MỤC LỤC
Đề tài tập trung vào nghiên cứu những vấn đề sau: 2
1.1.Khái niệm và đặc điểm của nguồn vốn và dự án hỗ trợ phát triển chính thức 4
1.1.1.Khái niệm về ODA 4
2.1.1. Vai trò của nguồn vốn ODA đối với ngành giáo dục ở Việt Nam 25
2.1.2.3. Các nhà tài trợ ODA trong ngành giáo dục 29
Các nhà tài trợ song phương 29
2.2.2.1. Mục tiêu và phạm vi của dự án Giáo dục Đại học 2006-2012 34
2.2.2.2. Tổ chức thực hiện 35
Ban Quản lý Dự án cấp Trung ương (PMU) 36
Được thiết kế theo chức năng gồm các Bộ phận sau: 36
Ban Quản lý Dự án cấp Trường (TMU) 37
2.2.3.1. Kết quả Tiểu thành phần 1.1 – Quản trị đại học 37
2.2.3.2. Kết quả Tiểu thành phần 1.2 - Chính sách tài chính GDĐH 38
- Tư vấn quốc tế và nhóm tư vấn trong nước thực hiện nghiên cứu đề xuất
chính sách về phân bổ ngân sách nhà nước cho các trường ĐH Việt Nam 38
- Tư vấn quốc tế và nhóm tư vấn trong nước thực hiện nghiên cứu đề xuất
chính sách xác định chi phí đào tạo một sinh viên đại học Việt Nam 38
- Đã hoàn thành nghiên cứu về hiện trạng quản lý tài chính trường đại học 38
2.2.3.3. Kết quả Tiểu thành phần 1.3 - Chính sách ðảm bảo chất lượng GDÐH
38
2.2.3.4. Kết quả Hỗ trợ kỹ thuật Chương trình chính sách phát triển GDĐH
(HEDPP) 39
2.2.4.Đánh giá tác động đối với ngành và vùng 42
2.3.1.1. Quy định về nguyên tắc vận động, tiếp nhận, quản lý và sử dụng nguồn ODA. 52
2.3.1.2. Quy định về vận động, đàm phán, kỹ kết điều ước quốc tế khung về
ODA 54
a) Vận động nguồn hỗ trợ nước ngoài 54
b) Xây dựng danh mục các chương trình, dự án yêu cầu tài trợ ODA 54
c) Đàm phán, ký kết điều ước quốc tế khung về ODA 56
c) Thẩm định chương trình, dự án ODA 57
phóng thành công của mỗi con người. Đối với xã hội, giáo dục đại học mở ra cánh
cửa cho sự hiểu biết của người học đối với các mức độ phức tạp của xã hội hiện đại,
và nó cho phép mỗi cá nhân đóng góp nhiều hơn vào sự giàu mạnh của cộng đồng
và dân tộc. Bời vậy giáo dục nói chung vào giáo dục đại học nói riêng là lĩnh vực
rất cần được cả xã hội quan tâm và đầu tư một cách hợp lý.
Đặc thù của giáo dục Việt Nam là hệ thống giáo dục Việt Nam phần lớn là
các trường công lập, học sinh và sinh viên học tại các trường công lập được nhà
nước tài trợ một phần. Nói cách khác, các trường đại học ở Việt Nam hiện nay phần
lớn vẫn hoạt động dựa trên nguồn ngân sách nhà nước phân bổ và hoạt động của các
trường công lập được coi là phi lợi nhuận. Bơi vậy, các trường gần như không có
khả năng tự đầu tư, nâng cao chất lượng cơ sở hạ tầng và trang thiết bị trường
học.Nguồn vối cần cho giáo dục đại học hiện nay là rất lớn, tất yếu cần huy động
nguồn đầu tư từ bên ngoài trong đó nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA)
là một kênh đầu tư quan trọng.Những năm gần đây, Việt Nam đã kêu gọi được một
lượng ODA nhất định từ nhiều tổ chức và quốc gia trên thế giới.Nhiều dự án ODA
đã được triển khai nhằm thúc đẩy hệ thống giáo dục đại học ở Việt Nam phát
triển.Quản lý, điều hành các dự án ODA để nguồn vốn ODA vào giáo dục Đại học
thực sự hiệu quả là thực sự cần thiết.
1
Lựa chọn đề tài “Tăng cường quản lý dự án hỗ trợ phát triển chính thức
trong giáo dục đại học của Bộ Giáo dục và Đào tạo” tác giả mong muốn nghiên
cứu và tìm hiểu rõ thực trạng quản lý và điều hành các dự án sử dụng nguồn vốn
ODA vào giáo dục đại học ở Việt Nam, thông qua đó đưa ra được những kiến nghị
đề xuất nhằm tăng cường khả năng quản lý nguồn vốn này, góp phần thúc đẩy sự
phát triển giáo dục Đại học ở Việt Nam.
2. Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu
2.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là thực trạng quản lý các dự án sử dụng
nguồn vối ODA trong giáo dục đại học của Bộ Giáo dục và Đào tạo Việt Nam.
2.2. Phạm vi nghiên cứu
Chương 2: Thực trạng tăng cường quản lý dự án hỗ trợ phát triển chính
thức trong giáo dục Đại học của Bộ Giáo dục và Đào tạo
Chương 3: Giải pháp tăng cường quản lý dự án hỗ trợ phát triển chính
thức trong giáo dục Đại học của Bộ Giáo dục và Đào tạo
3
CHƯƠNG 1
NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ QUẢN LÝ DỰ ÁN HỖ TRỢ
PHÁT TRIỂN CHÍNH THỨC
1.1. Khái niệm và đặc điểm của nguồn vốn và dự án hỗ trợ phát triển
chính thức
Từ sau đại chiến thế giới thứ II kết thúc, các nước công nghiệp phát triển đã
thoả thuận về sự trợ giúp dưới dạng viện trợ không hoàn lại hoặc cho vay với điều
kiện ưu đãi cho các nước đang phát triển. Tổ chức tài chính quốc tế WB (Ngân hàng
thế giới) đã được thành lập tại hội nghị về tài chính- tiền tệ tổ chức tháng 7 năm
1944 tại BrettonWoods (Mỹ) với mục tiêu thúc đẩy phát triển kinh tế và tăng trưởng
phúc lợi của các nước và hoạt động như một tổ chức trung gian về tài chính, một
ngân hàng thực sự với hoạt động chủ yếu là đi vay theo các điều kiện thương mại
bằng cách phát hành trái phiếu để cho vay tài trợ đầu tư tại các nước.
Tiếp đó một sự kiện quan trọng đã diễn ra đó là tháng 12 năm 1960 tại Pari
các nước đã ký thoả thuận thành lập tổ chức hợp tác kinh tế và phát triển (OECD).
Tổ chức này bao gồm 20 thành viên ban đầu đã đóng góp phần quan trọng nhất
trong việc dung cấp ODA song phương cũng như đa phương. Trong khuôn khổ hợp
tác phát triển, các nước OECD đã lập ra các uỷ ban chuyên môn trong đó có uỷ ban
hỗ trợ phát triển (DAC) nhằm giúp các nước đang phát triển phát triển kinh tế và
nâng cao hiệu quả đầu tư.
Đến nay, ODA đã trở thành một hình thức đầu tư phổ biến trên thế giới, với
rất nhiều hình thức tài trợ khác nhau và được coi là đòn bẩy để phát triển kinh tế của
nhiều nước đang phát triển.
1.1.1. Khái niệm về ODA
Cùng với sự hội nhập, nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức (hay ODA, viết
5
1.1.2. Khái niệm và đặc điểm dự án ODA
1.1.2.1. Khái niệm dự án ODA
“Dự án vốn ODA” gọi tắt là “dự án ODA”: là loại hình dự án sử dụng
nguồn vối ODA, thuộc khuôn khổ hoạt động hợp tác giữa quốc gia tiếp nhận ODA
và các nhà tài trợ.
Cũng như các dự án nói chung, dự án ODA cũng gồm hai loại : Dự án đầu tư
và dự án hỗ trợ kỹ thuật.
Dự án đầu tư: là dự án tạo mới ,mở rộng hoặc cải tạo những cơ sở vật chất
nhất định ,nhằm đạt mục tiêu về tăng trưởng số lượng hoặc duy trì, cải tiến, nâng
cao về chất lượng sản phẩm hoặc dịch vụ trên một địa bàn nhất định trong một
khoảng thời gian nhất định.
Dự án hỗ trợ kỹ thuật: là dự án có mục tiêu hỗ trợ phát triển năng lực và thể
chế hoặc cung cấp các yếu tố đầu vào kỹ thuật để chuẩn bị thực hiện các chương
trình thực hiện dự án thông qua hoạt động cung cấp chuyên gia , đào tạo hỗ trợ thiết
bị ,tư liệu và tài liệu , hội thảo tham quan khảo sát.
1.2.2.2. Những đặc điểm của dự án vốn ODA
a) Dự án ODA có những đặc điểm chung của dự án đó là:
Có mục tiêu: dự án ODA là tổng hợp các hoạt động nhằm đạt được mục tiêu
xác định. Các mục tiêu của dự án cần được xác lập nhằm đảm bảo nguyên tắc cụ
thể, đo lường được, khả thi, cân đồi về nguồn lực, đảm bảo chất lượng.
Tính tạm thời: Tính tạm thời có nghĩa là các dự án ODA có khởi điểm và kết
thúc xác định. Dự án không phải là loại công việc hàng ngày, thường tiếp diễn, lặp
đi lặp lại theo quy trình có sẵn. Dự án có thể thực hiện trong một thời gian ngắn
hoặc có thể kéo dài trong nhiều năm.Về mặt nhân sự, dự án không có nhân công cố
định, họ chỉ gắn bó với dự án trong một khoảng thời gian nhất định (một phần hoặc
toàn bộ thời gian thực hiện dự án).Khi dự án kết thúc, các cán bộ dự án có thể phải
chuyển sang/tìm kiếm một công việc/hợp đồng mới.
6
Tính duy nhất: Mặc dù có thể có những mục đích tương tự, nhưng mỗi dự án
quy trình kỹ thuật của việc biến thức ăn gia súc.
Đây là cơ sở của việc thiết kế các phân xưởng chế biến để xác định được các
đặc điểm phục phụ cho thiết kế kỹ thuật của mỗi phân xưởng. Tiếp đó, các bản vẽ
chi tiết sẽ được tiến hành, thông qua, làm cơ sở cho việc thực hiện, kiểm soát quá
trình xây dựng nhà máy. Sản phẩm sẽ được thông qua trên cơ sở các bản thiết kế và
những điều chỉnh khi vận hành thử.
b) Bên cạnh những ðặc ðiểm chung, dự án ODA có những ðặc
ðiểm riêng có:
Có nguồn vốn từ các tổ chức chính phủ: Toàn bộ hoặc một phần nguồn vốn
thực hiện dự án ODA là do các tổ chức/chính phủ nước ngoài, các tổ chức song
phương tài trợ. Cơ chế tài chính trong nước đối với việc sử dụng ODA là cấp phát,
cho vay (toàn bộ/một phần) từ ngân sách Nhà nước.Các dự án ODA thường có vốn
đối ứng là khoản đóng góp của phía Việt Nam bằng hiện vật và giá trị để chuẩn bị
và thực hiện các chương trình, dự án (có thể dưới dạng tiền đuợc cấp từ ngân sách
hoặc nhân lực, cơ sở vật chất). Nguồn vốn là điểm khác biệt lớn nhất giữa dự án
ODA với với các dự án khác; kèm theo nó là các yêu cầu, quy định, cơ sở pháp lý về
quản lý và thực hiện của nhà đầu tư và nhà tài trợ.
Có sự khác nhau giữa người cấp vốn và người sử dụng vốn: Vì vậy, việc
quản lý dự án ODA dễ nảy sinh những tiêu cực như tham nhũng, lãng phí, gây ảnh
hưởng xấu đến hiệu quả dự án. Do đó cần phải có một cơ chế quản lí minh bạch,
đồng bộ, kiểm tra giám sát chặt chẽ đối với các dự án ODA để có thể sử dụng một
cách hiệu quả nguồn vốn này.
Thường ưu tiên cho các mục tiêu phát triển kinh tế, xã hội theo chính sách và
chiến lược vĩ mô của nhà nước, hoặc mục tiêu hoạt động của các nhà tài trợ, không
sử dụng trực tiếp cho lĩnh vực kinh doanh nhằm mục đích sinh lợi. Ở Việt Nam, các
8
dự án ODA tập trung vào những lĩnh vực sau:
- Xóa đói giảm nghèo, trước hết tại các vùng nông thôn, vùng sâu, vùng xa;
- Y tế, dân số và phát triển;
- Giao thông vận tải, thông tin liên lạc;
dụng vốn ODA.
Hoặc có thể hiểu: Quản lý nhà nước về vốn ODA là quá trình Nhà nước lập
kế hoạch, tổ chức, lãnh đạo, kiểm tra việc thu hút và sử dụng ODA nhằm đạt được
các mục tiêu của nhà nước đặt ra với kết quả và hiệu quả cao trong điều kiện phát
triển của đất nước [46].
1.2.2. Tầm quan trọng của quản lý nhà nước về ODA
- Nhằm thống nhất ý chí, quan điểm, giữa các bên có liên quan trong quá
trình thu hút và sử dụng vốn ODA. Bao gồm: các cơ quan quản lý nhà nước về vốn
ODA, các nhà tài trợ (đa phương và song phương), các ban quản lý dự án. Thực tế
đã chỉ rõ, khi nào đạt được sự thống nhất trong mối quan hệ đa dạng về vốn ODA
thì mới thu được hiệu quả cao (kể cả tỷ lệ giải ngân các nguồn vốn cam kết) trong
sử dụng vốn ODA.
- Định hướng thu hút và sử dụng vốn ODA trên cơ sở xác định mục tiêu
chung, mục tiêu bộ phận và hướng mọi nỗ lực của các bên có liên quan vào thực
hiện các mục tiêu đó.
- Tổ chức, điều hòa, phối hợp và hướng dẫn hoạt động của các cơ quan
quản lý nhà nước có liên quan, các nhà tài trợ, các ban quản lý dự án, làm giảm bớt
sự bất đồng và bất định trong quá trình sử dụng vốn ODA.
10
- Tạo ra động lực cho các bên có liên quan đến ODA bằng các kích thích,
đánh giá, khen thưởng những nhân tố có thành tích, đồng thời điều chỉnh những lệch
lạc, sai sót của các bên trong quá trình sử dụng vốn ODA.
- Quản lý nhà nước về ODA nhằm nâng cao hiệu quả thu hút và sử dụng
nguồn vốn ODA.
Vốn ODA là một nguồn vốn có ý nghĩa quan trọng đối với các nước tiếp
nhận trong giai đoạn hiện nay.Tuy nhiên, nguồn vốn này cũng dễ sử dụng không
hiệu quả gây gánh nặng nợ nần cho đất nước nếu như không có sự quản lý nhà nước
chặt chẽ. Nguyên nhân do:
Thứ nhất, thực chất giá trị thực tế của vốn ODA thấp hơn giá trị danh nghĩa
của nó [49], [51].
khoảng thời gian sử dụng vốn do các yếu tố như: lạm phát ở nước tiếp nhận cao hơn
ở các nước phát triển và nước tài trợ (tính ổn định của nền kinh tế nước tiếp nhận
kém hơn) tình trạng thâm hụt cán cân thương mại luôn thường trực, không có sự cải
thiện nhiều về tài khoản vốn nên nhu cầu về ngoại tệ mạnh lớn hơn cung về ngoại
tệ. Vì thế, khoản vốn ODA phải hoàn trả theo đồng nội tệ ngày càng tăng lên.
+ Những chi phí gián tiếp phải trả cho các khoản vốn ODA [36].
Nước tiếp nhận khi tiếp nhận vốn ODA Ýt nhiều phải chấp nhận các ràng
buộc về mặt kinh tế và chính trị.
Về kinh tế, nước tiếp nhận phải chấp nhận dỡ bỏ dần hàng rào thuế quan
bảo hộ các ngành công nghiệp non trẻ và bảng thuế xuất nhập khẩu hàng hóa của
các nước tài trợ, ví như Việt Nam mở cửa hơn đối với mặt hàng ô tô của Nhật
Bản và Mỹ vào năm 2006; thực hiện cam kết hiệp định thuế quan vào 2003 với
các nước ASEAN.
12
Từng bước mở cửa thị trường bảo hộ cho những danh mục hàng hóa mới
của nhà tài trợ chiếm lĩnh thị trường nội địa, ảnh hưởng trực tiếp đến sức cạnh tranh
của hàng hóa nước tiếp nhận ở thị trường nội địa.
Có những ưu đãi đối với các nhà đầu tư trực tiếp nước ngoài như cho phép
họ đầu tư vào những lĩnh vực hạn chế, có khả năng sinh lợi cao, giá thuê mặt bằng
sản xuất và các dịch vụ rẻ cũng như có được đơn đặt hàng của chính phủ. Ví như
Việt Nam cho phép các nhà đầu tư vào ngành viễn thông, thực hiện một loại giá
trên cả nước (không có sự phân biệt giá giữa người Việt Nam và người nước ngoài).
Chính những ràng buộc này đã làm ngân sách Nhà nước mất đi một khoản
tiền thu từ thuế nhập khẩu, thuế đối với các doanh nghiệp trong nước do hàng hóa
của doanh nghiệp này bị mất chỗ đứng trên thị trường. Thuế thu nhập cá nhân và
những khoản lương của những công nhân bị thất nghiệp do tác động của việc phải
mở cửa thị trường.
Như vậy, nếu không quản lý chặt việc thu hút, đàm phán với nhà tài trợ thì giá
trị thực tế của vốn ODA thấp hơn nhiều so với giá trị danh nghĩa hay lãi suất vốn ODA
mà nước tiếp nhận phải trả tiền sát với lãi suất thị trường tài chính quốc tế.
Thực tế đã khẳng định, việc tiếp nhận vốn ODA là con giao hai lưỡi. Nếu nước tiếp
nhận vốn ODA tổ chức quản lý và sử dụng tốt nguồn vốn này, khai thác triệt để
những ưu điểm của nó và hạn chế những bất lợi có thể xảy ra thì vốn ODA là một
nguồn ngoại lực quan trọng góp phần vào quá trình tăng trưởng nhanh của nền kinh
tế. Ví dụ như trường hợp thành công của Nhật Bản vào giai đoạn 1950-1960, Hàn
Quốc vào giai đoạn 1960-1970 cũng một phần đáng kể là nhờ vào việc sử dụng tốt
những nguồn viện trợ phát triển dưới dạng ODA.
Ngược lại, nếu quản lý và sử dụng không hiệu quả thì vốn ODA trở thành
gánh nặng nợ nần cho đất nước trong tương lai. Tuy nhiên, xu thế trên thế giới hiện
14
nay là các nước đang và chậm phát triÓn luôn muốn thu hút các khoản vốn ODA và
đồng thời nghiên cứu và đưa ra các phương pháp quản lý nhà nước có hiệu quả để
khai thác thế mạnh của nguồn vốn này trong quá trình phát triển đất nước.
1.2.3. Nội dung quản lý nhà nước về vốn ODA
Nội dung quản lý nhà nước về vốn ODA được cụ thể hóa thành nội dung
của các chức năng quản lý nhà nước về vốn ODA. Trong đó:
Chức năng quản lý nhà nước về vốn ODA chính là tập hợp công việc,
nhiệm vụ mang tính chất cùng loại mà các cơ quan quản lý nhà nước về ODA phải
thực hiện trong quá trình thu hút, sử dụng vốn ODA nhằm đạt được những mục tiêu
đặt ra.
Theo giai đoạn tác động thì nội dung quản lý nhà nước về thu hút và sử
dụng vốn ODA bao gồm:
1.2.3.1. Định hướng thu hút, sử dụng vốn ODA
Định hướng thu hút, sử dụng vốn ODA là Nhà nước đi quyết định trướcnhững
nhiệm vụ, những mục tiêu và các giải pháp trong quá trình thu hút và sửdụng vốn ODA
trong khoảng thời gian dài thường là 5 năm, 10 năm hay lâu hơn.
Định hướng thu hút và sử dụng vốn ODA được Nhà nước thực hiện thông
qua các hình thức chủ yếu sau:
- Xây dựng chiến lược thu hút và sử dụng vốn ODA.
Xây dựng chiến lược thu hút và sử dụng vốn ODA là Nhà nước xây dựng
16
Về bản chất xây dựng quy hoạch thu hút và sử dụng vốn ODA là cụ thể hóa
chiến lược thu hút và sử dụng vốn ODA về không gian (theo vùng kinh tế và theo
ngành kinh tế) và thời gian (theo từng giai đoạn nhất định).
- Xây dựng kế hoạch thu hút và sử dụng vốn ODA.
- Xây dựng chính sách thu hút và sử dụng vốn ODA.
- Xây dựng các chương trình, dự án thu hút và sử dụng vốn ODA.
Chương trình thu hút và sử dụng vốn ODA là tổ hợp các mục tiêu, các thủ
tục, các nguyên tắc, các nhiệm vụ, các bước tiến hành, các yếu tố cần thiết khác để
thu hút và sử dụng vốn ODA có hiệu quả theo những mục tiêu đặt ra trong một thời
kỳ nhất định, thường từ 1 năm đến 5 năm.
Chương trình thu hút và sử dụng vốn ODA là một bộ phận của kế hoạch hay
một phương thức vận hành của kế hoạch thu hút và sử dụng vốn ODA. Chương
trình đảm bảo phối hợp một cách đồng bộ các biện pháp thu hút và sử dụng vốn
ODA liên quan trong việc thực hiện mục tiêu (cho một ngành hay đa ngành, cho
một vùng hay đa vùng) theo những tiến độ chặt chẽ và thống nhất.
Dự án thu hút và sử dụng vốn ODA, về hình thức là một tập hồ sơ tài liệu
trình bày một cách chi tiết và hệ thống các hoạt động trong thu hút và sử dụng vốn
ODA sẽ được thực hiện, với các nguồn lực và chi phí, được bố trí theo một kế
hoạch chặt chẽ nhằm đạt được những kết quả cụ thể để thực hiện những mục tiêu
kinh tế - xã hội nhất định.
Dự án thu hút và sử dụng vốn ODA, về nội dung là tổng thể các hoạt động
dự kiến trong thu hút và sử dụng vốn ODA với các nguồn lực và chi phí cần thiết,
được bố trí theo một kế hoạch chặt chẽ với lịch thời gian và địa điểm xác định để
tạo mới, mở rộng hoặc cải tạo những đối tượng nhất định nhằm thực hiện những
mục tiêu kinh tế - xã hội nhất định.
1.2.3.2. Tổ chức thực hiện thu hút và sử dụng vốn ODA
17
Tổ chức thực hiện thu hút và sử dụng vốn ODA của Nhà nước là tập hợp
những nhiệm vụ mà Nhà nước phải thực hiện nhằm thiết lập hệ thống quản lý và
1.2.4.1. Công cụ pháp luật
Công cụ pháp luật về vốn ODA là tổng thể những văn bản pháp luật trực tiếp
liên quan đến sự tồn tại, thu hút và sử dụng vốn ODA. Đây chính là nội dung chính
hình thành nên cơ chế quản lý vốn ODA. Bao gồm:
- Các Luật liên quan đến vốn ODA do quốc hội ban hành.
- Các Nghị định, Nghị quyết liên quan đến vốn ODA do Chính phủ, Thủ tướng
Chính phủ ban hành
- Các Thông tư liên quan đến vốn ODA do các Bộ ban hành (trực tiếp điều
chỉnh hay gián tiếp).
- Các văn bản hành chính của các bộ, chính quyền các địa phương ban hành
liên quan đến vốn ODA.
1.2.4.2. Cơ cấu bộ máy quản lý nhà nước về vốn ODA
Cơ cấu bộ máy quản lý nhà nước về vốn ODA là hệ thống tổ chức bao gồm
nhiều người, nhiều cơ quan và nhiều bộ phận khác nhau, có mối quan hệ và quan hệ
phụ thuộc lẫn nhau, được chuyên môn hóa và có những chức năng, trách nhiệm và
quyền hạn nhất định, được bố trí theo những cấp những khâu khác nhau nhằm đảm
bảo tổ chức và quản lý có hiệu quả nguồn vốn phát triển chính thức (ODA) [17].
Cơ cấu bộ máy quản lý nhà nước về vốn ODA thể hiện mối quan hệ dọc và
mối quan hệ ngang giữa các bộ phận quản lý nhà nước về ODA đảm bảo sự phối
hợp đồng bộ trong thu hút và sử dụng vốn ODA. Mặt khác cơ cấu còn là một hệ
thống thông tin bao gồm các trung tâm thu tin, xử lý thông tin và phát tin, đảm
bảo cho hoạt động thu hút và sử dụng vốn ODA đúng kÕ hoạch. Nếu cơ cấu bộ
máy quản lý nhà nước về vốn ODA không gọn nhẹ, linh hoạt thì dễ gây ra tình
trạng ách tắc thông tin hoặc thông tin không chính xác cho quá trình quản lý nhà
nước về vốn ODA.
19
1.2.4.3. Cán bộ, công chức quản lý nhà nước về vốn ODA
Cán bộ, công chức quản lý nhà nước về vốn ODA là những người được
tuyển dụng hoặc bổ nhiệm vào các vị trí, bộ phận trong Cơ cấu bộ máy quản lý nhà
nước về vốn ODA nhằm thực hiện tốt các chức năng, nhiệm vụ quản lý nguồn vốn
Ba là, Việc trả vốn ODA ở Trung Quốc theo cách “ai hưởng lợi, người đó trả nợ”.
Bốn là, Trung Quốc đặc biệt đề cao vai trò của việc quản lý và giám sát. Hai
cơ quan Trung ương quản lý ODA là Bộ tài chính và Ủy ban cải cách & phát triển
quốc gia.
Ba Lan:
Ba Lan quan niệm để sử dụng vốn ODA đạt hiệu quả, trước hết phải tập trung
đầu tư vào nguồn nhân lực và năng lực thể chế. Chính phủ Ba Lan cho rằng, việc thực
hiện dự án ODA mà giao cho các bộ phận hành chính không phải là thích hợp. Đối với
ODA vào Giáo dục Bala chỉ giao một phần cho Bộ Giáo dục quản lý.Phần lớn các dự án
Giáo dục của Bala giao trực tiếp cho các đối tượng thụ hưởng quản lý. Dướt sự theo dõi
và giám sát song song của Bộ Giáo dục và đặc biệt Balan phối hợp rất chặt chẽ đối với
các nhà tài trợ để kiểm tra tình hình thực hiện và triển khai.
Cơ sở luật pháp rõ ràng và chính xác trong toàn bộ quá trình là điều kiện để
kiểm soát và thực hiện thành công các dự án ODA. Ba Lan đề cao hoạt động phối
hợp với đối tác viện trợ.
Ở Ba Lan, các nguồn hỗ trợ được coi là “quỹ tài chính công”, việc mua sắm tài
sản công phải tuân theo Luật mua sắm công và theo những quy tắc kế toán chặt chẽ.
Quá trình giải ngân khá phức tạp nhằm kiểm soát đồng tiền được sử dụng
đúng mục đích.Trong đó, nhà tài trợ có thể yêu cầu nước nhận viện trợ thiết lập
hoặc sửa đổi hệ thống thể chế và hệ thống luật pháp. Cơ quan chịu trách nhiệm gồm
có các Bộ, một số cơ quan Chính phủ, trong đó Bộ Phát triển đóng vai trò chỉ đạo.
21
Ba Lan đặc biệt chú trọng công tác kiểm soát và kiểm toán. Công tác kiểm
toán tập trung vào kiểm toán các hệ thống quản lý.Trong đó chịu trách nhiệm gồm
có kiểm toán nội bộ trong mỗi cơ quan, các công ty kiểm toán nước ngoài được
thuê, và các dịch vụ kiểm toán của Ủy ban châu Âu.Khi công tác kiểm toán phát
hiện có những sai sót, sẽ thông báo các điểm không hợp lệ cho tất cả các cơ quan.
Công tác kiểm soát tập trung vào kiểm tra tình hình hợp pháp và tính hợp
thức của các giao dịch, kiểm tra hàng năm và chứng nhận các khoản chi tiêu, kiểm
tra cuối kỳ, kiểm tra bất thường.
1.3.2. Bài học kinh nghiệm có thể vận dụng cho quản lý dự án ODA vào
giáo dụcĐại học
Kinh nghiệm của thế giới cũng như thực tế quản lý dự án ODA của nước ta
trong những năm qua đã cho chúng ta nhiều bài học kinh nghiệm.
Một là, nhà nước quản lý thống nhất về ODA là rất cần thiết trong hệ thống
quản lý ODA của một quốc gia. Tính thống nhất trong quản lý nhà nước càng cao
thì hiệu quả sử dụng và quản lý của các dự án sử dụng nguồn vốn này càng cao.Nhà
nước cần có một cơ quan chuyên trách quản lý về ODA, được giao đầy đủ thẩm
quyền, có đầy đủ năng lực để giúp nhà nước thống nhất quản lý.
Hai là, kiểm tra, giám sát là hoạt động cần đặt lên hàng đầu trong các hoạt
động quản lý nguồn vốn ODA. Phải hoàn thiện các quy định về báo cáo, đánh giá
theo hướng minh bạch hóa, xây dựng và tổ chức hoạt động kiểm tra một cách toàn
diện trên tất cả các lĩnh vực đặc biệt là khâu nội dung và tài chính.
Ba là ,cần có cán bộ tốt để quản lý và triển khai thực hiện các dự án ODA.Yếu
tố con người luôn là yếu tố quan trọng trong mọi hoạt động tổ chức, quản lý.
Bốn là, vốn ODA là quan trọng nhưng vốn trong nước là quyết định . Đối
với các nước đang phát triển, vốn ODA là vô cùng quan trọng nhưng nó chỉ là chất
xúc tác cho các nước đang phát triển khai thác tiềm năng bên trong để phát triển .
Vốn ODA không thể thay thế cho nguồn vốn trong nước vì:
+ Vốn ODA chỉ được sử dụng trong khu vực hạ tầng kinh tế xã hội , tức là
chỉ gián tiếp tác động đến phát triển sức mạnh của một quốc gia . Điều này là tôn
23