1
MỤC LỤC
MỤC LỤC 1
PHẦN 1. TÀI LIỆU BẢN GỐC TIẾNG ANH VÀ TIẾNG VIỆT 2
BÀI 1 2
Bài 2 16
PHẦN 2: PHÂN TÍCH 26
2.1. Thuật ngữ 26
2.2. Phân tích sâu 30
PHẦN 3: CẢM NHẬN THỰC TẬP 40
2
PHẦN 1. TÀI LIỆU BẢN GỐC TIẾNG ANH VÀ TIẾNG VIỆT
Văn bản gốc Văn bản đích
BÀI 1
General information about Vietnam's
economy
Source: Ministry of Foreign Affairs
/>0155228/
Overview: Viet Nam embarked on the Doi
Moi (reform) policy in 1986. Since then, the
country has seen dramatic changes, first and
foremost in the economic thinking. The
centrally-planned economy was replaced by
the socialist-oriented market economy;
national industrialization and modernization
were initiated together with the policy of
multilateralization and diversification of
The 1987 Foreign Investment Law was the first
legal document that helped form the legal
framework for the Vietnamese market
economy. In 1991, the Private Enterprise Law
and Corporate Law were introduced. The
amended 1992 Constitution affirmed the
existence and development of a multi-sector
economy under a market mechanism, including
the foreign-invested sector. This was followed
by the promulgation of a number of laws
essential for the formation of the market
economy, including Land Law, Tax Law,
Bankruptcy Law, Environment Law, and
Labour Code etc. Hundreds of ordinances and
độ tăng trưởng khá cao liên tục trong nhiều
năm. Việc trở thành thành viên của Tổ chức
Thương mại Thế giới (WTO) thúc đẩy nền
kinh tế Việt Nam hội nhập sâu, rộng hơn vào
kinh tế thế giới, cơ hội tranh thủ các nguồn
lực bên ngoài để đẩy mạnh công nghiệp hoá,
hiện đại hoá. Việt Nam đặt mục tiêu phấn
đấu đến năm 2020 cơ bản trở thành một
nước công nghiệp theo hướng hiện đại.
Luật đầu tư nước ngoài năm 1987 là văn bản
favourable business environment and mobilize
all resources for economic growth. The
political will of the Vietnamese Government
is also reflected in the strategy for
administrative reform in 2001-2010, which
emphasizes the simplification of
administrative procedures, amendment of
laws and improvement of economic
management. These changes will help
hành nhằm cụ thể hóa việc thực hiện luật phục
vụ phát triển kinh tế - xã hội.
Cùng với việc xây dựng luật, các thể chế thị
trường ở Việt Nam cũng từng bước được hình
thành. Chính phủ đã chủ trương xóa bỏ cơ chế
tập trung, bao cấp, nhấn mạnh quan hệ hàng
hóa - tiền tệ, tập trung vào các biện pháp quản
lý kinh tế, thành lập hàng loạt các tổ chức tài
chính, ngân hàng, hình thành các thị trường cơ
bản như thị trường tiền tệ, thị trường lao động,
thị trường hàng hóa, thị trường đất đai… Cải
cách hành chính được thúc đẩy nhằm nâng cao
tính cạnh tranh của nền kinh tế, tạo môi trường
thuận lợi và đầy đủ hơn cho hoạt động kinh
doanh, phát huy mọi nguồn lực cho tăng trưởng
kinh tế. Chiến lược cải cách hành chính giai
đoạn 2001-2010 là một quyết tâm của Chính
phủ Việt Nam, trong đó nhấn mạnh việc sửa
đổi các thủ tục hành chính, luật pháp, cơ chế
quản lý kinh tế… để tạo ra một thể chế năng
đáng phấn khởi. Việt Nam đã tạo ra được một
môi trường kinh tế thị trường có tính cạnh tranh
và năng động. Nền kinh tế hàng hóa nhiều
thành phần được khuyến khích phát triển, tạo
nên tính hiệu quả trong việc huy động các
nguồn lực xã hội phục vụ cho tăng trưởng kinh
tế. Các quan hệ kinh tế đối ngoại đã trở nên
thông thoáng hơn, thu hút được ngày càng
nhiều các nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước
ngoài, mở rộng thị trường cho hàng hóa xuất
khẩu và phát triển thêm một số lĩnh vực
hoạt động tạo ra nguồn thu ngoại tệ ngày
càng lớn như du lịch, xuất khẩu lao động,
kiều hối
Trong hơn 20 năm đổi mới, GDP của Việt
Nam đã tăng liên tục. Nếu như trong giai
đoạn đầu đổi mới (1986-1990), GDP chỉ tăng
6
3.9% in 1986-1990. This rate dropped to
7.5% in 1996-2000 due to the impacts of the
Asian financial crisis. Since 2001, GDP
growth recovered on a year-on-year basis,
reaching 6.9%, 7%, 7.3% and 7.7% for
2001, 2002, 2003 and 2004 respectively. The
figure for 2005 was 8.4%. Vietnam has now
succeeded in gradually replacing the
centrally-planned economy, bureaucracy
and a subsidy mechanism by a socialist-
oriented market economy with growing
sự thay đổi đáng kể. Từ năm 1990 đến 2007, tỷ
trọng của khu vực nông-lâm nghiệp thủy sản đã
giảm từ 38,7% xuống dưới 20% GDP, nhường
chỗ cho sự tăng lên về tỷ trọng của khu vực
7
As Vietnam’s GDP continuously increases, the
economic structure has also witnessed notable
changes. From 1990 to 2005, the contribution
of agriculture sector dropped from 38.7% to
20.89% , whilst that of the industry and
construction was up from 22.7% to 41.03% .
The service sector stayed relatively constant,
38.6% in 1990 and 38.08% in 2005. In each
sector, the structure has also positively shifted.
The agriculture sector has seen a decline in the
role of agriculture and forestry from 84.4% to
77.7% during the period 1990-2003, while
fishery gained a higher share. In the industrial
sector, the proportion of the processing industry
was up from 12.3% in 1990 to 20.8% in 2003
with improved product quality. In the service
sector, the share of high-quality services such
as finance, banking, insurance and tourism, etc.
is increasing rapidly.
The economy is well on the road to a multi-
sector model operating according to market
mechanism and state regulations. This means
that the private sector enjoys freedom to
develop in all areas not specifically forbidden
encouragement for development. This Law
institutionalized the freedom of all individuals
to do business in areas not prohibited by law. It
also removed administrative obstacles that
hampered enterprises such as complex
licensing procedures or fees, etc. In the 2000-
2004 period, 73,000 private enterprises were
registered, up by 3.75 times against the period
1991-1999. By 2004, the total number of
private enterprises operating under the
Enterprise Law amounted to 150,000 with the
total capital of VND 182 billion. From 1991 to
2003, the private sector’s share in GDP was up
from 3.1% to 4.1%; other non-state sectors
increased from 4.4% to 4.5%; and foreign- Luật doanh nghiệp được sửa đổi năm 2000 đã
tạo điều kiện cho sự phát triển của các doanh
nghiệp tư nhân. Bộ luật này đã thể chế hóa
quyền tự do kinh doanh của các cá nhân trong
tất cả các ngành nghề mà pháp luật không cấm,
dỡ bỏ những rào cản về hành chính đang làm
trở ngại đến hoạt động kinh doanh của các
doanh nghiệp như cấp giấy phép, thủ tục, các
loại phí… Từ 1/7/2006, Luật Doanh nghiệp
2005 (áp dụng chung cho cả doanh nghiệp
population on a relatively equal basis. Trong khu vực doanh nghiệp nhà nước, những
chính sách và biện pháp điều chỉnh, sắp xếp lại
các doanh nghiệp, đặc biệt là những biện pháp
về quản lý tài chính của công ty nhà nước, quản
lý các nguồn vốn nhà nước đầu tư vào doanh
nghiệp, hay việc chuyển các công ty nhà nước
thành công ty cổ phần theo tinh thần cải cách
mạnh mẽ hơn nữa các doanh nghiệp nhà nước,
ngày càng được coi trọng nhằm nâng cao tính
hiệu quả cho khu vực kinh tế quốc doanh. Tính
đến 30/6/2008, đã có 3.786 doanh nghiệp Nhà
nước được cổ phẩn hóa. Việt Nam đã sử dụng một cách hiệu quả các
thành tựu kinh tế vào mục tiêu phát triển xã
hội như phân chia một cách tương đối đồng
đều các lợi ích của đổi mới cho đại đa số dân
chúng; gắn kết tăng trưởng kinh tế với nâng
10
Economic growth is combined with the
improvement of life quality and development
of health care and education. The Human
Development Index of Vietnam increased from
0.583 in 1994 with a rank of 120/174 to
108/177 in 2005. The average life expectancy
chủ trương tích cực, chủ động hội nhập kinh tế
quốc tế, quan hệ kinh tế của Việt Nam với các
nước, các tổ chức quốc tế ngày càng được mở
rộng. Việt Nam là thành viên quan trọng trong
ASEAN, tích cực thực hiện các cam kết Khu
vực mậu dịch tự do ASEAN (AFTA), là thành
viên tích cực của APEC, ASEM và nhiều tổ
chức kinh tế quốc tế khác. Hợp tác kinh tế của
Việt Nam với các nền kinh tế lớn như Mỹ, EU,
Nhật Bản, Nga, Trung Quốc, Ấn Độ ngày càng
được củng cố và mở rộng, Việt Nam đã k ý hiệp
11
20%. From around US$ half a million before
the introduction of the Doi Moi policy, the total
export volume of Vietnam reached US$ 26
billion in 2004 and US$32.23 billion in 2005.
This foreign earning is a significant resource
for the national industrialization and
modernization.
The structure of exports has also seen a
positive change. During the 1991-1995 period,
major exports of Vietnam were crude oil,
fishery products, rice, textiles, coffee, forestry
products, rubber, peanut and cashew nuts. By
2005, apart from crude oil, textiles, rice and
coffee, Vietnam was mainly exporting namely
crude oil, garment and textile, footwear,
seafood, woodwork, electronics appliances, and
rice. This structure reflects the rise in
12
raise the proportion of industrial exports.
The policy of "multilateralization and
diversification" of international relations has
helped Vietnam integrate more deeply into the
world and regional economy. Before 1990,
Vietnam had trade relations with only 40
partners. Now with the foreign policy of
openness, which is to befriend and cooperate
with all countries in the world on the basis of
equality and mutual benefit, Vietnam has
established diplomatic relations with 167
countries, and has signed multilateral and
bilateral trade agreements with over 80 nations.
The country has been granted MFN status by
more than 70 countries and territories,
including countries and regions with large
capital resources, high technologies and vast
markets, such as the United States, Japan, the
EU and newly industrialized countries in East
Asia.
Following the introduction of Doi Moi,
Vietnam signed an economic and trade
cooperation agreement with the EU in 1992,
gạo. Cơ cấu này phản ánh xu hướng gia tăng
các chủng loại mặt hàng chế biến, chế tạo, và
sự giảm đi về tỷ trọng của các mặt hàng xuất
khẩu thô, chủ yếu là các mặt hàng nông, lâm,
hải sản và khoáng sản. Dù vậy, các mặt hàng
and 2002, which created a more open and
attractive environment to draw foreign
investors into crucial industries such as export-
oriented processing and manufacturing, and
key economic zones of the country.
In recent years and especially in 2005, the
Vietnamese Government made a number of
adjustments and conducted reforms to create Đầu tư trực tiếp nước ngoài: Luật đầu tư nước
ngoài tại Việt Nam được ban hành tháng
12/1987 đã tạo khuôn khổ pháp lý cơ bản cho
các hoạt động đầu tư nước ngoài trực tiếp tại
Việt Nam. Luật đã có một số lần được sửa đổi,
bổ sung, nổi bật là các lần sửa đổi vào những
năm 1996 và năm 2002 nhằm tạo môi trường
đầu tư thông thoáng, hấp dẫn hơn để khuyến
khích các nhà đầu tư nuớc ngoài đầu tư vào
những mục tiêu trọng điểm và những lĩnh vực
ưu tiên, nhất là trong ngành công nghiệp chế
biến, chế tạo hướng vào xuất khẩu và các vùng
kinh tế trọng điểm của đất nước.
Cùng với Luật Doanh nghiệp, việc ban hành
Luật Đầu tư 2005 đã tạo bước tiến dài trong
việc điều chỉnh, cải tiến môi trường đầu tư của
14
dịch vụ viễn thông xuống ngang bằng mức giá
tại các nước trong khu vực, nâng cấp cơ sở hạ
tầng, mở rộng lĩnh vực đầu tư, cho phép các
doanh nghiệp nước ngoài được đầu tư vào một
số lĩnh vực trước đây chưa cho phép như viễn
thông, bảo hiểm, kinh doanh siêu thị, ngân
hàng… cũng góp phần tạo nên một môi
trường đầu tư hấp dẫn hơn ở Việt Nam.
FDI vào Việt Nam tăng nhanh còn do các
nguyên nhân quan trọng khác như: sự ổn định
về chính trị, kinh tế, an ninh và quốc phòng;
nền kinh tế Việt Nam liên tục đạt mức tăng
trưởng cao; công cuộc đổi mới kinh tế theo cơ
chế thị trường tiếp tục được duy trì và đẩy
mạnh; mức sống của người dân được nâng cao
góp phần làm tăng mức cầu nội địa; tiến trình
hội nhập kinh tế quốc tế được đẩy mạnh, uy tín
15
the international market of Vietnamese
trademarks and Vietnam’s growing reputation.
Over the past years, Vietnam has drawn
increasing inflows of FDI. From a negligible
figure of 1986, FDI into Vietnam reached US$
3.2 billion in 1997. Due to the negative impacts
of the 1997 Asian financial crisis, the FDI flow
then saw a drop during 1998-2000 period, with
only US$ 1.58 billion in 1999. In the past few
làm cho hàng chục vạn lao động, góp phần phát
triển kinh tế - xã hội Việt Nam.
16
Bài 2
5-year WTO Membership: Gains and Losses
Source: VCCI
/>25144As of 2012, Vietnam has been in the World
Trade Organisation (WTO) for five years. On
this occasion, Vietnam Business Forum has an
exclusive dialogue with former Deputy Prime
Minister Vu Khoan. In the context of economic
challenges, his insight can spot the gains and
losses on this global playing field. Le Hien
reports.
A span of 5 years is long enough to look back
upon the important integration path of the
Vietnamese economy. How have we performed
since joining the WTO?
It is clear that the Vietnamese economy is
now being affected by many different factors
which result from internal causes like current
development level, economic structure,
5 năm gia nhập WTO: Chuyện “được” và
WTO. Thus, it is very difficult to attribute
positive and negative aspects. However, we can
see the benefits of WTO admission as follows.
First, after joining the WTO, Vietnam is no
longer faces discrimination. It is offered the
same import tariffs as other WTO members.
With fewer non-tariff barriers, Vietnam’s
export has increased continually, even in the
time of global economic crisis. Except in
2009, annual export growth always stays above
20 percent. The rate was over 30 percent in
2011 and average at 17.3 percent in the five-
year period, higher than the initial estimation of
16 percent.
Second, with lower import tariffs, prices of
imported machinery, equipment and
materials for domestic production are also
cơ cấu kinh tế, thể chế và sự điều hành chứ
không chỉ tùy thuộc vào quá trình hội nhập nói
chung và việc gia nhập WTO nói riêng. Việt
Nam gặp điều không may là chẳng bao lâu sau
khi gia nhập WTO đã bùng phát cuộc khủng
hoảng tài chính - tiền tệ và sự suy thoái kinh tế
toàn cầu, do đó khó phân định. Tuy nhiên có
thể hình dung một số lợi ích do việc gia nhập
WTO đem lại như sau:
Thứ nhất, sau khi gia nhập WTO, Việt Nam
không còn bị phân biệt đối xử, được hưởng
thuế suất nhập khẩu của các nước giống như
các thành viên khác, các rào cản phi thuế
of which US$45 billion has been disbursed, 77
percent higher than the target.
Fifth, with more competitive pressure,
Vietnamese companies have to improve
xuất cũng giảm bớt, vì vậy gánh đỡ cho giá
thành, gia tăng phần nào khả năng cạnh
tranh. Còn việc nhập siêu gia tăng thì chủ yếu
là do hai nguyên nhân: cơ cấu kinh tế của Việt
Nam lạc hậu, tỷ lệ gia công quá lớn nên càng
đẩy mạnh sản xuất, gia tăng xuất khẩu lại càng
phải nhập khẩu. Hơn nữa, giá cả trên thị trường
thế giới giao động mạnh, có thể nói đã hình
thành một mặt bằng giá cả mới cao hơn trước.
Thứ 3, người tiêu dùng cũng được lợi nhờ hàng
hóa đa dạng hơn, các DN nước ngoài như ngân
hàng, bảo hiểm, phân phối xâm nhập thị trường
tuy có tạo nên sức ép cạnh tranh với các DN
của ta song lại đem lại tiện ích cho người tiêu
dùng.
Thứ tư, do thể chế thông thoáng hơn nên đầu tư
trực tiếp nước ngoài gia tăng đáng kể; trong 5
năm tổng số vốn đăng ký mới và tăng thêm đạt
khoảng 150 tỷ USD, gấp 2,7 lần, tổng số thực
hiện đạt 45 tỷ, vượt 77% so với mục tiêu đề ra.
Thứ năm, một mặt các DN có chịu thêm sức ép
cạnh tranh, mặt khác cũng buộc phải vươn lên
19
themselves and learn more about global
nên vị thế quốc tế của Việt Nam càng được
nâng cao, ngày nay Việt Nam có điều kiện
tham gia sân chơi quốc tế, kể cả trong khuôn
khổ WTO ở tư thế bình đẳng hơn.
Bên cạnh đó, việc gia nhập WTO cũng đặt ra
những thách thức mới. Có thể kể đến một số
mặt: Thách thức lớn nhất là sức ép cạnh tranh
gia tăng, kể cả trên thị trường trong nước do ta
từng bước phải mở cửa thị trường cho các DN
nước ngoài. Đồng thời, do đã liên thông với thị
trường quốc tế nên những biến động của thế
giới tác động vào Việt Nam nhanh hơn, mạnh
hơn. Nhân đây cũng phải nói rằng, cho dù
không hội nhập, không mở cửa thì kinh tế
Việt Nam vẫn chịu tác động vì cơ cấu kinh tế
20
backwardness and reliance on imported
machinery, equipment and raw materials for
export-driven production. Thirdly,
Vietnamese companies face certain
difficulties when they start to do business on
a global scale.
Given the current economic difficulties, it is
said that Vietnam’s preparations were not
careful enough and its hastiness forced
Vietnamese companies to take painful lessons,
from volatile prices to loss of trademark. What
is your opinion about this?
Indeed, Vietnam's integration is gradual, not
chu đáo cho các DN, các biện pháp che chắn
mà cam kết quốc tế cho phép rất thiếu; bản thân
các DN cũng còn nặng tâm lý bảo hộ, chưa
21
Even, they still believe in strong protectionism
while disregarding the knowledge of
international commitments. As a result, they
are at a disadvantage. If we did not integrate
into the world, we would surely take no heed to
brand names. This concept appeared only after
we integrated. However, it is regrettable that
many enterprises and localities do not care
much about branding, let alone protection.
Competent authorities do not provide sufficient
guidance and enterprises have to pay a high
price for their ignorance. Hopefully, these
lessons will awaken government agencies and
companies.
To utilise advantages that the WTO brings,
what will Vietnam have to do as more tariff
barriers will be lowered in the coming five
years, according to international
commitments? What fields will have more
opportunity to develop?
According to WTO regulations, tariff barriers
are not removed but lowered. The lowering of
tariffs to 0 - 5 percent relates to commitments
chịu quan tâm tìm hiểu các cam kết được công
bố công khai nên thua thiệt. Nếu không hội
move ahead. Besides, it is time for Vietnamese
companies to penetrate foreign markets, not
passively wait for foreigners’ arrival. This is a
hard job, but it needs to be taken into account.
All companies have to find their own
opportunities. Personally, I cannot make a
common recommendation.
The United States is a target export market for
Vietnamese enterprises. With profound
knowledge about this market, could you talk
about your experience working with US
companies?
suất thuế nhập khẩu chứ không có chuyện xóa
bỏ. Việc hạ thuế suất xuống mức từ 5 đến 0%
liên quan tới các cam kết trong khuôn khổ hình
thành các khu vực mậu dịch tự do (FTA).
Riêng đối với WTO thì điều quan trọng sẽ là
thực hiện lộ trình mở cửa thị trường.
Do đó các DN trong nước nên chịu khó đi sâu
nghiên cứu lộ trình mở cửa thị trường trong các
lĩnh vực khác nhau theo cam kết với WTO rồi
chủ động chiếm lĩnh trước. Bên cạnh đó, đã
đến lúc các DN phải cố xâm nhập thị trường
các nước chứ không chỉ thụ động ngồi chờ
người ta vào nước mình. Việc này rất khó
nhưng cần nghĩ tới. Còn cơ hội ở đâu, ngành gì,
nghề gì thì mỗi DN tự xác định tùy theo lĩnh
vực hoạt động và khả năng của mình cũng như
nhu cầu thị trường chứ cá nhân tôi làm sao có
laws create the style of business of US
companies. They detest bribery.
Hoa Kỳ đúng là thị trường lớn nhất nhưng cũng
không dễ tính. Làm ăn với thị trường này nên
chú trọng tìm hiểu kỹ hệ thống luật pháp
của họ. Hệ thống này khá tỷ mỷ, rắc rối, dễ vi
phạm; đã vi phạm thì mắc vào vòng lao lý rất
vất vả tốn kém. Còn DN Hoa Kỳ sang Việt
Nam làm ăn cũng rất chú trọng hệ thống pháp
luật của Việt Nam song tiếc rằng hệ thống này
còn chưa hoàn thiện, tính minh bạch còn thiếu
nên họ dễ nản lòng. Ở Hoa Kỳ hệ thống tư vấn,
môi giới, kể cả về pháp luật rất phát triển;
không sử dụng họ thì khó bề thâm nhập, làm
ăn. Các ngành hàng đều có các hiệp hội hùng
mạnh, làm ăn ngành nào phải tiếp cận với các
hiệp hội đó đồng thời phải tiếp cận cả các hiệp
hội "đối lập" (ví dụ Hiệp hội Dệt may đối lập
với Hiệp hội Nhập khẩu hàng may mặc) để đỡ
gặp phải sự cản phá. Vận đông hành lang cũng
rất phổ biến và theo luật pháp nghiêm ngặt, làm
ăn với Hoa kỳ cũng phải biết tận dụng Văn
hóa kinh doanh và luật lệ hà khắc tạo nên tính
cách làm ăn của các DN Hoa Kỳ, họ rất kỵ "đi
đêm", "phong bì".
24
What do you forecast for the Vietnamese
economy in 2012?
xuất khẩu. Trong quá trình tái cấu trúc, sẽ giảm
bớt đầu tư công và sự ưu ái quá mức đối với
DNNN Tất cả những điều đó sẽ hé mở cho
các DN ngoài Nhà nước một số thuận lợi nhất
định.
Còn kinh tế thế giới thì cũng sẽ vẫn gặp khó
khăn, đó là chưa kể trường hợp châu Âu "vỡ
nợ", đồng Euro đổ bể Tuy nhiên có một số
nhân tố đáng quan tâm như Nhật đang có
khuynh hướng chuyển công nghiệp phụ trợ
sang Việt Nam sau vụ động đất và sóng thần
hồi tháng 3 năm 2011 và vụ đại hồng thủy ở
Thái Lan hủy hoại các cơ sở của họ. Việc Thái
Lan bị thiệt hại nặng sau trận lụt thế kỷ cũng hé
25
Vietnam. The WTO entry of Russia will lower
tax barriers against Vietnamese commodities
and Vietnam can take this advantage. Necessity
is the mother of invention, and this is a strong
point of Vietnamese enterprises.
ra một số khả năng cho các DN Việt Nam. Hay
việc Nga gia nhập WTO cũng sẽ đưa tới việc
giảm thiểu hàng rào quan thuế mà Việt Nam
cần tận dụng. Nói tóm lại không nên "cái khó
bó cái khôn" mà nên "cái khó ló cái khôn" Gì
chứ, cái khôn thì doanh nghiệp Việt Nam
không thiếu!