Nghiên cứu đề xuất mạng giám sát chất lượng nước sông Nhuệ, sông Đáy khu vực thành phố Hà Nội - Pdf 26


i

MỤC LỤC
MỞ ĐẦU…… 1
CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU THIẾT KẾ MẠNG GIÁM SÁT
CHẤT LƢỢNG NƢỚC 5
1.1 PHƢƠNG PHÁP THIẾT KẾ MẠNG GIÁM SÁT CHẤT LƢỢNG
NƢỚC CỦA UNEP/WHO 5
1.1.1 Xác định vị trí đặt trạm trên mỗi nhánh sông 8
1.1.2 Xác định tần suất lấy mẫu 9
1.1.3 Xác định thông số chất lượng nước 10
1.1.4 Chọn thông số giám sát chất lượng nước 11
1.2 THIẾT KẾ MẠNG GIÁM SÁT CHẤT LƢỢNG NƢỚC Ở MỘT SỐ
NƢỚC 12
1.3 NGHIÊN CỨU THIẾT KẾ MẠNG GIÁM SÁT TRONG NƢỚC 14
1.3.1 Nghiên cứu thiết kế mạng giám sát chất lượng nước 14
1.3.2 Tình hình giám sát chất lượng nước 16
CHƢƠNG 2 CÁC YẾU TỐ TỰ NHIÊN, KINH TẾ-XÃ HỘI KHU VỰC HÀ
NỘI ẢNH HƢỞNG ĐẾN MÔI TRƢỜNG NƢỚC SÔNG NHUỆ,
SÔNG ĐÁY 19
2.1 CÁC YẾU TỐ TỰ NHIÊN 19
2.1.1 Vị trí địa lý 19
2.1.2 Địa hình, địa mạo 21
2.1.3 Thổ nhưỡng 22
2.1.4 Khí hậu 22
2.1.5 Mạng lưới sông ngòi 25
2.1.6 Tài nguyên nước 27
2.2 CÁC YẾU TỐ KINH TẾ-XÃ HỘI 27
2.2.1 Đặc điểm chung 27
2.2.2 Dân số 28

UNEP/WHO 11
Bảng 1-3. Các thông số chất lượng nước cần quan trắc dung cho một số mục đích . 15
Bảng 2-1. Nhiệt độ trung bình tháng sông Nhuệ, sông Đáy khu vực Hà Nội 22
Bảng 2-2. Lượng mưa trung bình các tháng lưu vực sông Nhuệ, sông Đáy 23
Bảng 2-3. Độ ẩm trung bình các tháng lưu vực sông Nhuệ, sông Đáy 24
Bảng 2-4. Các sông chính khu vực thành phố Hà Nội 26
Bảng 2-5. Dân số các huyện lưu vực sông Nhuệ-Đáy khu vực thành phố Hà Nội 28
Bảng 2-6. Các cơ sở công nghiệp lớn vùng sông Nhuệ, sông Đáy khu vực thành
phố Hà Nội 30
Bảng 2-7. Số lượng các làng nghề theo nhóm ngành sản xuất sông Nhuệ, sông
Đáy khu vực thành phố Hà Nội 32
Bảng 2-8. Diện tích đất nông nghiệp các huyện vùng sông Nhuệ, sông Đáy khu
vực thành phố Hà Nội 34
Bảng 3-1. Phương pháp phân vùng ô nhiễm nước sông Nhuệ, sông Đáy 58
Bảng 3-2. Kiến nghị cho điểm đối với các chỉ tiêu chất lượng nước sông Nhuệ,
sông đáy khu vực Hà Nội 59
Bảng 3-3. Phân loại ô nhiễm nước mặt theo chỉ tiêu tổng hợp 59
Bảng 3-4. Hàm lượng trung bình của một số chỉ tiêu chất lượng nước 60
Bảng 3-5. Phân vùng chất lượng nước sông Nhuệ khu vực Hà Nội theo phương
pháp cho điểm 60
Bảng 3-6. Hàm lượng trung bình của một số chỉ tiêu chất lượng nước sông Đáy 61
Bảng 3-7. Phân vùng chất lượng nước sông Đáy khu vực Hà Nội theo phương
pháp cho điểm 61
Bảng 3-8. Thành phần chất ô nhiễm của một số loại hình sản xuất 61
Bảng 3-9. Ước tính lượng nước thải của một số ngành công nghiệp khu vực thành
phố Hà Nội 62
Bảng 3-10. Tỷ lệ phần trăm lượng nước thải các làng nghề vào sông Nhuệ, sông
Đáy khu vực thành phố Hà Nội 64
Bảng 3-11. Ước tính phân bố lượng nước thải vào sông Nhuệ, sông Đáy khu vực
thành phố Hà Nội. 65

3
-
sông Nhuệ khu vực thành phố Hà Nội 42
Hình 3-7. Diễn biến hàm lượng NO
2
-
sông Nhuệ khu vực thành phố Hà Nội 43
Hình 3-8. Diễn biến hàm lượng PO
4
3-
sông Nhuệ khu vực thành phố Hà Nội 44
Hình 3-9. Diễn biến hàm lượng sắt sông Nhuệ khu vực thành phố Hà Nội 45
Hình 3-10. Diễn biến hàm lượng camidi sông Nhuệ khu vực thành phố Hà Nội 46
Hình 3-11. Diễn biến hàm lượng chì sông Nhuệ khu vực thành phố Hà Nội 46
Hình 3-12. Diễn biến hàm lượng coliform sông Nhuệ khu vực thành phố Hà Nội 47
Hình 3-13. Diễn biến pH trên sông Đáy khu vực thành phố Hà Nội 48
Hình 3-14. Diễn biến hàm lượng chất rắn lơ lửng sông Đáy khu vực Hà Nội 49
Hình 3-15. Diễn biến hàm lượng DO sông Đáy khu vực thành phố Hà Nội 50
Hình 3-16. Diễn biến hàm lượng BOD
5
sông Đáy khu vực thành phố Hà Nội 51
Hình 3-17. Diễn biến hàm lượng COD sông Đáy khu vực thành phố Hà Nội 51
Hình 3-18. Diễn biến hàm lượng NO
3
-
sông Đáy khu vực thành phố Hà Nội 52
Hình 3-19. Diễn biến hàm lượng NO
2
-
sông Đáy khu vực thành phố Hà Nội 53

1

MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết, ý nghĩa khoa học
Nước là tài nguyên quý giá và là thành phần không thể thiếu được của đời
sống con người, cho sản xuất và mọi sinh vật. Xã hội càng văn minh thì nhu cầu
dùng nước đòi hỏi càng tăng cả về số lượng và chất lượng nhưng đồng thời cũng
gây ô nhiễm nghiêm trọng nguồn nước. Vì vậy, một trong những ưu tiên của
Chương trình Nghị sự 21 Việt Nam là lĩnh vực ưu tiên về bảo vệ môi trường, nhất là
bảo vệ môi trường nước và phát triển bền vững.
Hiện nay, Việt Nam đang trong quá trình phát triển kinh tế với tốc độ cao cho
nên nhu cầu sử dụng nước ngày càng tăng nhưng đồng thời quá trình phát triển kinh
tế đó cũng thải ra môi trường nhiều chất thải nguy hại. Các khu công nghiệp/thành
phố lớn của đất nước như thành phố Hồ Chí Minh, Đồng Nai, Hải Phòng, Việt Trì
đã và đang thải ra nhiều chất thải nguy hại, đặc biệt là nước thải từ các khu công
nghiệp/đô thị vào nguồn nước.
Lưu vực sông Nhuệ, sông Đáy là một trong những vùng kinh tế phát triển
năng động với sự ra đời của hàng loạt các khu công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và
các làng nghề được phục hồi phát triển cũng như áp lực gia tăng dân số. Cùng với
phát triển thì đã có những vấn đề nảy sinh như chất thải đối với lưu vực sông Nhuệ,
sông Đáy do công nghệ sản xuất lạc hậu, trình độ quản lý và xử lý chất thải còn yếu.
Vấn đề đặc biệt nghiêm trọng là nước thải trong phát triển sản xuất vào lưu vực
sông Nhuệ, sông Đáy với mức độ ngày càng trầm trọng.
Thu thập thông tin, số liệu chất lượng nước có hệ thống là cần thiết nhằm đề ra
các biện pháp giảm thiểu, kiểm soát ô nhiễm nước, đánh giá và dự báo ô nhiễm
nước cũng như khai thác, sử dụng hợp lý tài nguyên nước lưu vực sông Nhuệ, sông
Đáy. Mặc dù chất lượng nước sông Nhuệ, sông Đáy đã được nghiên cứu và đo đạc
nhưng còn rải rác và phân tán, thời gian giám sát còn gián đoạn, vị trí, thông số và

2

3

hiện trạng và phân tích chất lượng nước khu vực thành phố Hà Nội và phân vùng ô
nhiễm nước và kiến nghị các vị trí đặt trạm giám sát chất lượng nước khu vực thành
phố Hà Nội mở rộng.
Luận văn tập trung nghiên cứu một số vấn đề sau:
- Tổng quan phương pháp và kinh nghiệm thiết kế chất lượng nước trong nước
và trên thế giới;
- Tổng quan điều kiện tự nhiên, kinh tế-xã hội của khu vực nghiên cứu;
- Thống kê, phân loại và đánh giá các loại hình gây ô nhiễm chính tới nguồn
nước sông Nhuệ, sông Đáy khu vực nghiên cứu;
- Đánh giá chất lượng nước sông Nhuệ, sông Đáy khu vực nghiên cứu dựa vào
các thông số chất lượng nước và phân vùng ô nhiễm nước;
- Kiến nghị mạng giám sát chất lượng nước sông Nhuệ, sông Đáy khu vực
thành phố Hà Nội.
4. Phƣơng pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:
- Phương pháp thu thập tài liệu, kế thừa: thu thập các tài liệu, dữ liệu liên quan
đến thiết kế mạng giám sát chất lượng nước trên thế giới và trong nước, làm cơ sở
lý thuyết cho việc thiết kế mạng giám sát chất lượng nước sông Nhuệ, sông Đáy
khu vực thành phố Hà Nội. Thu thập các tài liệu và kết quả nghiên cứu sông Nhuệ,
sông Đáy để kế thừa và phân tích.
- Phương pháp điều tra, phỏng vấn đối với một số cơ sở gây ô nhiễm chính và
một số người dân trong khu vực nghiên cứu; điều tra, khảo sát thực địa bằng mắt
thường và đo đạc chất lượng nước ngoài hiện trường phục vụ đánh giá và phân loại
chất lượng nước.
- Phương pháp thống kê, phân tích, tổng hợp và so sánh: các kết quả điều tra,
khảo sát kết hợp với thông tin, tài liệu thu thập sẽ được thống kê, phân loại, tổng

4

MẠNG GIÁM SÁT CHẤT LƢỢNG NƢỚC
1.1 PHƢƠNG PHÁP THIẾT KẾ MẠNG GIÁM SÁT CHẤT LƢỢNG NƢỚC
CỦA UNEP/WHO
Hiện nay trên thế giới có một số phương pháp thiết kế mạng giám sát chất
lượng nước như phương pháp của Sender, phương pháp của Su-Young Park nhưng
phổ biến nhất và phù hợp với tình hình thực tế nhất là phương pháp thiết kế mạng
giám sát chất lượng nước của UNEP/WHO [40] bởi vì phương pháp này chủ yếu
căn cứ vào điều kiện thực tế về đặc điểm tự nhiên, kinh tế-xã hội của vùng nghiên
cứu để đặt trạm giám sát chất lượng nước. Theo phương pháp này, có hai loại trạm
giám sát chất lượng nước và được định nghĩa như sau:
Trạm cơ sở: trạm đặt tại vùng chưa bị tác động bởi các hoạt động sản xuất của
con người. Các trạm này dùng để xây dựng số liệu cơ sở chất lượng nước tự nhiên.
Trạm tác động: trạm được đặt tại vùng nước bị tác động do các hoạt động sinh
hoạt và sản xuất của con người.
Để thiết kế mạng giám sát chất lượng nước, UNEP/WHO đưa ra các bước như
sau:
- Xác định mục tiêu của mạng giám sát chất lượng nước;
- Xác định đặc điểm, tự nhiên, kinh tế-xã hội vùng nghiên cứu;
- Xác định các vị trí lấy mẫu;
- Xác định các thông số chất lượng nước;
- Xác định tần suất và thời gian lấy mẫu;
- Xây dựng kế hoạch triển khai thiết kế, kiểm soát và bảo đảm chất lượng
nước.
Nghiên cứu dưới đây sẽ trình bày chi tiết nội dung của các bước trong thiết kế
mạng giám sát chất lượng nước:

6

- Xác định đặc điểm tự nhiên, kinh tế-xã hội vùng nghiên cứu, bao gồm:
+ Phạm vi của lưu vực nghiên cứu;

Những vị trí lựa chọn sẽ được quyết định thông qua khảo sát thực địa. Các vị
trí giám sát chất lượng nước nguồn bao gồm: 1, 9, 10, 11, 17, 18; các vị trí giám sát
chất lượng nước bị tác động bao gồm: 4, 5, 6, 7, 8, 15, 16, 19. Sơ đồ các vị trí được
thể hiện ở hình 1-1.

8 Nguồn: UNEP/WHO, 1996.

Hình 1-1. Sơ đồ các khu vực giám sát chất lƣợng nƣớc
1.1.1 Xác định vị trí đặt trạm trên mỗi nhánh sông
Vị trí giám sát chất lượng nước sông cần được đặt ở nơi có khả năng pha trộn
tốt giữa dòng nhánh hoặc điểm xả thải với dòng chính sông ngòi. Sự pha trộn hoàn
toàn giữa dòng chính và dòng nhánh hoặc nguồn thải có khi lên tới vài km và theo
tính toán của phương pháp này, vùng pha trộn hoàn toàn được tính toán ở bảng 1-1.

9

Bảng 1-1. Khoảng cách pha trộn hoàn toàn trong sông
Độ rộng trung
bình (m)
Chiều sâu trung bình (m)
Khoảng cách ƣớc tính để đạt sự
pha trộn hoàn toàn (km)
5
1
2
3
0,08-0,7

2,0-14,0
0,8-7,0
0,4-3,0
Nguồn: UNEP/WHO, 1996.
Tuy nhiên, phương pháp này cũng khuyến cáo việc đặt vị trí giám sát chất
lượng cần phải căn cứ vào tình hình thực tế. Các vị trí thuận lợi như cầu bắc qua
sông thường được chọn làm vị trí giám sát.
1.1.2 Xác định tần suất lấy mẫu
Nhìn chung, tần suất lấy mẫu ở những trạm chất lượng nước biến đổi mạnh
lớn hơn tần suất lấy mẫu ở những điểm ít biến đổi. Theo UNEP/WHO, khi không có
đủ thông tin thì điều tra, khảo sát thực địa là cách tốt nhất để xác định tần suất. Tần
suất lấy mẫu phụ thuộc vào đặc điểm nguồn nước.
- Trạm cơ sở: kiến nghị tần suất lấy mẫu tối thiểu 4 lần/năm vào các thời kỳ
mùa lũ và mùa cạn.
- Trạm tác động: kiến nghị tần suất lấy mẫu tối thiểu khoảng 12 lần/năm.

10

1.1.3 Xác định thông số chất lƣợng nƣớc
Theo UNEP/WHO, việc chọn thông số chất lượng nước cần phải đại diện của
các thông số vật lý, các thông số hóa học và thông số sinh học. Nhóm các thông số
được trình bày dưới đây:
Nhóm các thông số vật lý: nhóm các thông số vật lý bao gồm lưu lượng, nhiệt
độ, độ dẫn điện, độ đục, chất rắn lơ lửng, phân bố hạt, mùi vị. Nhìn chung, nhiệt độ,
độ dẫn điện có thể xác định dễ dàng tại thời điểm lấy mẫu. Nếu xác định được độ
dẫn điện thì ta có thể xác định được sự hoạt động của các ion trong nước. Như vậy,
ta có thể coi nhiệt độ và độ dẫn điện đại diện cho các yếu tố vật lý trong nước.
Ngoài ra, phân bố hạt và lưu lượng dòng chảy cũng được coi là yếu tố cơ bản trong
xác định thông số vật lý. Lưu lượng dòng chảy giúp xác định tải lượng của các
thông số vật lý.

, Pb
2+
, Ni
2+
, Fe
2+
, Mn
2+
, Hg
2+
, Cr
6+
, Cd
2+

và Cu
2+
. Đối với các ion kim loại nhìn chung việc xác định là tốn kém. Người ta
thường chọn các ion Fe
2+
và Mn
2+
, đại diện cho các ion kim loại.
Các thông số hữu cơ: nhìn chung, nhóm các hợp chất hữu cơ khó xác định.
Các hợp chất hữu cơ bao gồm chất dầu mỡ, thuốc trừ sâu, thuốc diệt cỏ, CN
-
. Tổng
các bon hữu cơ được coi là chỉ thị chính của các hợp chất hữu cơ trong nước.
Nhóm thông số sinh học: thực vật nổi, động vật nổi và động vật đáy. Đây là
các chỉ thị để đánh giá chất lượng nước bằng các chỉ thị sinh học hoặc đánh giá sự

2+

9
Na
+

10
K
+

11
Cl
-

12
SO
4
2-

13
NO
3
-

14
NO
2
-

15

mercury, nickel, selenium and zinc.
- Nước thải nông nghiệp cần phải đo đạc các thông số bao gồm: NO
2
-
, NO
3
-
,
NH
4
+
, tổng phốt pho, oxit silic, độ đục và chlorophyll a, tổng chất rắn hòa tan, tổng
chất rắn lơ lửng, Bo, K
+
, Na
+
, Ca
2+
, Mg
2+
và feacal coliform; đối với hóa chất bảo
vệ thực vật và thuốc trừ sâu, các thông số đo đạc bao gồm: dieldrin (C
12
H
8
CL
6
O),
aldrin (C
12

1.2 THIẾT KẾ MẠNG GIÁM SÁT CHẤT LƢỢNG NƢỚC Ở MỘT SỐ
NƢỚC
Theo số liệu của Ủy ban Kinh tế-xã hội khu vực châu Á-Thái Bình Dương
năm 1989, chỉ tính riêng 17 nước khu vực châu Á-Thái Bình Dương gồm Trung

13

Quốc, Hồng Kông, Hàn Quốc, Thái Lan, Australia, Banglases, Fiji, Iran, Malaysia,
New Zealand, Pakistan, Papua New Guinea, Philippines, Sri Lan Ka, Ấn Độ, Nhật
Bản,… đã có khoảng gần 3 nghìn trạm quan trắc chất lượng nước. Các nước châu
Âu như Hà Lan, Italia, Anh, Bắc Ai Len, Ba Lan, Hung Ga Ri,… và Mỹ cũng thực
hiện chương trình giám sát chất lượng nước từ rất sớm. Tình hình giám sát chất
lượng nước của một số quốc gia trên thế giới như sau:
Hàn Quốc: cách tiếp cận trong thiết kế mạng giám sát chất lượng nước sông
căn cứ vào cơ sở lý thuyết của phương pháp Sharp-Sender, kết hợp sử dụng hệ
thống thông tin địa lý GIS và thuật toán phát sinh. Tuy vậy, phương pháp này đòi
hỏi phải có tương đối đầy đủ thông tin về điều kiện tự nhiên kinh tế-xã hội và phải
được số hóa.
Vương Quốc Anh: việc thiết kế mạng giám sát chất lượng nước ở Vương
Quốc Anh sử dụng những trạm giám sát hiện có để phục vụ cho mục đích nghiên
cứu cụ thể sau đó kiểm tra và loại bỏ những điểm không cần thiết để lập mạng giám
sát chính thức. Khi thiết kế lại xem xét đến những vấn để cụ thể của từng lưu vực để
những trạm ưu tiên đồng thời đặt ra những câu hỏi như “tại sao phải giám sát chất
lượng nước?” và “giải pháp nào để đạt mục tiêu? để từ đó xác định các thông số, vị
trí lấy mẫu, số mẫu và tần suất lấy mẫu phù hợp.
Hà Lan: việc thiết kế mạng giám sát xu thế chất lượng nước của Hà Lan bằng
cách: (1) phân tích tài liệu chất lượng nước đã có; (2) xác định xu thế chất lượng
nước hiện tại và tương lai; (3) xác định tần suất lấy mẫu, nguồn tài chính và nhân
lực; (4) tính toán số mẫu tối thiểu cho mỗi thông số chất lượng nước để có thể đánh
giá được xu thế chất lượng nước; (5) xác định bộ thông số chất lượng nước; (6) tính

chất lượng nước được tác giả kiến nghị như sau:
+ Tập hợp có hệ thống số liệu về tình trạng chất lượng nước và sự biến đổi
chất lượng môi trường theo thời gian và không gian theo các chỉ tiêu nhất
định;

15

+ Đánh giá mức độ ô nhiễm theo các vùng, các nguồn điểm khác nhau;
+ Xác định số lượng và chất lượng dòng xả thải;
+ Phân loại trạm và;
+ Lựa chọn tần suất lấy mẫu và thông số phân tích đối với mỗi loại trạm.
Theo Trịnh Thị Thanh [31], việc giám sát chất lượng nước cần phải (1) xác
định trạm nước cơ sở và (2) trạm tác động. Những trạm cơ sở dùng để theo dõi chất
lượng nước tự nhiên, còn những trạm tác động dùng để giám sát chất lượng nước
dưới tác động bởi các hoạt động phát triển kinh tế của con người. Tác giả cũng đã
đưa ra một số nguyên tắc xác định điểm giám sát chất lượng nước như: phải bảo
đảm tính đại diện, vừa có tính độc lập vừa có khả năng liên kết thành mạng lưới.
Theo kết quả nghiên cứu của Lê Hữu Thuần [30], việc giám sát chất lượng
nước cần phải xác định được các nguồn gây ô nhiễm nước, đặc điểm tự nhiên của
vùng nghiên cứu đồng thời xây dựng cơ chế quản lý, khai thác dữ liệu chất lượng
nước.
Theo Lê Thạc Cán và nnk [7], việc lựa chọn các thông số chất lượng nước cần
phải bao gồm các thông số hóa-lý ảnh hưởng đến cảm quan, các thông số hóa học
và các chất phóng xạ và các thông số sinh học. Các nguồn nước dùng cho mục đích
cụ thể như sinh hoạt, nước cho thủy lợi và nước cho thủy sản, tác giả kiến nghị các
thông số như bảng 1-3 dưới đây:
Bảng 1-3. Các thông số chất lƣợng nƣớc cần quan trắc dung cho một số mục đích
TT
Nƣớc cấp cho
sinh hoạt

Độ màu
Bo
NH
4
+

8
Độ cứng
Tỷ số hấp thụ Natri (SAR)
NH
3
-16

TT
Nƣớc cấp cho
sinh hoạt
Nƣớc cấp cho thủy lợi
Nƣớc cấp cho
thủy sản
9
Nitrat

CO
2
-

10


18
Đồng 19
Mangan 20
Kẽm 21
Florua 22
TBVTV Nguồn : Lê Thạc Cán và nnk, 2005.
Từ kết quả nghiên cứu thiết kế và triển khai mạng giám sát chất lượng nước
trong nước có thể rút ra một số nhận xét sau:
+ Xác định rõ loại trạm chất lượng nước khi tiến hành giám sát;
+ Các thông số chất lượng nước bao gồm đại diện của nhóm các thông số:
vật lý, hóa học và sinh học;
+ Đo đạc dòng chảy và dòng tiếp nhận để xác định tải lượng;
+ Xác định các nguồn gây ô nhiễm và các yếu tố tự nhiên, kinh tế-xã hội ảnh
hưởng đến chất lượng nước;

PO
4
3-
, nitơ tổng số, phốt pho tổng số, SiO
3
-
, khoáng chất hoà tan (Ca
+2
, K
+
, Mg
+
,
Na
+
, SO
4
-2
, sắt tổng, Cl
-
, độ kiềm, kim loại nặng và hóa chất bảo vệ thực vật. Tần
suất giám sát 2 lần/tháng đối với những trạm biên giới và 1 lần/tháng với những
trạm còn lại vào những ngày cố định với tần suất đo 4 obp/ngày.
Từ khi Bộ Tài nguyên và Môi trường được thành lập năm 2002, Tổng cục Khí
tượng-Thủy văn và Cục Bảo vệ môi trường đều là những cơ quan giám sát chất
lượng nước trực thuộc Bộ. Do vậy, kế hoạch giám sát chất lượng nước sông đã dần
có sự phối hợp. Bộ Tài Nguyên và Môi trường đã thống nhất lập quy hoạch mạng
quan trắc tài nguyên và môi trường quốc gia và trình Thủ tướng Chính phủ phê
duyệt tại quyết định số 16/QĐ-TTg ngày 29 tháng 01 năm 2006.
Có thể có một số nhận xét về các trạm giám sát chất lượng nước hiện nay ở

Lưu vực sông Nhuệ, sông Đáy được giới hạn từ 20
o
đến 21
o
20’ vĩ độ Bắc; từ
105
o
đến 106
o
30’ kinh độ Đông, thuộc hữu ngạn sông Hồng thuộc vùng Tây-nam
đồng bằng Bắc Bộ. Lưu vực có dạng hình nan quạt, trải dài trên toàn bộ lãnh thổ các
tỉnh Hà Nam, Nam Định, Ninh Bình, phía nam Thành phố Hà Nội và 4 huyện thuộc
tỉnh Hoà Bình bao gồm Kim Bôi, Lạc Thuỷ, Yên Thuỷ, Lương Sơn. Diện tích tự
nhiên của lưu vực khoảng 7.665 km
2
[1].
Vùng sông Nhuệ, sông Đáy thuộc khu vực thành phố Hà Nội trải dài trên
thành phố Hà Đông và các huyện Từ Liêm, Thanh Trì, Thanh Oai, Thường Tín, Phú
Xuyên, Phúc Thọ, Hoài Đức, Quốc Oai, Đan Phượng, Thạch Thất, Chương Mỹ, Mỹ
Đức và Ứng Hòa. Diện tích vùng sông Nhuệ, sông Đáy khu vực thành phố Hà Nội
khoảng 1.669 km
2
, chiếm gần 22%

diện tích toàn lưu vực (xem hình hình 2-1).

Trích đoạn CÁC YẾU TỐ TỰ NHIÊN Địa hình, địa mạo CÁC YẾU TỐ KINH TẾ-XÃ HỘI Nông nghiệp
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status