THỰC TẬP TỐT NGHIỆP VĂN BẰNG 2 NGÀNH TIẾNG ANH The interesting words, phrasese and structures - Pdf 25

PH ẦN I: V ĂN B ẢN G ỐC V À Đ ÍCH
Chapter 2
Updating Vietnam’s Poverty Monitoring
System
Vietnam’s poverty monitoring system was
updated to reflect changing economic
conditions since the first Vietnam Living
Standards Survey was conducted in 1993.
New, comprehensive consumption aggregates
were created using data from the 2010
Vietnam Household Living Standards Survey
(VHLSS). The GSO-WB poverty line was
updated using these aggregates: the new line
is 653,000 VND per person per month,
yielding a national poverty rate of 20.7
percent.
Chương 2
Cập nhật Hệ thống Theo dõi Nghèo của Việt
Nam
Hệ thống theo dõi nghèo của Việt Nam đã
được cập nhật nhằm phản ánh những thay đổi
về điều kiện kinh tế kể từ khi cuộc Khảo sát
Mức sống Dân cư Việt Nam đầu tiên được
thực hiện vào năm 1993. Các số liệu tổng hợp
mới và toàn diện về tiêu dùng đã được tính
toán trên cơ sở sử dụng dữ liệu từ Khảo sát
Mức sống dân cư năm 2010. Chuẩn nghèo của
Tổng cục Thống kê – Ngân hàng Thế giới đã
được cập nhật trên cơ sở sử dụng những số
liệu tổng hợp này: chuẩn nghèo mới là
653.000 đồng/người/tháng, và theo chuẩn này

improved, even for households living in more
remote rural areas. In addition, the production
structure of households has changed:
households have access to a much wider array
of consumer goods, and they purchase more
food from the market rather than producing it
at home. Incomes are more diversified, and
there has been a rapid shift out of agriculture
and into industry and services. These changes
affect households across the income
distribution. Especially important for
determining a poverty line, the consumption
patterns of poor households today are
substantially different from those of the
1990s.
2.2 This chapter describes revisions and
updates to Vietnam’s poverty monitoring
system, including improvements to the 2010
VHLSS (and subsequent rounds), revisions to
the definition of household welfare to make it
a more comprehensive measure of well-being,
new indexes to adjust for spatial cost-of-living
differences, and an update to the original
A. Giới thiệu
2.1 Việt Nam có một hệ thống tốt để theo
dõi những thay đổi về tình hình nghèo đói dựa
trên một hệ thống dài hạn các cuộc Khảo sát
Mức sống Dân cư (KSMSDC) đại diện cho
toàn quốc và đảm bảo khả năng so sánh; các
ước lượng nhất quán về phúc lợi hộ gia đình,

đến các hộ thông qua sự phân bổ thu nhập.
Đặc biệt quan trọng trong xác định một chuẩn
nghèo là mô hình tiêu dùng của các hộ nghèo
ngày nay khác biệt về căn bản so với những
năm 90.
2.2 Chương này mô tả việc sửa đổi và cập
nhật hệ thống theo dõi nghèo ở Việt Nam, bao
gồm cả việc cải tiến khảo sát mức sống 2010
(và các vòng tiếp theo), xem lại định nghĩa về
phúc lợi hộ gia đình để nó trở thành một thước
đo toàn diện hơn về mức sống, sử dụng các
chỉ số mới để điều chỉnh sự khác biệt về giá
sinh hoạt theo vùng lãnh thổ và cập nhật
chuẩn nghèo ban đầu của TCTK - NHTG.
Phương pháp luận dùng để xây dựng chuẩn
2
GSO-WB poverty line. The methodology to
construct the new poverty line is consistent
with the original GSO-WB methodology, but
is based on new information from the 2010
VHLSS.11 The revisions described in this
chapter result in a higher estimate of poverty
for 2010 than the original GSO-WB poverty
line would have yielded, and, particularly for
rural areas and areas with high numbers of
ethnic minority households, higher poverty
estimates compared to official estimates.
Reasons for these differences are also
discussed
2.3 The chapter also describes a new

political and scientific considerations. The
enormous public response, in India and
internationally, to the Indian Planning
Commission’s announcement of new poverty
estimates and revised urban and rural poverty
lines provides a recent example of the
challenges inherent in updating poverty lines,
with some interesting parallels to current
nghèo mới phù hợp với phương pháp luận ban
đầu của TCTK - NHTG nhưng dựa trên các
thông tin mới từ Khảo sát mức sống 2010.11
Những sửa đổi được mô tả trong chương này
dẫn tới các ước lượng về nghèo đói của năm
2010 cao hơn so với các ước lượng nếu tính
theo chuẩn nghèo ban đầu của TCTK -
NHTG. Đặc biệt, đối với các khu vực nông
thôn và khu vực có nhiều hộ dân tộc thiểu số,
các ước lượng về nghèo có mức cao hơn so
với các ước lượng chính thức. Những lý do
gây nên những khác biệt này cũng được đề
cập.
2.3 Chương này cũng mô tả một phương
pháp luận mới để ước lượng chuẩn nghèo
“chủ quan” dựa trên các câu hỏi thử nghiệm
trong Khảo sát mức sống 2010. Các ước
lượng về nghèo đói theochuẩn nghèo chủ
quan rất giống với các ước lượng về nghèo đói
theo chuẩn nghèo mới của TCTK - NHTG.
2.4 Khảo sát mức sống 2010 chỉ có thể
cung cấp các ước lượng đáng tin cậy về nghèo

3
discussions in Vietnam. Many in India feel
that the new official poverty lines are far too
low (box 2.1).
Box 2.1 Do India’s New Official Poverty
Lines Measure Up?
What are Lessons for Vietnam?
The Indian Planning Commission released a
new set of poverty estimates and new poverty
lines in March 2012. Many observers believe
the new poverty lines are much too low—29
rupees per person per day for rural households
(just under US$1.25 2005 Purchasing Power
Parity [PPP]) and 32 rupees per person per
day for urban households (US$1.65 2005
PPP). The Planning Commission’s new
estimates showed a 7-percentage-point drop in
poverty, the largest drop since the official
poverty rate was first calculated in 1962. The
announcement caused a furor in the Indian
and international press: Indian poverty lines
have always been low by international
standards, and the new lines were seen as a
missed opportunity to rectify this.
One important criticism is that the nutrition
standards embedded even in India’s new lines
continue to be based on the sparse diet that the
poor consumed in the 1973–74 National
Sample Survey (NSS). Like in Vietnam,
consumption patterns in India have changed

các ước lượng mới về nghèo đói và chuẩn
nghèo mới vào tháng 3 năm 2012. Nhiều nhà
quan sát cho rằng chuẩn nghèo mới là quá
thấp –29 rupi/người/ngày đối với các hộ gia
đình nông thôn (dưới 1,25 USD theo Sức mua
tương đương2005) và 32 rupi/người/ngày đối
với các hộ gia đình thành thị (1,65 USD theo
sức mua tương đương 2005). Số liệu ước tính
mớicủaỦy ban Kế hoạch cho thấy tỉ lệ nghèo
đã giảm 7 điểm phần trăm, mức giảm lớn nhất
kể từ khi tỷ lệ nghèo chính thức lần đầu tiên
được tính toán vào năm 1962. Việc công bố đã
gây ra một cuộc tranh cãi sôi nổi trên báo chí
Ấn Độ và quốc tế: chuẩn nghèo của Ấn Độ
luôn thấp so với tiêu chuẩn quốc tế, vàcác
chuẩn nghèo mới được nhìn nhận như một cơ
hội đã bị bỏ lỡ để khắc phục tình trạng này.
Một chỉ trích quan trọng là các tiêu chuẩn
dinh dưỡng được đưa vào ngay cả trong các
chuẩn nghèo mới của Ấn Độ vẫn dựa trên chế
độ ăn uống nghèo nàn mà người nghèo tiêu
thụ trong Khảo sát Mẫu Quốc gia 1973-1974
(NSS). Giống như Việt Nam, mô hình tiêu
dùng ở Ấn Độ đã thay đổi đáng kể kể từ khi
các tiêu chuẩn này được thiết lập. Một chỉ
trích khác là các chuẩn nghèo mới của Ấn Độ
không “tạo nên một định nghĩa đầy đủ của
nghèo đói, bởi vì chúng không tính đến các
vấn đề suy dinh dưỡng, vệ sinh, nước uống,
nhà ở và các nhu cầu sức khỏe” (Gill, 2012).

an ethical poverty line to describe the standard
we should aspire to … and an administrative
poverty line which tells us how to best target
our limited resources. As [India] gets richer,
perhaps the latter will be raised till it is
effectively the same as the former. But right
now we don’t want to hurt the poorest [by
spreading resources too thinly] in the name of
being more aggressive about poverty”
(Banerjee 2011).
Source: Banerjee 2011; Gill 2012.
2.6 Vietnam’s official poverty lines for the
2011–2015 Socio-economic Development
Plan are more akin to Banerjee’s concept of an
administrative poverty line: they are designed
to help target limited public resources to those
most in need, and should be judged by that
standard. The updated GSO- WB poverty line
better captures what Banerjee refers to as an
ethical poverty line; it reflects what Vietnam
should aspire to achieve. The good news is
that compared to the situation in the 1990s,
Vietnam’s administrative and monitoring
poverty lines are not very far apart. Moreover,
the official poverty lines help to target poverty
reduction policies and programs to those most
in need, and thus help Vietnam achieve its
điều kiện được hưởng một loạt các phúc lợi xã
hội; các bang nhận được kinh phí cho một số
chương trình giảm nghèo (ví dụ Hệ thống

quyết vấn đề nghèo đói một cách triệt để hơn”
(Banerjee,2012).
Nguồn: Banerjee 2011; Gill 2012.
2.6 Chuẩn nghèo chính thức của Việt
Nam cho giai đoạn Kế hoạch Phát triển KT-
XH 2011-2015 giống với khái niệm về ‘chuẩn
nghèo hành chính’ của Banerjee hơn: đó là
chuẩn nghèo được thiết kế nhằm tập trung
nguồn lực công có hạn cho những người cần
nhất, và phải được đánh giá theo chuẩn đó.
Chuẩn nghèo được cập nhật của TCTK -
NHTG nắm bắt tốt hơn cái mà Banerjee gọi là
chuẩn nghèo “mang tính đạo đức”: nó phản
ánh những gì mà Việt Nam cần mong muốn
đạt được. Tin tốt lành ở đây là so với tình hình
ở thập kỷ 1990 thì chuẩn nghèo hành chính và
chuẩn nghèo dùng để theo dõi của Việt Nam
không quá cách xa nhau. Hơn nữa, chuẩn
nghèo chính thức giúp tập trung các chính
5
poverty reduction goals.
Capturing Multiple Dimensions of Poverty
2.7 Measuring poverty is a challenging and
complicated task, because poverty itself is
complex and has many dimensions. This
chapter focuses primarily on conventional
approaches, based on absolute poverty lines
and consumption measures of welfare. While
familiar to the public and policy makers in
Vietnam, the standard methodology may not

deprivations in education and skills, poor
health status, and deprivations in access to
basic services such as clean water and
sanitation. The aim of multitopic surveys of
living conditions (like the VHLSS) is to
facilitate the measurement and analysis of
poverty in multiple dimensions. The Human
Development Index (HDI) described in
Chapter 1 is a composite measure of well-
sách và chương trình giảm nghèo cho các đối
tượng thực sự cần nhất, vì vậy giúp Việt Nam
đạt được các mục tiêu giảm nghèo.
Nắm bắt Nghèo Đa chiều
2.7 Đo lường nghèo là một nhiệm vụ đầy
thách thức và phức tạp bởi bản thân khái niệm
nghèo đã rất phức tạp và có nhiều chiều cạnh.
Chương này tập trung trước hết vào cách tiếp
cận truyền thống dựa trên các chuẩn nghèo
tuyệt đối và thước đo tiêu dùng của phúc lợi.
Mặc dù phương pháp luận chuẩn đã trở nên
quen thuộc với công chúng và các nhà hoạch
định chính sách ở Việt Nam, phương pháp này
có thể không nắm bắt đầy đủ các khía cạnh
quan trọng khác của phúc lợi. Chẳng hạn, các
hộ sống ở những thành phố lớn và phồn vinh
như Hà Nội hay thành phố Hồ Chí Minh có
thể được tiếp cận các trường học và cơ sở y tế
với chất lượng tốt hơn những hộ ở những khu
vực khác. Nhưng không phải học sinh nào học
trường tốt hơn cũng phải đóng học phí cao

nhiều chiều cạnh. Chỉ số Phát triển Con người
6
being, as is the new Child Poverty Index (used
in Chapter 3) and the broader
Multidimensional Poverty Index (MPI)
proposed by several UN organizations.
2.9 Additional information on other
dimensions of deprivation experienced by the
poor can be identified by soliciting their
perceptions and insights through discussions
and open-ended interviews. A number of
Participatory Poverty Assessments (PPAs)
have been carried out over the years in
Vietnam, including three new field studies
carried out in preparation for this report (see
Chapter1). Findings from qualitative studies
are included throughout the report. These
studies let the poor themselves give voice and
context to the story that emerges from more
conventional statistical analyses—poor men
and women in Vietnam highlight concerns
about lack of skills and education, access to
land and job security. They also speak about
poverty in terms of risks—linked to health
shocks, aging, and disability; job loss and
uncertain wages; and weather shocks that
destroy crops and affect rural incomes. Many
of the poor are highly indebted, and risk can
undermine new economic initiatives. The
importance of social identity is also evident;

người dân (PPAs) đã được thực hiện trong
những năm qua tại Việt Nam, bao gồm 3 lĩnh
vực nghiên cứu mới được thực hiện để làm
đầu vào cho báo cáo này (xem Chương 1). Kết
quả từ các nghiên cứu định tính cũng được
đưa vào báo cáo. Những nghiên cứu này cho
phép người nghèo tự lên tiếng và nêu bối cảnh
cho câu chuyện được đưa ra từ các phân phân
tích thống kê truyền thống– phụ nữ và đàn
ông nghèo ở Việt Nam đã nêu bật những quan
ngại về việc thiếu kĩ năng và học vấn, không
có công việc tốt và việc làm ổn định, không có
đất đai và an ninh việc làm. Đồng thời họ
cũng nói về nghèo đói xét từ khía cạnh rủi ro
– đó là những rủi ro liên quan đến cú sốc về
sức khỏe, tuổi tác và khuyết tật; mất việc làm
và lương không ổn định, thiên tai hủy hoại
mùa màng và ảnh hưởng tới thu nhập ở nông
thôn. Nhiều hộ nghèo ngập trong nợ nần, và
rủi ro có thể hủy hoại những sáng kiến kinh tế
mới. Tầm quan trọng của sự nhận dạng xã hội
cũng được thể hiện rõ nét - ở nông thôn cứ nói
đến đồng bào dân tộc thiểu số là người ta liên
hệ ngay đến nghèo đói.
C. Cập nhật phương pháp đo lường nghèo
2.10 Cần có hai quyết định quan trọng để
đo lường nghèo: (a) làm thế nào để đo lường
mức phúc lợi – xét về thu nhập hoặc chi tiêu -
và (b) nên sử dụng ngưỡng hoặc chuẩn nghèo
nào. Cả hai vấn đề trên đã trở thành chủ đề

financed Vietnam Household Living
Standards Surveys (VHLSS) (in 2002, 2004,
2006, and 2008) using a similar approach to
the earlier VLSS. The design of the core
expenditure and income modules of the
VHLSS questionnaires were kept broadly
consistent with similar modules of the VLSS
modules, with the specific and laudable aim of
maintaining comparability over time. As
noted, comparability has been one of the great
strengths of Vietnam’s poverty data.
2.13 But by 2010, strict comparability was
coming at too high a cost. The 2010 VHLSS
and related welfare aggregates represent a
break with the 2002–2008 VHLSS series in
three important respects: (a) the 2010 VHLSS
was based on a new master sample based on
the 2009 Housing and Population Census,
including a new set of communes and
enumeration areas; (b) the VHLSS household
questionnaire was substantially revised
(including revisions to the core consumption
module) and reduced in length; and (c) an
updated methodology was used to construct a
more comprehensive consumption (welfare)
aggregate. These improvements are
summarized here and described in greater
sống. Chuẩn này bao gồm các khoản chi tiêu
cho lương thực, thực phẩm và phi lương thực,
thực phẩm. Khoản chi tiêu cho lương thực,

đã lưu ý, khả năng so sánh được coi là một
trong những điểm mạnh lớn của dữ liệu nghèo
ở Việt Nam.
2.13 Tuy nhiên đến năm 2010, việc đảm
bảo khả năng so sánh một cách chặt chẽ lại
đòi hỏi chi phí quá cao. Khảo sát Mức sống
Hộ Gia đình Việt Nam 2010 và các số liệu
tổng hợp về phúc lợi có liên quan cho thấy có
sự đứt gãy so với loạt Khảo sát Mức sống Hộ
Gia đình Việt Nam 2002-2008 ở ba khía cạnh
quan trọng: (a) Khảo sát Mức sống Hộ Gia
đình Việt Nam 2010 được dựa trên một mẫu
chủ mới trên cơ sở Tổng Điều tra Nhà ở và
Dân số năm 2009), bao gồm một tập hợp các
xã và địa bàn điều tra mới;(b) Bảng câu hỏi
điều tra trong Khảo sát Mức sống Hộ Gia đình
Việt Nam được sửa đổi đáng kể (kể cả mô-
đun chính về chi tiêu) và được rút ngắn về độ
dài; và (c) đã sử dụng một phương pháp luận
8
detail in Kozel, Hinsdale, and Nguyen (2013).
The VHLSS was Improved and Shortened in
2010.
2.14 Sampling. The 2002–08 rounds of the
VHLSS used a master sample of
communes/urban wards drawn from the 1999
Housing and Population Census. In each
round of the VHLSS, half of the enumeration
areas (villages) and households within the
communes were kept and half replaced, with

in the VHLSS—may be vulnerable and have
lower living standards than longer-term
residents. These issues will be explored more
systematically in the future; the 2012 VHLSS
includes a special module on migrants,
focusing in particular on long- and short-term
migration for work purposes.
được cập nhật để xây dựng các số liệu tổng
hợp về tiêu dùng (phúc lợi) toàn diện hơn.
Những cải tiến này được tóm tắt dưới đây và
mô tả chi tiết hơn trong báo cáo của Kozel,
Hinsdale và Nguyễn (2013).
Khảo sát mức sống dân cư đã được cải tiến và
rút ngắn trong năm 2010
2.14 Chọn mẫu. Các vòng Khảo sát mức
sống dân cư (KSMSDC) 2002-2008 sử dụng
một mẫu chủ gồm các xã/phường được rút ra
từ Tổng Điều tra Dân số và Nhà ở 1999. Tại
mỗi vòng Khảo sát mức sống, một nửa số địa
bàn điều tra (địa bàn TĐTDS 1999) và hộ gia
đình trong các xã được giữ nguyên và một nửa
được thay thế nhằm mục đích đảm bảo tính ổn
định trong đánh giá nghèo đói. Trong khi tốt
cho tính ổn định trong đo lường, mẫu chủ cho
giai đoạn 2002-2008 lại trở nên rất lỗi thời
vào cuối thời kỳ này. Ví dụ, trong giai đoạn từ
2002 đến 2008 có sự phát triển nhà ở đáng kể
ở những khu vực trước đây không có ai ở (ví
dụ, ‘Khu đô thị mới’ ở ngoại thành Hà Nội) và
sự tăng trưởng nhà ở ở các thành phố và thị tứ

2.16 The sample of households for the 2012
VHLSS will be drawn from the same
communes as the
2010 VHLSS, similar to the design of the
2002–08 sample. For 2014 and subsequent
years, GSO is strongly advised to (a) update
the master sample through careful relisting of
enumeration areas on a regular basis, and (b)
add new communes to the VHLSS master
sample over time, with particular attention to
good coverage in peri-urban areas where new
population growth is occurring. GSO is also
encouraged to explore alternative approaches
to improve coverage of urban migrants,
through either a more comprehensive
sampling methodology or in-depth surveys of
migrant populations.
2.17 Questionnaire Design. The VHLSS has
been criticized by some researchers for taking
too long to administer in the field, with related
concerns about data quality and accuracy. In
response to these criticisms, many sections of
the 2010 questionnaire were shortened. The
consumption modules were redesigned to
collect information on food and frequent
nonfood spending using a fixed reference
period (30 days) rather than a “typical month”
(used in 2002–2008), and a decision was
made to administer the VHLSS in four rounds
during each survey year. Questions designed

nhằm cải thiện độ bao phủ đối với nhóm dân
di cư ở thành thị, thông qua một phương pháp
luận chọn mẫu toàn diện hơn hoặc điều tra sâu
về các nhóm dân số di cư.
2.17 Thiết kế Bảng câu hỏi điều tra. Khảo
sát mức sống bị nhiều nhà nghiên cứu phê
phán là mất quá nhiều thời gian để thực hiện
trên thực địa với những quan ngại về chất
lượng và tính chính xác của số liệu. Để đáp
lại, nhiều mục trong bảng câu hỏi điều tra năm
2010 đã được cắt ngắn. Mô-đun tiêu dùng
được thiết kế lại để thu thập thông tin về chi
tiêu cho lương thực, thực phẩm và các mặt
hàng phi lương thực, thực phẩm tiêu dùng
thường xuyên với khoảng thời gian tham
chiếu cố định (30 ngày) thay vì một ‘tháng
điển hình’ (như sử dụng trong giai đoạn từ
2002 - 2008), và đã có quyết định thực hiện
Khảo sát mức sống bốn kỳ trong mỗi năm
điều tra.12 Các câu hỏi được thiết kế để thu
thập thông tin về thu nhập từ lao động cũng sử
dụng thời kỳ tham chiếu cố định (tháng trước
đó) thay vì dựa trên các hoạt động công việc
‘điển hình’. Các câu hỏi được bổ sung thêm
để phản ánh một loạt các chương trình bảo
hiểm xã hội và trợ giúp xã hội của Việt Nam
cũng như phản ánh tốt hơn thước đo về tiền
chuyển về gia đình và tiền trợ cấp. Mô-đun về
tiếp cận các chương trình giảm nghèo cũng
được cải tiến, bao gồm cả nội dung về xác

countries use different welfare aggregates for
measuring poverty; some countries use
income, others use household expenditures.
Within countries using household
expenditures, there are substantial differences
in expenditure aggregates. For example,
although many countries include health or
education expenditures in the expenditure
aggregate, an increasing number of low-
income countries in Sub- Saharan Africa do
not. If basic health services and primary
education services are provided free of charge,
they are not captured in household
expenditures, however defined, unless
imputations are made to value the flow of
publically provided services. Instead of trying
to value these—which is complicated and
controversial—additional analysis can be
carried out to measure deprivations in human
development, as a complement to income- or
expenditure-based measures of deprivation.
Many countries, particularly as they become
more affluent, include the (imputed) value of
durables, housing services, and local
amenities in the expenditure aggregate. While
broad concepts may be similar—welfare is
tính toàn diện hơn đã được xây dựng
2.18 Bước đầu tiên trong ước tính chuẩn
nghèo là xây dựng một chỉ tiêu tổng hợp về
phúc lợi. Các chỉ tiêu chi tiêu dùng được xây

dục vào tổng chi tiêu nhưng ngày càng có
nhiều quốc gia thu nhập thấp ở vùng cận sa
mạc Sahara ở Châu Phi không làm như vậy.
Nếu dịch vụ y tế cơ bản và dịch vụ giáo dục
tiểu học được cung cấp miễn phí thì nó không
được tính vào chi tiêu hộ gia đình cho dù nó
được định nghĩa như thế nào, trừ khi người ta
có sử dụng quy đổi để định giá trị dòng dịch
vụ được nhà nước cung cấp. Thay vì cố gắng
xác định các giá trị này - vốn phức tạp và gây
tranh cãi - thì phân tích bổ sung có thể được
thực hiện nhằm đo lường mức độ thiếu hụt
trong phát triển con người để bổ sung cho
thước đo sự thiếu hụt dựa trên thu nhập hoặc
chi tiêu. Nhiều quốc gia, nhất là khi họ trở nên
giàu có hơn, đưa cả giá trị (quy đổi) đồ dùng
lâu bền, dịch vụ nhà ở và dịch vụ tiện ích ở
địa phương vào tổng chi tiêu. Mặc dù các khái
11
measured through a household-level
expenditure aggregate—the great diversity in
actual practice makes it difficult to compare
national poverty lines and poverty rates across
countries, even when converted into
“internationally” comparable 2005 Purchasing
Power Parity (PPP) measures. One reason
India’s national poverty line is low in PPP
terms is because it is based on a very
parsimonious welfare aggregate (box 2.1).
2.20 Two different sets of consumption

reference food basket from the 1992–93
VLSS and related spending on a minimum
basket of nonfood items, also based on
spending patterns of the poor as reported in
the 1992–93 VLSS.
niệm chung có thể tương tự nhau - phúc lợi
được đo lường thông qua tổng chi tiêu cấp hộ
gia đình - nhưng sự đa dạng trong thực tế
khiến người ta khó so sánh chuẩn nghèo quốc
gia và tỉ lệ nghèo giữa các quốc gia, ngay cả
khi đã được chuyển đổi thành thước đo theo
sức mua tương đương năm 2005 để có thể so
sánh “trên bình diện quốc tế”. Một lý do tại
sao chuẩn nghèo của Ấn Độ lại thấp xét theo
sức mua tương đương (PPP) là bởi vì nó được
dựa trên một chỉ tiêu tổng hợp về phúc lợi rất
chi li (Hộp 2.1).
2.20 Hai tập hợp các chỉ tiêu tổng hợp về
tiêu dùng khác nhau đã được sử dụng cho
phân tích nghèo ở Việt Nam. Một tập hợp
(được gọi là ‘có thể so sánh về mặt thời gian’)
được thiết kế, và như tên gọi của nó cho thấy,
có thể so sánh một cách chặt chẽ với các chỉ
tiêu tổng hợp được xây dựng ban đầu trên cơ
sở sử dụng Khảo sát Mức sống Dân cư Việt
Nam 1992-93. Ví dụ, mặc dù các đồ dùng lâu
bền mới được bổ sung vào các vòng sau của
Khảo sát mức sống (chẳng hạn như điện thoại
di động, máy tính) nhưng chỉ có những mặt
hàng có trong Khảo sát Mức sống Dân cư Việt

including expenditures of low-income
households, are far more diversified. Real
estate markets are more developed,
particularly in urban areas, and many
households put considerable investment into
housing and land. Vietnam is similar to other
fast-growing economies in this respect.
Housing values reported in recent rounds of
the VHLSS are more reliable than those
collected in earlier rounds.
2.23 A second set of “comprehensive”
consumption aggregates was created for the
2004, 2006, 2008, and 2010 rounds of the
VHLSS, which aimed to make optimal use of
all the expenditure information in a given
year, unencumbered by considerations of strict
comparability over time. There are a number
of minor and major differences between
comparable and comprehensive aggregates
(see Annex 2.1 for a detailed description). The
comprehensive aggregate includes the
imputed value for all durables owned by the
household and an imputed flow of services
from housing. The latter is a particularly
important addition (box 2.3).
2.24 Tables 2.1 and 2.2 present comparable
and comprehensive consumption aggregates
for the last four rounds of the VHLSS.12 By
2010, it was clear that the benefits of
maintaining procedural consistency with 1993

các vòng điều tra trước đó.
2.23 Một tập hợp thứ hai các chỉ tiêu tổng
hợp về tiêu dùng “toàn diện” được thiết lập
cho các vòngKhảo sát mức sống 2004, 2006,
2008, 2010 nhằm mục đích sử dụng tối ưu tất
cả các thông tin về chi tiêu trong một năm
nhất định, không bị trở ngại bởi những cân
nhắc về khả năng so sánh chặt chẽ theo thời
gian. Có một số khác biệt nhỏ và lớn giữa các
chỉ tiêu tổng hợp có thể so sánh được và chỉ
tiêu tổng hợp “toàn diện” (xem Phụ lục 2.1 để
biết thêm chi tiết). Các chỉ tiêu tổng hợp“toàn
diện” bao gồm giá trị quy đổi của tất cả đồ
dùng lâu bền do hộ sở hữu và dòng quy đổi
của các dịch vụ từ nhà ở. Dòng quy đổi của
các dịch vụ từ nhà ở là một bổ sung đặc biệt
quan trọng (Hộp 2.3)
2.24 Bảng 2.1 và 2.2 trình bày các chỉ tiêu
tổng hợp tiêu dùng có thể so sánh được và
toàn diện cho bốn vòng Khảo sát mức sống
gần đây.13 Đến năm 2010, rõ ràng là lợi ích
của việc duy trì sự nhất quán với các chỉ tiêu
tổng hợp về tiêu dùng 1993 đã trở nên kém
quan trọng hơn nhiều so với vấn đề mất thông
tin do việc duy trì sự nhất quán đó gây ra: có
khoảng cách lớn và ngày càng gia tăng giữa
các chỉ tiêu tổng hợp “có thể so sánh được
theo thời gian” và chỉ tiêu tổng hợp “toàn
diện” qua các thời kỳ. Trong tương lai, chúng
tôi khuyến nghị rằng phương pháp luận để

những thay đổi về điều kiện kinh tế kể
từ khi cuộc Khảo sát Mức sống Dân
cư Việt Nam đầu tiên được thực hiện
vào năm 1993.
Cấu trúc bị động: Chủ ngữ + động từ
tobe + động từ thì hoàn thành…
2 the first Vietnam Living Standards Survey cuộc Khảo sát Mức sống Dân cư Việt
Nam đầu tiên
3 New, comprehensive consumption aggregates Các số liệu tổng hợp mới và toàn diện
về tiêu dùng
4
The GSO-WB poverty line Chuẩn nghèo của Tổng cục Thống kê
– Ngân hàng Thế giới
5 a national poverty rate tỉ lệ nghèo quốc gia
a robust system một hệ thống tốt
6
a long-running system of nationally
representative, comparable Vietnam
Household Living Standards Surveys
(VHLSS)
một hệ thống dài hạn các cuộc Khảo
sát Mức sống Dân cư (KSMSDC) đại
diện cho toàn quốc và đảm bảo khả
năng so sánh
7 consistent estimates of household welfare các ước lượng nhất quán về phúc lợi
hộ gia đình
8 the mid-1990s giữa thập kỷ 1990
9
the General Statistics Office (GSO), the
World Bank (WB)

the consumption patterns of poor households
today are substantially different from those of
the 1990s.
substantially different from…
mô hình tiêu dùng của các hộ nghèo
ngày nay khác biệt về căn bản so với
những năm 90.
khác biệt về căn bản so với…
16 spatial cost-of-living differences sự khác biệt về giá sinh hoạt theo
15
vùng lãnh thổ
17 ethnic minority households hộ dân tộc thiểu số
18 “subjective” poverty lines chuẩn nghèo “chủ quan”
19
Poverty estimates based on the subjective
poverty line are very similar to those using
the updated GSO-WB poverty line.
…are very similar to…
Các ước lượng về nghèo đói
theochuẩn nghèo chủ quan rất giống
với các ước lượng về nghèo đói theo
chuẩn nghèo mới của TCTK – NHTG
…rất giống với…
20 Both expenditures and incomes.
…both…and…
Cả chi tiêu và thu nhập
…cả…và…
21 unacceptable deprivation in well-being sự thiếu thốn không thể chấp nhận
được trong đời sống
22 a multitude of dimensions vô số khía cạnh

Nó phản ánh những gì mà Việt Nam
cần mong muốn đạt được.
…mong muốn, khao khát …
30 Multiple Dimensions of Poverty Nghèo Đa chiều
31 This chapter focuses primarily on
conventional approaches, based on absolute
poverty lines and consumption measures of
welfare.
…focuses primarily on…
Chương này tập trung trước hết vào
cách tiếp cận truyền thống dựa trên
các chuẩn nghèo tuyệt đối và thước đo
tiêu dùng của phúc lợi.
…tập trung trước hết vào…
32 policy makers các nhà hoạch định chính sách
33 better-quality chất lượng tốt hơn
34 Poor households that live in areas with low-
quality schools but cannot afford to pay more
may be at an additional disadvantage not
captured in standard poverty analysis.
cannot afford to…
Những hộ nghèo sống ở nơi có trường
học chất lượng thấp nhưng không có
tiền để chi trả thêm thì có thể phải đối
mặt với những bất lợi khác nữa mà
phân tích nghèo tiêu chuẩn không nắm
bắt được.
không có đủ khả năng để…
35 in terms of… về…
36 A variety of economic and social factors— Rất nhiều các nhân tố kinh tế và xã

Việt Nam thực hiện hai cuộc Khảo sát
mức sống trong những năm 90 – Khảo
sát Mức sống 1992-93 và 1997-98 -
với sự hỗ trợ kỹ thuật to lớn từ các đối
tác quốc tế.
Thực hiện…
Sự hỗ trợ từ…
49 But by 2010… Tuy nhiên đến năm 2010
50 …drawn from… …được rút ra từ…
51 half of the enumeration areas (villages) một nửa số địa bàn điều tra
52 on the outskirts of Hanoi ở ngoại thành Hà Nội
53 A recent study of poverty in Hanoi and Ho
Chi Minh City (Haughton et al. 2010)
indicates that many unregistered short-term
urban migrants—who are likely to be
undersampled in the VHLSS—may be
vulnerable and have lower living standards
than longer-term residents.
…are likely to…
Một nghiên cứu gần đây về nghèo đói
ở Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh
(Haughton và các tác giả khác, 2010)
đã cho thấy rằng nhiều người di cư
thành thị trong ngắn hạn không có
đăng ký hộ khẩu -là những người có
thể được chọn thiếu vào mẫu của
Khảo sát Mức sống Dân cư Việt Nam
- có thể dễ bị tổn thương và có mức
sống thấp hơn những người cư trú dài
hạn

57 Purchasing Power Parity (PPP) sức mua tương đương (PPP)
58 fast-growing economies Các nền kinh tế tăng trưởng nhanh
59 an imputed flow Dòng qui đổi
2. Detail analysis of technical translation
2.1 Chọn từ phù hợp với văn phong và phong cách của ngôn ngữ mục tiêu
Khi dịch một từ từ ngôn ngữ gốc sang ngôn ngữ đích có một số từ đồng nghĩa có thể
thể hiện được nghĩa đó thì người dịch nên chọn từ nào sát với văn phong của ngôn ngữ
đích nhất
Ví dụ:
17 ethnic minority households hộ dân tộc thiểu số
37 Conventional poverty measures Các thước đo nghèo truyền thống
2.2 Dịch tên riêng
 Tên riêng (người, vật, sự kiện…) có đặc thù rất riêng. Nó không có thuộc tính thống
nhất. Về góc độ dịch thuật tên riêng là yếu tố “không thể dịch được” và “không nên
dịch”
 Chấp nhận những tên đã dịch và đã quen thuộc.
Ví dụ:
9 the General Statistics Office (GSO), the
World Bank (WB)
Tổng cục Thống kê, Ngân hàng thế
giới
38 The Human Development Index (HDI) Chỉ số Phát triển Con người (HDI)
2.3 Viết tắt
 Viết tắt tên riêng
Ví dụ: WB, HDI, GSO…Người dịch nên giữ nguyên tên viết tắt này và mở ngoặc
tên dịch của tổ chức đó (như đã list ở phần trên)
 Từ viết tắt về một hoạt động, một sự kiện thông dụng trong mội cộng đồng có liên
quan. Trong bản dịch này các từ loại được giữ nguyên vì văn bản dùng cho giới
chuyên môn đọc (lĩnh vực kinh tế và xã hội)
Ví dụ: Vietnam Household Living Standards Survey (VHLSS) - Khảo sát Mức sống

nghĩa định danh nếu chưa có từ chỉ khái niệm đó, hoặc về sắc thái nếu có một từ chỉ
khái niệm ấy nhưng cần thêm một từ mới với sắc thái mới.
 Những từ mượn để bổ sung cho vốn từ vựng thường không gây khó khăn cho người
dịch. Nhưng điều quan tâm nhất là những từ mượn chỉ “được mượn” một nghĩa,
nhiều khi là nghĩa ít thông dụng chứ không mượn tất cả các nghĩa của từ đó trong
ngôn ngữ gốc.
Ví dụ:
The consumption modules were redesigned to collect information on food and
frequent nonfood spending using a fixed reference period (30 days) rather than a
“typical month” (used in 2002–2008), and a decision was made to administer the
VHLSS in four rounds during each survey year.
Mô-đun tiêu dùng được thiết kế lại để thu thập thông tin về chi tiêu cho lương thực,
thực phẩm và các mặt hàng phi lương thực, thực phẩm tiêu dùng thường xuyên với
khoảng thời gian tham chiếu cố định (30 ngày) thay vì một ‘tháng điển hình’ (như
sử dụng trong giai đoạn từ 2002 - 2008), và đã có quyết định thực hiện Khảo sát
mức sống bốn kỳ trong mỗi năm điều tra.
PHẦN BA: TRẢI NGHIỆM THỰC TẬP
Studying English is really interesting, but there are so many obstacles which all learner
have to face to improve skills. Translation perhaps is the most difficult skill. Even, I have
19
a various vocabulary can not also transtate fluently. Consequently, it is not easy for me to
translate a special document. These are difficulties:
 I don’t have expricence and knowledge about technical translation. I only
translation according to anything I accumulated during studying English. Still lack
of theoretical basis translation
 This is the economic and social document and a report of World Bank. Therefore,
how to translate original document into target document is very difficult. There are
a lot of words, phrases which I can not translate approaching to real context of
document. Especially, terms were translated into Vietnamese that it is difficult to
image.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status