Vai trò trợ giúp pháp lý đối với việc thúc đẩy tiếp cận và bảo đảm quyền của nhóm người yếu thế trong xã hội - Pdf 25

I HC QUC GIA H NI
KHOA LUT
Lấ TH MINH VAI TRò TRợ GIúP PHáP Lý
Đối với VIệC THúC ĐẩY TIếP CậN Và BảO ĐảM QUYềN
CủA NHóM NGƯờI YếU THế TRONG Xã HộI
Chuyờn ngnh: Phỏp lut v quyn con ngi
Mó s: Chuyờn ngnh o to thớ im LUN VN THC S LUT HC Cỏn b hng dn khoa hc: PGS. TS. NGUYN NGC CH H NI - 2014LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của
riêng tôi. Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong

1.2.3. Thúc đẩy quyền con người của nhóm người yếu thế 15
1.3. Đặc điểm của trợ giúp pháp lý 17
1.3.1. Trợ giúp pháp lý vừa mang tính nhà nước, vừa mang tính xã hội 17
1.3.2. Trợ giúp pháp lý là một hoạt động hỗ trợ xã hội, mang tính chất nhân đạo 18
1.3.3. Trợ giúp pháp lý hỗ trợ hoạt động xét xử, bảo đảm thực thi các quyền
con người 18
1.3.4. Đối tượng được trợ giúp pháp lý là người gặp nhiều khó khăn trong việc
vượt các rào cản để tiếp cận, thực hiện và bảo vệ quyền lợi của mình 18
1.3.5. Người thực hiện trợ giúp pháp lý phải là người có chuyên môn, kinh
nghiệm, kỹ năng về pháp luật 19
1.3.6. Trợ giúp pháp lý có mối quan hệ tương hỗ với các thiết chế pháp luật khác 19
1.4. Tổ chức, hình thức, phƣơng thức, tính chất và mô hình trợ giúp
pháp lý 20
1.4.1. Tổ chức trợ giúp pháp lý 20
1.4.2. Hình thức trợ giúp pháp lý 22
1.4.3. Phương thức trợ giúp pháp lý 23
1.4.4. Tính chất của trợ giúp pháp lý 24
1.4.5. Các mô hình trợ giúp pháp lý 24
1.5. Các nguyên tắc nhằm bảo đảm vai trò của trợ giúp pháp lý cho
nhóm ngƣời yếu thế 25
Tiểu kết chƣơng 1 29 Chương 2: LUẬT NHÂN QUYỀN QUỐC TẾ VỀ VAI TRÒ CỦA TRỢ
GIÚP PHÁP LÝ CHO NHÓM NGƢỜI YẾU THẾ 30
2.1. Vị trí của trợ giúp pháp lý trong việc bảo đảm tiếp cận và thúc
đẩy quyền của nhóm ngƣời yếu thế 30
2.1.1. Vị trí của trợ giúp pháp lý trong Công ước Quốc tế về các quyền dân
sự và chính trị 30
2.1.2. Vị trí của trợ giúp pháp lý trong Công ước Châu Âu về quyền con người 31
DANH MỤC CÁC BẢNG, SƠ ĐỒ

Số hiệu bảng
Tên bảng
Trang
Bảng 3.1:
Số đối tượng được trợ giúp pháp lý từ năm 1997 - 2013
66
Bảng 3.2:
Số lượng vụ việc trợ giúp pháp lý theo phương thức trợ
giúp pháp lý từ năm 1997 – 2013
69
Bảng 3.3:
Số lượng vụ việc trợ giúp pháp lý theo lĩnh vực trợ giúp
pháp lý từ năm 1997 – 2013
72
Bảng 3.4:
Số lượng vụ việc trợ giúp pháp lý theo hình thức trợ giúp
pháp lý từ năm 1997 – 2013
74
Bảng 3.5:
Số lượng vụ việc trợ giúp pháp lý theo hình thức trợ giúp
pháp lý từ năm 1997 – 2013
75

Số hiệu sơ đồ
Tên bảng
Trang

pháp lý của người dân, đặc biệt là nhóm người yếu thế, ngày càng tăng dẫn đến tình
trạng quá tải, không đảm bảo đáp ứng đầy đủ nhu cầu trợ giúp pháp lý.
Những năm gần đây, Việt Nam tham gia nhiều văn kiện quốc tế về quyền
con người, bao gồm Bộ luật nhân quyền và các công ước về quyền của các nhóm
yếu thế. Mới đây nhất, Việt Nam được bầu là thành viên của Hội đồng Nhân quyền
và thông qua Hiến pháp năm 2013. Trong các văn kiện quan trọng, Đảng Cộng sản
Việt Nam đã khẳng định đường lối nhất quán quan điểm luôn tôn trọng, bảo vệ, bảo
đảm và thúc đẩy quyền con người, thể hiện cam kết mạnh mẽ cùng mong muốn góp 2
phần xây dựng, thúc đẩy phát triển nền văn hóa nhân quyền trên toàn thế giới, song,
cũng nhấn mạnh những khó khăn, thách thức trong mặt trận này, đặc biệt là việc
đảm bảo quyền tiếp cận pháp lý và sự bình đẳng trước pháp luật cho các nhóm yếu
thế, thiệt thòi. Do đó, phát triển trợ giúp pháp lý được Đảng và Nhà nước ta xác
định không chỉ là một trong những giải pháp của chương trình “xóa đói, giảm
nghèo”, thu hẹp các khoảng cách trong xã hội mà còn là biện pháp hỗ trợ cho các
thiết chế thực thi pháp luật, bảo đảm bảo vệ quyền con người nói chung và quyền
con người của các nhóm yếu thế nói riêng, đảm bảo công bằng xã hội và pháp chế
Xã hội Chủ nghĩa.
Trong tình hình hiện nay, việc nghiên cứu, đánh giá và hoàn thiện pháp luật
về trợ giúp pháp lý cho nhóm người yếu thế càng trở nên cấp thiết hơn bao giờ hết.
Vì vậy, việc nghiên cứu đề tài “Vai trò trợ giúp pháp lý đối với việc thúc đẩy tiếp
cận và bảo đảm quyền của nhóm người yếu thế trong xã hội” không chỉ có tính cấp
thiết về mặt lý luận mà còn là đòi hỏi thực tiễn nhằm khắc phục những hạn chế còn
tồn tại của hệ thống trợ giúp pháp lý Việt Nam đồng thời có ý nghĩa to lớn trong
việc bảo vệ, bảo đảm thực thi và thúc đẩy các quyền con người của nhóm người yếu
thế trong xã hội góp phần phát triển kinh tế xã hội cũng như xây dựng thành công
nhà nước pháp quyền Xã hội Chủ nghĩa.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài

xã hội, từ đó đánh giá mức độ phù hợp của trợ giúp pháp lý ở Việt Nam với tiêu
chuẩn quốc tế và đưa ra các giải pháp nhằm nâng cao vai trò của trợ giúp pháp lý
trong việc bảo đảm tiếp cận và thúc đẩy quyền của các nhóm yếu thế tại Việt Nam.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Với mục đích trên, tác giả luận văn đặt ra cho mình một số nhiệm vụ nghiên
cứu sau đây:
- Phân tích các đặc điểm của trợ giúp pháp lý từ đó đúc rút khái niệm cơ bản
về trợ giúp pháp lý và nhóm người yếu thế trong xã hội;
- Làm sáng tỏ vai trò của trợ giúp pháp lý đối với việc bảo vệ, bảo đảm thực
thi và thúc đẩy quyền con người của các nhóm yếu thế;
- Phân tích vị trí của quyền trợ giúp pháp lý trong luật nhân quyền quốc tế và
mối quan hệ tương hỗ giữa quyền này với quyền tiếp cận công lý;
- Phân tích và đánh giá thực trạng về pháp luật và thực tiễn trong việc trợ 4
giúp pháp lý cho các nhóm yếu thế tại Việt Nam từ đó đề xuất các giải pháp nhằm
hoàn thiện pháp luật và khắc phục các hạn chế còn tồn tại.
3.3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Luận văn có đối tượng và phạm vi nghiên cứu là các văn bản pháp luật quốc tế
và quốc gia về trợ giúp pháp lý cho nhóm người yếu thế trong xã hội và thực tiễn hoạt
động trợ giúp pháp lý trong việc bảo vệ, bảo đảm và thúc đẩy các quyền con người của
nhóm người yếu thế trong xã hội ở Việt Nam những năm gần đây (1997 đến 2013).
4. Cơ sở phƣơng pháp luận và phƣơng pháp nghiên cứu đề tài
Luận văn được nghiên cứu dựa trên cơ sở lý luận là hệ thống các quan điểm
của chủ nghĩa Mác – Lênin; tư tưởng Hồ Chí Minh; đường lối, chính sách của Đảng
Cộng sản Việt Nam về bảo vệ, bảo đảm và thúc đẩy các quyền con người, đặc biệt
là nhóm người yếu thế trong xã hội.
Cơ sở thực tiễn của luận văn là các văn kiện quốc tế, văn bản pháp luật quốc
gia về trợ giúp pháp lý cũng như kết quả đạt được của hoạt động trợ giúp pháp lý ở

quyền con người của nhóm yếu thế thông qua trợ giúp pháp lý. Qua kế quả đề xuất,
tác giả mong muốn góp phần nhỏ bé vào việc phát triển hoạt động trợ giúp pháp lý
nói chung và trợ giúp pháp lý cho nhóm yếu thế nói riêng.
Luận văn có thể được sử dụng như một tài liệu tham khảo trong công tác
nghiên cứu, giảng dạy, đào tạo ở Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội và các cơ
sở đào tạo khác ở Việt Nam trong lĩnh vực pháp luật về quyền con người và trợ
giúp pháp lý.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của
luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Một số vấn đề lí luận về vai trò trợ giúp pháp lý đối với việc bảo
đảm và thúc đẩy quyền của nhóm người yếu thế trong xã hội
Chương 2: Luật nhân quyền quốc tế về vai trò của trợ giúp pháp lý cho nhóm
người yếu thế
Chương 3: Thực trạng và giải pháp nâng cao vai trò trợ giúp pháp lý đối với
việc thúc đẩy tiếp cận, bảo đảm quyền của người yếu thế tại Việt Nam. 6
Chương 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÍ LUẬN VỀ VAI TRÒ TRỢ GIÚP PHÁP LÝ
ĐỐI VỚI VIỆC BẢO ĐẢM VÀ THÚC ĐẨY QUYỀN
CỦA NHÓM NGƢỜI YẾU THẾ TRONG XÃ HỘI

1.1. Khái niệm trợ giúp pháp lý
1.1.1. Vài nét về sự ra đời của trợ giúp pháp lý
Trợ giúp pháp lý xuất hiện khá sớm trong lịch sử, vào khoảng giữa những
năm 1700 đến đầu 1900 do những biến đổi trong các mối quan hệ kinh tế, xã hội và
nhất là chính trị. Sau chiến tranh thế giới lần thứ hai, vào năm 1949, Vương Quốc
Anh đã xây dựng chương trình trợ giúp pháp lý quốc gia với qui định nhà nước hỗ

đó có sự bình đẳng tiếp cận các dịch vụ pháp lý. Tuy nhiên, đối với những người có
hoàn cảnh đặc biệt, thiệt thòi trong xã hội, không có khả năng, điều kiện sử dụng
dịch vụ pháp lý thì nhà nước phải có trách nhiệm trợ giúp cho họ. Chỉ có sự trợ giúp
pháp lý của nhà nước thì quyền con người của các đối tượng bị thiệt thòi, yếu thế
trong xã hội mới có cơ hội được thực thi. Vì vậy, trợ giúp pháp lý là đòi hỏi tất yếu
của việc bảo đảm thực thi quyền con người trong thời đại ngày nay.
Thứ hai, đòi hỏi của xu thế xã hội dân sự. Sự ra đời và ngày càng lớn mạnh
của các tổ chức xã hội dân sự đã tác động rất lớn đến việc cải thiện vai trò, trách
nhiệm và thực hiện nghĩa vụ của nhà nước với cộng đồng. Thông qua sức mạnh
truyền thông, dư luận tiến bộ, các tổ chức này đại diện cho những nhóm người khác
nhau trong xã hội đòi hỏi nhà nước phải ghi nhận và đưa ra biện pháp để bảo đảm
bảo vệ và thực thi các quyền con người cơ bản.
Thứ ba, yêu cầu thúc đẩy sự phát triển kinh tế, xã hội. Sự phát triển xã hội
chỉ đạt được một cách toàn diện khi không có bất cứ sự loại trừ đối với bất cứ đối
tượng nào. Tuy nhiên, một số nhóm lại gặp khó khăn hoặc không thể tiếp cận với
các chính sách ưu đãi dành cho mình. Vì vậy, cần phải có cơ chế giúp họ hiểu biết,
hoàn thành các thủ tục pháp lý để tiếp nhận sự ưu đãi, đầu tư và phát triển kinh tế,
đời sống gia đình.
Thứ tư, chia sẻ một phần trách nhiệm của nhà nước. Mặc dù, nghĩa vụ thực
thi pháp luật chủ yếu thuộc về các nhà nước, song, các cơ quan, tổ chức, cá nhân
khác cũng có trách nhiệm tạo điều kiện thuận lợi, phối hợp cùng đại diện công 8
quyền đưa các quy phạm pháp luật đi vào đời sống, góp phần bảo đảm pháp chế và
trật tự xã hội. Đặc biệt, trong thế giới nhiều biến động, nhà nước không phải là bộ
máy duy nhất và toàn năng thực hiện việc quản lý xã hội mà cần có sự chia sẻ của
các cơ quan, tổ chức, cá nhân khác. Do đó, sự ra đời của trợ giúp pháp lý với sự
tham gia của các yếu tố phi nhà nước nhằm đáp ứng phần nào đòi hỏi về sự san sẻ
trách nhiệm giữa các chủ thể trong xã hội.

bởi nhiều chủ thể khác (nhà nước và phi nhà nước) dưới sự quản lý của cơ quan nhà
nước có thẩm quyền.
Từ điển thuật ngữ pháp luật Pháp – Việt giải thích “trợ giúp pháp lý” (Aide
Juridique) là “việc giúp đỡ những người nghèo, đối tượng chính sách trong việc
tiếp cận pháp luật, khởi kiện hoặc theo kiện tại tòa” [12, tr.60].
Tùy thuộc vào mô hình được xây dựng mà các quốc gia trên thế giới có cách
tiếp cận khác nhau với khái niệm “trợ giúp pháp lý”. Nước Đức quan niệm trợ giúp
pháp lý là “giúp đỡ một phần hoặc toàn bộ tài chính cho những người không có khả
năng thanh toán cho các chi phí về tư vấn pháp luật, đại diện và bào chữa trước tòa
án" [8]. Đạo luật trợ giúp pháp lý năm 1995 của Singapore định nghĩa “trợ giúp
pháp lý là việc đại diện cho khách hàng trước tòa án nhằm giúp đỡ những người
không có khả năng chi trả cho các dịch vụ pháp lý” [9, tr.77]. Theo luật của Úc thì
đó là “sự trợ giúp cho một người có được hoàn cảnh và điều kiện tương tự như
người khác trong việc tiếp cận pháp luật” [8].
Ở Việt Nam, mặc dù, được sử dụng từ năm 1995, tuy nhiên, phải đến khi
Luật trợ giúp pháp lý ra đời năm 2006 thì khái niệm “trợ giúp pháp lý” mới được
xây dựng tổng quát và mang tính pháp lý. Theo đó, Điều 3 Luật trợ giúp pháp lý
năm 2006 quy định:
Trợ giúp pháp lý là việc cung cấp dịch vụ pháp lý miễn phí cho
người được trợ giúp pháp lý theo quy định của luật này, giúp người được
trợ giúp pháp lý bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình, nâng cao hiểu
biết pháp luật, ý thức tôn trọng và chấp hành pháp luật, góp phần vào
việc phổ biến, giáo dục pháp luật, bảo vệ công lý, bảo đảm công bằng xã
hội, phòng ngừa, hạn chế tranh chấp và vi phạm pháp luật [13, Điều 3].
Như vậy, dù pháp luật các nước quy định tương đối khác nhau, song tựu
chung khái niệm trợ giúp pháp lý đều được xây dựng dựa trên những nền tảng sau: 10
- Sự hỗ trợ về chi phí: Hỗ trợ một phần hoặc hoàn toàn các chi phí liên quan

1.2.1. Đảm bảo quyền con người của nhóm người yếu thế
Cho dù quyền con người nói chung và quyền con người của nhóm người yếu
thế nói riêng có nguồn gốc tự nhiên hay nguồn gốc pháp lý thì việc thực hiện các
quyền con người vẫn cần có sự thừa nhận của pháp luật. Điều đó có nghĩa là, pháp
luật là phương tiện chính thức hóa các quyền con người, nếu không có sự thừa nhận
của xã hội thông qua pháp luật thì quyền tự nhiên vốn có của con người chưa thể trở
thành quyền thực sự. Khi quyền con người được quy định trong Hiến pháp và pháp
luật thì nó sẽ có sức mạnh “tối thượng”, có giá trị bắt buộc mà bất cứ chủ thể nào
cũng phải tôn trọng. Tuy nhiên, không phải lúc nào nhà nước cũng nhìn thấy hoặc
chịu thừa nhận các quyền này, đặc biệt là khi chúng xuất phát từ lợi ích của các
nhóm yếu thế hơn hoặc việc thừa nhận có thể tạo ra sự xung đột về lợi ích với các
nhóm mạnh hơn trong xã hội. Do đó, một số trường hợp cần phải có những tác động
để nhà nước thực hiện nghĩa vụ của mình.
Thông qua quá trình trợ giúp pháp lý, người thực hiện trợ giúp pháp lý nắm
bắt được nhu cầu, khó khăn của nhóm người yếu thế trên cơ sở đó đưa ra các kiến
nghị với cơ quan lập pháp nhằm thiết lập những tiêu chuẩn pháp luật tương xứng,
phù hợp với nhu cầu, đặc điểm của các nhóm này. Tuy nhiên, bởi việc trợ giúp pháp
lý được thực hiện độc lập theo vụ việc riêng lẻ và đối tượng hưởng lợi là cá nhân,
do đó, phải có những tổng hợp, đánh giá mang tính chuyên môn, tổng thể trước khi
gửi kiến nghị tới cơ quan lập pháp. Việc kiến nghị được thực hiện ôn hòa, do cơ
quan quản lý của toàn hệ thống chịu trách nhiệm. Đây là một trong những cách thức
lập pháp hiệu quả bởi pháp luật sẽ được xây dựng dựa trên nhu cầu và điều kiện
thực tiễn, vì vậy, dễ đi vào đời sống xã hội.
Ngoài ra, trong quá trình trợ giúp pháp lý khi phát hiện ra các quy định trái
với quyền lợi hợp pháp của nhóm người yếu thế được thừa nhận trong các văn kiện
quốc tế về quyền con người, Hiến pháp hoặc văn bản pháp luật cao hơn, người thực
hiện trợ giúp pháp lý có thể yêu cầu cơ quan ra văn bản phải hủy bỏ, thay thế và các
cơ quan thực thi pháp luật chấm dứt thi hành văn bản đó. 13
mình, cách thức, thủ tục pháp lý để áp dụng các quyền này. Nếu có đề nghị xa hơn,
người thực hiện trợ giúp pháp lý có thể đại diện tham gia tố tụng và ngoài tố tụng
cho người được trợ giúp pháp lý để bảo vệ quyền lợi chính đáng của họ.
Hai là, yêu cầu tạo ra đầy đủ các công cụ, điều kiện để bảo đảm thực thi.
Cần phải có các phương tiện, thiết chế, biện pháp hỗ trợ để mọi người nói chung và
nhóm người yếu thế nói riêng hưởng thụ đầy đủ các quyền con người của mình.
Trách nhiệm này chủ yếu thuộc về nhà nước mà cụ thể là các cơ quan thực thi pháp
luật. Ngày nay, trong xã hội hiện đại, khi sự hiện diện của các tổ chức xã hội dân sự
ngày càng trở nên phổ biến và quan trọng thì các công cụ thực thi pháp luật có thể
được tạo ra bởi chính những chủ thể này. Tuy nhiên, không phải khi các quyền
được thừa nhận cũng là lúc công cụ thực thi pháp lý ra đời. Thông thường, các điều
kiện để bảo đảm thực thi quyền sẽ được thiết lập sau khi luật hóa các quyền pháp lý,
những phương tiện này có thể xuất hiện ngay lập tức hoặc theo từng giai đoạn một.
Điều đáng nói là nếu việc ra đời các công cụ này kéo dài hoặc thậm chí không xuất
hiện thì hiển nhiên các quyền con người của nhóm yếu thế mãi chỉ tồn tại trên lý
thuyết mà không thể ứng dụng trên thực tiễn. Do đó, qua quá trình đại diện, người
thực hiện trợ giúp pháp lý đề nghị các cơ quan, tổ chức có thẩm quyền, trách nhiệm
hoặc có khả năng thiết lập các công cụ bảo đảm việc hưởng thụ đầy đủ các quyền
con người của nhóm yếu thế. Chẳng hạn, theo quy định của pháp luật nước X người
tỵ nạn được sinh sống miễn phí trong các trại tỵ nạn, tuy nhiên, thực tế chưa có bất
kỳ trại tỵ nạn nào được xây dựng trên lãnh thổ nước này thì thông qua quá trình trợ
giúp pháp lý cho khách hàng là người tỵ nạn, người thực hiện trợ giúp pháp lý kiến
nghị cơ quan nhà nước có thẩm quyền tiến hành thiết lập các trại tỵ nạn để họ có thể
thực hiện quyền của mình, đăng ký ở trong các khu trại này.
Ba là, yêu cầu không có sự can thiệp bất hợp pháp từ các chủ thể khác vào
việc áp dụng quyền của nhóm người yếu thế. Nói cách khác là đòi hỏi các chủ thể
khác trong xã hội (bao gồm cả nhà nước và các yếu tố phi nhà nước; bên có nghĩa

được trợ giúp pháp lý;
Hai là, người thực hiện trợ giúp pháp lý đại diện cho khách hàng kiến nghị
lên cơ quan nhà nước có thẩm quyền yêu cầu các cơ quan này chủ động đưa ra các
biện pháp và xây dựng cơ chế phòng ngừa vi phạm. 15
Khi vi phạm đã xảy ra và có thiệt hại, trợ giúp pháp lý giúp người được trợ
giúp pháp lý yêu cầu các cơ quan có thẩm quyền xử lý vi phạm và bảo vệ quyền lợi
chính đáng của khách hàng thông qua hoạt động tham gia tố tụng, hòa giải, đại diện
ngoài tố tụng… Điều này càng đặc biệt khi mà người yếu thế là bị can, bị cáo, bị
đơn dân sự trong vụ án hình sự. Trong quá trình tố tụng, trợ giúp pháp lý không chỉ
đảm bảo quyền bào chữa cho tất cả mọi người mà người thực hiện trợ giúp pháp lý
còn phát hiện, ngăn chặn kịp thời các hành vi vi phạm đến quyền con người của
người yếu thế, buộc các cơ quan, người tiến hành tố tụng phải tôn trọng và bảo đảm
các quyền này.
1.2.3. Thúc đẩy quyền con người của nhóm người yếu thế
Trợ giúp pháp lý thúc đẩy các quyền con người được cải thiện và quy định
tiến bộ hơn trong các văn bản pháp luật quốc gia và quốc tế thông qua việc thay đổi
và định hướng nhận thức của các chủ thể trong xã hội bao gồm:
- Nhóm có nghĩa vụ: Bao gồm nhà nước và các chủ thể khác. Tuy nhiên,
trong pháp luật quốc tế, nhà nước là chủ thể có trách nhiệm chính trong việc tôn
trọng, thực thi và thúc đẩy các quyền con người, do đó, nhóm có nghĩa vụ ở đây
cũng tập trung nhấn mạnh vào nhà nước. Việc tác động tới nhà nước được thực hiện
bằng cách tác động tới nhận thức, hành vi của các cơ quan, tổ chức, cá nhân làm
việc và đại diện cho nhà nước từ cấp Trung ương đến địa phương thông qua quá
trình trợ giúp pháp lý mà cụ thể là đại diện tham gia tố tụng và đại diện ngoài tố
tụng. Tác động tới nhận thức của đại diện nhà nước được thực hiện trực tiếp hoặc
gián tiếp. Với trường hợp trực tiếp, người thực hiện trợ giúp pháp lý đứng ra bảo vệ
quyền lợi cho khách hàng, trực tiếp làm việc với các cơ quan công quyền, thậm chí

cảm, sợ hãi và đặt niềm tin vào công lý từ đó dám đứng lên đấu tranh, tự bảo vệ các
quyền con người của mình hoặc của cộng đồng mình sinh sống. Người thực hiện trợ
giúp pháp lý sẽ đồng hành cùng với nhóm người yếu thế, giải thích cho họ hiểu rõ
các quyền lợi hợp pháp của bản thân, cách thức áp dụng các quyền đó cũng như
biện pháp loại bỏ các rào cản từ đó nâng cao nhận thức về các quyền con người của
nhóm yếu thế. Ngoài ra, trợ giúp pháp lý cũng có vai trò trong việc giúp cá nhân
thuộc nhóm này vượt qua hoặc khắc phục phần nào vị thế yếu thế của mình bằng
cách hướng dẫn các chính sách ưu đãi dành cho nhóm này để phát triển kinh tế và
đời sống. Đây là bước đi quan trọng nhằm thúc đẩy các quyền của người yếu thế. 17
- Nhóm xã hội khác: Bao gồm các tổ chức xã hội dân sự và cá nhân hoạt
động độc lập. Ngày nay, tổ chức xã hội dân sự ngày càng có vai trò quan trọng
trong việc bảo vệ các quyền con người, đặc biệt là quyền của các nhóm người yếu
thế. Họ không chỉ hỗ trợ về tài chính, kỹ thuật mà còn có tiếng nói trong các cuộc
vận động ghi nhận, thúc đẩy quyền của các nhóm yếu thế. Qua các hoạt động của
trợ giúp pháp lý và kết quả đạt được, các chủ thể này sẽ thấy rõ hơn những rào cản
mà nhóm người yếu thế gặp phải cũng như những bất cập trong chính sách dành
cho nhóm người yếu thế từ đó đưa ra các kiến nghị, yêu cầu hoàn thiện pháp luật và
công cụ thực thi pháp luật.
Như vậy, trợ giúp pháp lý không chỉ đơn thuần hỗ trợ cho các cơ quan thực
thi pháp luật, đưa pháp luật vào đời sống mà còn là biện pháp hữu hiệu để nhóm
người yếu thế có thể tiếp cận, thực hiện cũng như thúc đẩy các quyền của mình, từ
đó đảm bảo công bằng xã hội và bảo vệ pháp chế.
1.3. Đặc điểm của trợ giúp pháp lý
Nghiên cứu về trợ giúp pháp lý cho thấy nó có những đặc điểm sau:
1.3.1. Trợ giúp pháp lý vừa mang tính nhà nước, vừa mang tính xã hội
Mặc dù, mô hình trợ giúp pháp lý đầu tiên trên thế giới là mô hình từ thiện
(do các luật sư thực hiện tự nguyện mà không có bất cứ sự can thiệp nào của nhà

quyền con người
Tham gia tố tụng (bao gồm đại diện và bào chữa) đặc biệt là tố tụng hình sự
là phương thức trợ giúp pháp lý đầu tiên và chủ yếu của hệ thống trợ giúp pháp lý.
Đến nay, không chỉ được ghi nhận trong pháp luật quốc gia mà việc trợ giúp pháp
lý cho bị can, bị cáo đã được quy định trong các văn kiện quốc tế. Người thực hiện
trợ giúp pháp lý với vai trò là luật sư, có vị trí độc lập với các cơ quan tiến hành tố
tụng và người tiến hành tố tụng sẽ hỗ trợ hoạt động xét xử diễn ra công bằng, khách
quan thông qua việc chứng minh tội phạm cũng như phát hiện, ngăn chặn kịp thời
các vi phạm trong các giai đoạn tố tụng, bảo đảm mọi người ở bất kỳ tình huống
nào cũng được bảo đảm các quyền con người của mình.
1.3.4. Đối tượng được trợ giúp pháp lý là người gặp nhiều khó khăn trong
việc vượt các rào cản để tiếp cận, thực hiện và bảo vệ quyền lợi của mình
Đặc điểm này xuất phát từ mục đích của trợ giúp pháp lý là nhằm giúp đỡ,
tương trợ cho những người gặp nhiều khó khăn trong việc vượt qua các rào cản để 19
bảo vệ quyền lợi hợp pháp của mình, góp phần đảm bảo công bằng xã hội. Các đối
tượng trên do sức khỏe, giới tính, xu hướng tình dục, nguồn gốc, dân tộc và các yếu
tố khác mà có vị thế chính trị, xã hội, kinh tế hay pháp lý thấp hơn các nhóm khác,
vì vậy, không có khả năng hoặc bị hạn chế về khả năng tiếp cận, thực hiện và bảo
vệ các quyền con người của mình, dẫn đến có nguy cơ cao bị phớt lờ, bị bỏ quên
hoặc bị vi phạm các quyền con người đó. Chính bởi thế, họ cần có sự trợ giúp về
pháp lý, kinh tế, giáo dục, y tế nhằm khắc phục hoặc hạn chế phần nào đặc tính bị
dễ tổn thương để hòa nhập cộng đồng và phát triển đời sống cá nhân.
1.3.5. Người thực hiện trợ giúp pháp lý phải là người có chuyên môn, kinh
nghiệm, kỹ năng về pháp luật
Bởi pháp luật là một lĩnh vực đặc thù, điều chỉnh các quan hệ xã hội và
người được trợ giúp pháp lý thường là những người có kém hiểu biết, thậm chí
không hiểu biết về pháp luật, do đó, người thực hiện trợ giúp pháp lý hoặc phải


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status