH THÁI NGUYÊN
NHÌN TỪ GÓC ĐỘ LỊCH SỬ, VĂN HOÁ
(1995 - 2007)

LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ

Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: TS. NGUYỄN DUY TIẾN

THÁI NGUYÊN - 2009

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

Footer Page 1 of 166.

http://www.lrc-tnu.edu.vn


Header Page 2 of 166.

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

TẠ THỊ KIM NIÊN


Nguyên, Ban giám hiệu trường Trung học phổ thông Sông Công và các thầy cô
giáo trong tổ, trong trường đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và
nghiên cứu.
Xin chân thành cảm ơn Sở Văn hoá Thể thao và Du lịch Thái Nguyên,
Ban Tuyên giáo Tỉnh uỷ Thái Nguyên, Chi cục Thống kê tỉnh Thái Nguyên… đã
tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong quá trình thu thập số liệu để hoàn thành Luận văn.
Cuối cùng, tôi xin chân thành cảm ơn gia đình, bạn bè và đồng nghiệp đã
động viên, khuyến khích tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu.
Xin chân thành cảm ơn.
Thái Nguyên, ngày 28 tháng 9 năm 2009
Tác giả

Tạ Thị Kim Niên

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

Footer Page 3 of 166.

http://www.lrc-tnu.edu.vn


Header Page 4 of 166.

MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU............................................................................................................................................................................................................ 1

Chƣơng 1. THÁI NGUYÊN TRONG LỊCH SỬ DÂN TỘC .........................................................................7
1.1.Vài nét về điều kiện tự nhiên và xã hội ..............................................................................................7
1.2. Địa danh Thái Nguyên qua các thời kỳ lịch sử ............................................................... 15

http://www.lrc-tnu.edu.vn


Header Page 5 of 166.

DANH MỤC BẢNG
Bảng 1.1. Bảng thống kê các dân tộc sinh sống trên địa bàn Thái Nguyên ....... 10
Bảng 1.2. Tỷ trọng kết cấu các dân tộc theo đơn vị hành chính trong tỉnh ......... 11
Bảng 3.1. Doanh thu du lịch trên địa bàn ...................................................................................................... 60
Bảng 3.2. Tình hình khách du lịch đến Thái Nguyên qua các năm .............................. 61
Bảng 3.3. Số lượng cơ sở lưu trú và công suất sử dụng buồng, phòng của
du lịch Thái Nguyên................................................................................................................................... 65

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

Footer Page 5 of 166.

http://www.lrc-tnu.edu.vn


Header Page 6 of 166.

MỞ ĐẦU
1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI

Thái Nguyên là cầu nối giữa khu vực miền núi và miền xuôi, qua các thời
kỳ lịch sử, đây là nơi hội tụ của nhiều thành phần dân tộc. Do đó, sự giao lưu
văn hoá diễn ra, đã đem lại những nét văn hoá phong phú và đa dạng cho Thái
Nguyên. Tuy nhiên, các dân tộc sinh sống trên địa bàn Thái Nguyên đều giữ
được những nét bản sắc riêng biệt của mình như: Điệu hát “pả dzung” trong các

cho du khách chỉ một lần đến với Thái Nguyên, sẽ không quên mảnh đất có
truyền thống lịch sử lâu đời và đầy sắc thái văn hoá này.
Là một giáo viên công tác tại Thái Nguyên, qua đề tài nghiên cứu này,
bằng các phương pháp trực quan sinh động về lịch sử và văn hoá, tôi mong
muốn góp phần nhỏ bé của mình vào việc nâng cao lòng tự hào dân tộc, truyền
thống yêu nước, yêu quê hương xứ sở cho các em học sinh Thái Nguyên, đồng
thời quảng bá cho du lịch tỉnh nhà, nêu lên được thực trạng và những giải pháp
nhằm khai thác tiềm năng du lịch vào việc phát triển kinh tế xã hội ở địa
phương. Từ những lý do trên tôi chọn “Tiềm năng du lịch Thái Nguyên - Nhìn
từ góc độ lịch, sử văn hoá (1995-2007)” làm luận văn tốt nghiệp thạc sĩ lịch sử.
2. LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ

Tìm hiểu và quảng bá cho du lịch, nhất là du lịch Thái Nguyên là một vấn
đề mới mẻ, thu hút được sự quan tâm của giới nghiên cứu Trung ương và địa
phương. Từ những năm 90, khi nền kinh tế phát triển, nhu cầu tham quan du lịch
ngày càng tăng, việc thông tin tuyên truyền về du lịch ngày càng được phổ biến.
Năm 1994, Tổng cục Du lịch ban hành “Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch
Việt Nam thời kỳ 1995-2000” nhằm đưa ngành du lịch Việt Nam phát triển theo
định hướng của nhà nước. Năm 1999, Nguyễn Thị Kim Anh sinh viên khoa Địa
lý viết khoá luận tốt nghiệp “An toàn khu - Tiềm năng du lịch về cuội nguồn”, đã
đề cập đến vấn đề du lịch cội nguồn của ATK Định Hoá, Tuyên Quang, đánh giá
sơ bộ về tiềm năng du lịch của vùng trên cơ sở các tài nguyên du lịch sẵn có,
đồng thời đưa ra một số định hướng trong tương lai. Đặc biệt trong những năm
đầu thế kỷ XXI, khi ngành công nghiệp không khói đóng vai trò quan trọng
trong ngành kinh tế của các quốc gia, du lịch trở thành một nhu cầu không nhỏ
của cuộc sống con người hiện đại thì việc quảng bá cho du lịch nói chung, du
lịch Thái Nguyên nói riêng ngày càng được đẩy mạnh. Năm 2003, Bảo tàng

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 2


có công trình khoa học nào nghiên cứu riêng và trình bày một cách hệ thống về
sự phát triển của du lịch Thái Nguyên với những tiềm năng du lịch về lịch sử,
văn hoá và danh thắng vốn có. Mặc dù vậy, chúng tôi đánh giá rất cao những
công trình trên và coi đó là nguồn tài liệu quý, giúp chúng tôi trong quá trình tìm

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 3

Footer Page 8 of 166.

http://www.lrc-tnu.edu.vn


Header Page 9 of 166.

hiểu về “Tiềm năng du lịch Thái Nguyên - Nhìn từ góc độ lịch sử, văn hoá
(1995 – 2007)”.
3. ĐỐI TƢỢNG, PHẠM VI NGHIÊN CỨU VÀ NHIỆM VỤ CỦA ĐỀ TÀI

3.1. Đối tƣợng nghiên cứu
Luận văn đề cập tới các di tích lịch sử, văn hoá và danh thắng chính ở Thái
Nguyên gắn với vấn đề du lịch hiện nay. Quá trình phát triển của ngành du lịch
Thái Nguyên từ 1995 đến 2007. Những giải pháp nhằm phát triển du lịch Thái
Nguyên dựa trên thế mạnh du lịch lịch sử, du lịch văn hoá.
3.2. Phạm vi nghiên cứu
- Không gian: Địa bàn tỉnh Thái Nguyên.
- Thời gian: Từ 1995 đến 2007.Tuy nhiên, để làm rõ vấn đề, luận văn có đề
cập đến một số vấn đề của du lịch Thái Nguyên trước năm 1995.
3.3. Nhiệm vụ của đề tài
Trên cơ sở tìm hiểu những di tích lịch sử, văn hoá và danh lam thắng cảnh
ở Thái Nguyên, luận văn đi sâu tìm hiểu tiềm năng du lịch Thái Nguyên, đồng

4.2. Phƣơng pháp nghiên cứu
Để thực hiện đề tài này, chúng tôi đã sử dụng phương pháp lịch sử kết hợp
với phương pháp lôgíc là chủ yếu. Các phương pháp phân tích, so sánh, đối
chiếu, tổng hợp cũng được sử dụng để làm sáng tỏ nội dung của đề tài. Ngoài ra,
chúng tôi còn sử dụng phương pháp điều tra, khảo sát, điền dã…
5. ĐÓNG GÓP CỦA LUẬN VĂN

- Luận văn trình bày một cách cơ bản và hệ thống các di tích lịch sử, văn
hoá, danh lam thắng cảnh trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên và vị trí, vai trò của nó
với vấn đề du lịch hiện nay.
- Luận văn đã chỉ ra thực trạng tình hình du lịch ở Thái Nguyên, đồng thời
đưa ra một số giải pháp nhằm khai thác tiềm năng du lịch của Thái Nguyên dựa
trên thế mạnh du lịch lịch sử, du lịch văn hoá, du lịch danh thắng.
- Luận văn có thể dùng làm tài liệu tham khảo để nghiên cứu, giảng dạy và
học tập lịch sử địa phương của các trường chuyên nghiệp và phổ thông trên địa
bàn tỉnh. Luận văn góp phần vào việc giáo dục lòng tự hào về quê hương, đất
nước cho các thế hệ.
6. KẾT CẤU CỦA LUẬN VĂN

Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục và tài liệu tham khảo, nội dung luận
văn kết cấu thành 3 chương:
Chương 1: Thái Nguyên trong lịch sử dân tộc.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 5

Footer Page 10 of 166.

http://www.lrc-tnu.edu.vn



lộ: Quốc lộ số 3 chạy suốt theo chiều dài tỉnh, từ phía Nam (cầu Đa Phúc, Phổ
Yên) lên phía Bắc (cầu Ổ Gà, Phú Lương) qua Bắc Kạn lên Cao Bằng. Quốc lộ
1B từ cầu Gia Bẩy (thành phố Thái Nguyên) qua 2 huyện Đồng Hỷ, Võ Nhai lên
Lạng Sơn. Quốc lộ 19 chạy từ Hiệp Hoà (Bắc Giang) sang Thái Nguyên. Ngoài
ra Thái Nguyên còn có 2 đường sắt Hà Nội - Quan Triều - Núi Hồng và Lưu Xá
(Thái Nguyên). Kép (Bắc Giang), Uông Bí (Quảng Ninh), cùng nhiều tuyến giao
thông nội tỉnh, liên tỉnh thuận tiện như: Đường 13A từ Bờ Đậu (Phú Lương) qua
Đại Từ, vượt Đèo Khế sang Tuyên Quang … với hệ thống giao thông thuận lợi
như vậy có thể giúp du khách đến với Thái Nguyên dễ dàng, để từ Thái Nguyên,
du khách toả đi khắp những di tích rải rác trên 6 tỉnh Việt Bắc xưa để tìm lại cội
nguồn sức mạnh của dân tộc thế kỉ XX.
Sự kết hợp giữa hoàn lưu gió mùa với yếu tố địa hình tạo cho tự nhiên ở
Thái Nguyên phân hoá thành 3 vùng rõ nét: Vùng phía Tây và Tây Bắc tỉnh, bao

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 7

Footer Page 12 of 166.

http://www.lrc-tnu.edu.vn


Header Page 13 of 166.

gồm huyện Đại Từ, Định Hoá và các xã miền tây huyện Phú Lương, đây là khu
vực miền núi, có tài nguyên rừng phong phú. Vùng núi phía Đông, gồm có các
huyện Đồng Hỷ, Võ Nhai, địa hình không cao lắm, chỉ khoảng 500 - 600m
nhưng rất phức tạp và hiểm trở, được cấu tạo từ núi đá vôi - địa hình Caxtơ tạo
thành nhiều hang động với cảnh quan thiên nhiên đẹp, đồng thời có thể dùng
làm nơi ẩn náu trong thời kỳ có chiến tranh như các hang động của Võ Nhai,
Đồng Hỷ. Theo hướng Đông Nam, vùng có địa hình thấp dưới 100m gồm phía

Cốc, được xây dựng năm 1973 với diện tích 25km2, dung tích khoảng 2.000m2
nước, đủ cung cấp cho 12.000 ha ruộng đất của Phú Bình, Phổ Yên. Ngày nay
hồ Núi Cốc không chỉ có giá trị phục vụ sản xuất nông nghiệp, mà còn là khu
vực đầy tiềm năng cho phát triển du lịch sinh thái, du lịch tham quan nghỉ dưỡng
cuối tuần. Ngoài ra, Thái Nguyên còn có hàng trăm con sông, suối nhỏ khác
phân bố trên khắp địa bàn tỉnh. Hệ thống sông ngòi ở Thái Nguyên có tác dụng
giao thông không lớn, nhưng lại là nguồn cung cấp nước quan trọng cho sinh
hoạt và kinh tế của nhân dân trong tỉnh, đồng thời còn tạo ra những cảnh quan
thiên nhiên kì thú, là những danh thắng đẹp, nơi dừng chân của du khách trong
và ngoài nước như suối Mỏ Gà, thác Mưa Rơi (Võ Nhai), Thác Khuôn Tát
(Định Hoá)…
Theo sách Đại nam nhất thống chí của Quốc sử quán triều Nguyễn “Ở Thái
Nguyên vào cuối mùa xuân mới hơi nóng, đến mùa hè nóng lắm, đầu thu lạnh
dần, đến mùa đông thì rét lắm.Vì địa thế núi cao nên rét nhiều, nóng ít” [41,
tr.162,163]. Với khí hậu tương đối mát mẻ, Thái Nguyên có điều kiện phát triển
du lịch quanh năm, như: Du lịch lễ hội vào mùa xuân, du lịch thám hiểm vào
mùa đông, du lịch tham quan nghỉ dưỡng vào mùa hè…
Đất Thái Nguyên chủ yếu là đất Feralit đỏ vàng, ngoài ra còn có đất đá vôi
được hình thành chủ yếu ở các huyện Võ Nhai, Đồng Hỷ, đất đầm lầy trong các
thung lũng và đất ruộng lúa… Do đó Thái Nguyên có tiềm năng phát triển nền
kinh tế nông, lâm nghiệp đa dạng. Trong lòng đất có nhiều khoáng sản quý như:
“Vàng ở huyện Võ Nhai có mỏ Kim Hỷ, mỏ Thuần Mang, mỏ Bảo Nang. Sắt có ở
các huyện Phổ Yên, Đồng Hỷ, Phú Lương … Huyện Định Hoá có bạc, đồng, chì,
vàng…” [41]
Trong lịch sử, ở Thái Nguyên, các tộc “Người Kinh, người Thổ ở lẫn nhau,
tiếng nói líu lo; mặc áo mầu xanh thẫm; chỗ thì làm nhà sàn dựa vào núi, gặp
ngày sinh thì ăn uống linh đình; giá thú thì nặng về của cải” [41, tr. 163,164]

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 9


106.238

10,15

3.

Nùng

54.628

5,22

4.

Sán Dìu

37.365

3,57

5.

Sán Chay

29.229

2,79

6.


10.

Thái

465

0,04

11.

Ngái

422

0,04

[Nguồn: 59, tr.470]
Thái Nguyên là mảnh đất hội tụ nét văn hoá đa dạng, nhiều màu sắc, tạo
nên bản sắc văn hoá riêng, ấn tượng và đẹp đẽ. Vì thế, giáo sư Trần Quốc
Vượng đã khẳng định “Hội tụ và tiếp xúc” [17, tr.597] là đặc điểm của văn hoá
Thái Nguyên. Thái Nguyên là ngôi nhà chung sống của các dân tộc anh em:
Kinh, Tày, Nùng, Dao, H’Mông… (bảng 1.1) Mỗi thành phần dân tộc có phong
tục, tập quán, có trình độ sản xuất, tiếng nói riêng, nhưng do cùng sống trên một
địa bàn nên các dân tộc ở Thái Nguyên có những nét tương đồng về văn hoá. Đó
chính là “Văn hoá hội tụ” của Thái Nguyên. Bên cạnh đó, người dân bản địa ở
Thái Nguyên không nhiều như ở các tỉnh khác, song qua các thời kì lịch sử,
thành phần dân tộc và dân số Thái Nguyên đã gia tăng, chỉ tính riêng trong thời
kì kháng chiến chống Pháp 1946 - 1954, với vị trí là căn cứ địa, là thủ đô kháng
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 10


Công

Định

Phú



Lương Nhai

Hoá

Đại
Từ

Đồng Phú
Hỷ

Phổ

Bình Yên

90,07 98,52 37,92 54,17 78,37 39,14 63,74 93,99 93,02

Tày

4,49

4,49 46,63 25,06


2,14 12,30

4,34

0,01 0,23

Sán Dìu

1,52

0,10

0,02

3,28

1,29

0,01 12,77

1,51 0,54

0,65

0,10 10,42

8,96

3,75


Lan, Sán Chí, bởi vì họ có sự tương đồng về ngôn ngữ, văn hoá. Địa bàn cư trú
của người Tày rộng khắp trong toàn tỉnh, song chủ yếu ở các huyện miền núi,
vùng cao như: Định Hoá, Phú Lương, Đại Từ, Võ Nhai (Bảng 1.2). Ngoài việc
trồng lúa, người Tày còn trồng rất nhiều ngô, khoai, sắn để nâng cao đời sống.
Người Tày còn có các nghề thủ công truyền thống như đan lát, dệt vải. Vào mùa
xuân từ mùng 1 tháng giêng trở đi, người Tày ở Thái Nguyên thường tổ chức lễ
hội Lồng Tồng (lễ hội xuống đồng), với mục đích cầu cho mùa màng tốt tươi,
trời đất yên hoà, người an vật thịnh. Trong lễ hội thường có các trò chơi dân
gian như ném còn, đánh du, đánh quay... Cũng trong lễ hội Lồng Tồng hoặc
trong các chợ phiên, thanh niên nam nữ thường biểu lộ tình cảm của mình qua
những điệu hát Lượn, Phong slư. Bên cạnh đó người Tày ở Thái Nguyên còn có
những điệu hát then, thơ lẩu, các điệu vũ, điệu múa võ thuật chủ yếu diễn ra
trong sinh hoạt tín ngưỡng hoặc hội hè, đình đám…
Dân tộc Nùng ở Thái Nguyên chiếm 5,22% dân số toàn tỉnh (Bảng 1.2),
người Nùng có nhiều chi tộc: Nùng Phàn Sình, Nùng Cháo, Nùng Inh. Phạm vi
cư trú của người Nùng gần như người Tày, ở tất cả các huyện, thị trong tỉnh,
nhưng nhiều nhất là ở Đồng Hỷ, Võ Nhai, Đại Từ. Người Nùng sống chủ yếu
bằng trồng trọt và chăn nuôi. Người Nùng ở Thái Nguyên cũng có lễ cấp sắc,
nhưng không bắt buộc. Lễ cấp sắc của người Nùng ở xã Động Đạt - Phú Lương
có hai bậc là tiểu tao và đại tao. Tiểu tao làm một đêm, lễ vật gồm có: Một thủ

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 12

Footer Page 17 of 166.

http://www.lrc-tnu.edu.vn


Header Page 18 of 166.


Footer Page 18 of 166.

http://www.lrc-tnu.edu.vn


Header Page 19 of 166.

Dân tộc Sán Chay chiếm 2,79% dân số trong toàn tỉnh, chủ yếu sống ở các
huyện Phú Lương, Định Hoá, Đại Từ (Bảng 1.1, 1.2). Trong số các loại cây
lương thực người Sán Chay canh tác thì lúa, ngô, sắn là những loại cây chủ đạo.
Những gia đình tương đối khá giả có thể trồng bông, dệt vải. Tập quán cưới xin
của người Sán Chay đơn giản hơn người Sán Dìu, chỉ gồm lễ dạm hỏi, lễ cưới
và đón dâu, trong lễ cưới cũng có hát sình ca hoặc sọng cô ( là kiểu hát đối đáp
giữa nhà trai và nhà gái). Các trò chơi dân gian giải trí của người Sán Chay là
đánh cầu, đánh quay, trồng chuối, vặn rau cải… Một số nơi còn tổ chức hội Óc
pò (ra/chơi núi).
Người Dao ở Thái Nguyên chiếm 2,08% dân số toàn tỉnh, thuộc 3 nhóm:
Dao Đỏ, Dao Quần Chẹt, Dao Lô Gang, sống chủ yếu ở các huyện: Đại Từ, Võ
Nhai, Định Hoá, Phổ yên (Bảng 1.1, 1.2). Dân tộc Dao có truyền thống du canh,
du cư, sống bằng canh tác nương rẫy, ngoài ra họ còn chăn nuôi, làm các nghề
thủ công như đan lát, dệt, làm giấy, làm đồ trang sức… Lễ cấp sắc của người
Dao rất phong phú, liên quan đến nhiều lĩnh vực văn hoá như: Thế giới tâm linh,
văn học nghệ thuật, tập quán sinh hoạt và giáo dục… Nếu tiếp tục duy trì theo
tập quán cổ truyền sẽ góp phần không nhỏ vào việc giữ gìn và phát huy các đặc
trưng văn hoá truyền thống của tộc người Dao ở Thái Nguyên.
Dân tộc Hmông chiếm 0, 46% dân số toàn tỉnh, sống rải rác ở các huyện,
thị trong toàn tỉnh, nhưng nhiều nhất là ở các huyện: Võ Nhai, Đồng Hỷ, Phú
Lương (Bảng 1.1, 1.2). Cây lương thực chính của người Hmông là ngô, khoai,
sắn. Người Hmông có rất nhiều làn điệu dân ca, trong đó nổi tiếng là các làn
điệu mộ nha (đi làm dâu), cú nhe ca (yêu nhau), mọ ha rưng (đi rừng)… Đi liền

chùa Hang - Đồng Hỷ, hội Lồng Tồng - Định Hoá… cùng với nếp văn hoá nhà
sàn và cách sống quần cư theo làng bản.
1.2. ĐỊA DANH THÁI NGUYÊN QUA CÁC THỜI KỲ LỊCH SỬ

Theo sách Dư địa chí của Nguyễn Trãi, đời các Vua Hùng, nước Văn Lang
chia làm 15 bộ. “Thái Nguyên thuộc đất bộ Vũ Định, Đông và Bắc giáp Cao,
Lạng; Tây và Nam giáp Kinh - Bắc; có 2 lộ phủ, 9 huyện, 2 châu và 336 làng xã.
Đây là nơi phên giậu thứ 2 về phương Bắc”[63, tr.238]. Thái Nguyên lúc đó
nằm dưới sự cai quan của chế độ lạc tướng. Khoảng đầu công nguyên, chế độ
lạc tướng chấm dứt, bộ chuyển thành huyện, Vũ Định vẫn giữ tên cũ. Dưới thời
đô hộ của nhà Triệu (phong kiến phương Bắc), Thái Nguyên nằm trong quận
Giao Chỉ. Đời nhà Hán, Thái Nguyên nằm trong huyện Long Biên thuộc quận

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 15

Footer Page 20 of 166.

http://www.lrc-tnu.edu.vn


Header Page 21 of 166.

Giao Chỉ. Đến đời Đường, Thái Nguyên là đất châu Long và châu Vũ Nga,
thuộc An Nam Đô hộ phủ.
Dưới thời Đinh, Tiền Lê (thế kỷ X), nước ta chia làm 10 đạo. Khi Lý Thái
Tổ lên ngôi, rời kinh đô từ Hoa Lư ra Thăng Long đã đổi 10 đạo thành 24 lộ, các
vùng xa xôi hẻo lánh như Thái Nguyên nằm trong các châu biên viễn. Đầu năm
1226, nhà Trần đổi châu thành lộ, vùng đất Thái Nguyên thuộc Như Nguyệt
Giang lộ. Năm 1397, nhà Trần đổi châu Thái Nguyên thành trấn Thái Nguyên,
“Đại thể trấn Thái Nguyên tương đương với tỉnh Thái Nguyên, Bắc Kạn và nửa

của chính quyền quân sự Pháp.
Ngày 11-4-1900, Toàn quyền Đông Dương ra nghị định thành lập tỉnh Bắc
Kạn trên cơ sở toàn bộ phủ Thông Hoá của Thái Nguyên. Ngày 21/4/1965, Quốc
hội nước Việt Nam Dân chủ cộng hoà quyết định hợp nhất tỉnh Thái Nguyên và
tỉnh Bắc Kạn thành tỉnh Bắc Thái. Ngày 29/12/1978, Quốc hội khoá VI quyết
định tách 2 huyện Ngân Sơn và Chợ Rã khỏi Bắc Thái chuyển về tỉnh Cao Bằng.
Tháng 4/1985 thị xã Sông Công được thành lập trên cơ sở một số xã phía
Bắc của huyện Phổ Yên và một xã phía Nam của huyện Đồng Hỷ theo quyết
định số 113/QĐ-HĐBT của Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ).
Ngày 1/1/1997, tỉnh Bắc Thái tách thành 2 tỉnh: Thái Nguyên và Bắc Kạn.
Tỉnh Thái Nguyên ngày nay có một thành phố, một thị xã và 7 huyện: Thành
phố Thái Nguyên, thị Sông Công, các huyện Phú Bình, Phổ Yên,Võ Nhai, Đại
Từ, Phú Lương, Đồng Hỷ, Định Hoá. Dân số trên 1,1 triệu người với 9 dân tộc
anh em cùng chung sống [59, tr.11].
1.3. TRUYỀN THỐNG CHỐNG NGOẠI XÂM
Là trung tâm của vùng chiến lược phía Bắc sông Hồng, với địa hình sông
núi hiểm trở nên trong lịch sử, các dân tộc Thái Nguyên phải thường xuyên đối
mặt với các thế lực ngoại bang và cả các tầng lớp phản nghịch trong nước. Từ xa
xưa, Thái Nguyên đã từng được coi là “phên giậu” phía Bắc của kinh thành
Thăng Long - Đông Đô - Hà Nội, là điểm xuất phát triển khai chống giặc ngoại
xâm ở miền biên giới, vì vậy nhân dân các dân tộc Thái Nguyên sớm có bản lĩnh
kiên cường, bất khuất chống giặc ngoại xâm và chống bất công xã hội.
Ngay từ trước công nguyên, người dân Thái Nguyên đã tham gia vào cuộc
kháng chiến đầu tiên của dân tộc chống quân Tần xâm lược, bản sắc phong ở
Đền Giá (Phổ Yên) có ghi: “Một người dân làng Giá có công đánh giặc Ân

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 17

Footer Page 22 of 166.


Ngày 7/2/1418, Lê Lợi cùng nghĩa quân dựng cờ khởi nghĩa tại Lam Sơn Thọ Xuân - Thanh Hoá đã thu hút nhiều hào kiệt quy tụ, trong đó có

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 18

Footer Page 23 of 166.

http://www.lrc-tnu.edu.vn


Header Page 24 of 166.

Lưu Nhân Chú (con trai Lưu Trung - một gia đình nhiều đời làm quan nhỏ ở
vùng An Thuật - Huyện Đại Từ - Thái Nguyên). Năm 1884, sau khi về cơ bản
đánh chiếm xong các tỉnh Nam Kì và đồng bằng Bắc Kì, thực dân Pháp mở rộng
đánh chiếm các tỉnh thượng du Bắc Kì, trong đó có Thái Nguyên, nhưng ở đây
quân Pháp đã vấp phải sự kháng cự mãnh liệt của nhân dân Thái Nguyên, phải
đến những năm đầu thập kỷ 90 của thế kỷ XIX, thực dân Pháp mới hoàn thành
việc đánh chiếm tỉnh Thái Nguyên. Nhưng chưa kịp thiết lập và cải cách bộ máy
thống trị đến các làng, các tổng, thì phong trào đấu tranh của nhân dân Thái
Nguyên lại một lần nữa diễn ra mạnh mẽ, chống lại chính sách cai trị của thực
dân Pháp. Tiêu biểu là phong trào chống Pháp do Mã Sinh Long (Mã Mang)
lãnh đạo. Cùng thời gian đó, nghĩa quân Yên Thế từ Bắc Giang tràn sang Thái
Nguyên, nhân dân Phú Bình, Phổ Yên, Đại Từ, Võ Nhai… đã hăng hái tiếp tế
lương thực, thực phẩm và dẫn đường cho nghĩa quân, nhiều người tình nguyện
đứng vào hàng ngũ nghĩa quân đánh Pháp.
Cuối 1892, binh lính người Việt trong Quân đội Pháp đóng ở đồn Hùng
Sơn (Đại Từ) dưới sự chỉ huy của Cai Bát đã nổi dậy làm binh biến, được nhân
dân các vùng hưởng ứng mạnh mẽ. Đặc biệt, một sự kiện vang dội cả nước, làm
chấn động nước Pháp, ảnh hưởng tới tận các xứ thuộc địa khác trên thế giới đã
nổ ra vào đêm 30 rạng 31/8/1917 tại thị xã Thái Nguyên, đó là khởi nghĩa Thái

Giải phóng quân và Cứu quốc quân thống nhất thành Việt Nam giải phóng quân.
Cách mạng tháng Tám thành công, nước Việt Nam dân chủ cộng hoà ra
đời, cả dân tộc chưa kịp hưởng niềm vui độc lập đã phải bước vào một cuộc
chiến đấu mới, chống lại sự tái chiếm của thực dân Pháp để bảo vệ nền độc lập
dân tộc, bảo vệ thành quả cách mạng tháng Tám… Do có vị trí chiến lược quan
trọng “Tiến khả dĩ công, thoái khả dĩ thủ”, lại nằm sát với Tân Trào - Tuyên
Quang - thủ đô của cuộc cách mạng tháng Tám năm 1945, Thái Nguyên có đủ
điều kiện “Thiên thời, địa lợi, nhân hoà”, (đồng bào các dân tộc Thái Nguyên có
truyền thống yêu nước, một lòng, một dạ đi theo Đảng, theo cách mạng, hết lòng
che chở, đùm bọc cán bộ…) nên Định Hoá - Thái Nguyên được Chủ tịch Hồ Chí
Minh, Trung ương Đảng chọn làm An Toàn Khu Trung ương (ATK). ATK Định
Hoá - Thái Nguyên trở thành nơi chỉ đạo và chỉ huy kháng chiến chống Pháp
của Ban chấp hành Trung ương Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh, Bộ Tư lệnh và các
cơ quan, các Tổng cục. Các quyết sách lớn của Đảng, Chính phủ phần lớn đều ra
đời từ đây. Ví dụ: Hạ quyết tâm tiêu diệt địch tiến công lên Việt Bắc, quyết định

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 20

Footer Page 25 of 166.

http://www.lrc-tnu.edu.vn



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status