Một số nhân tố ảnh hưởng đến nỗ lực học tập của sinh viên Trường Cao đẳng Nghề Du lịch - Thương mại Nghệ An - Pdf 26

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG
PHAN ĐĂNG TRƯỜNG
MỘT SỐ NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN NỖ LỰC
HỌC TẬP CỦA SINH VIÊN TRƯỜNG CAO ĐẲNG
NGHỀ DU LỊCH - THƯƠNG MẠI NGHỆ AN LUẬN VĂN THẠC SĨ
Nha Trang - năm 2014

Nha Trang - năm 2014

i LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đề tài “Một số nhân tố ảnh hướng đến nỗ lực học tập của sinh
viên Trường Cao đẳng nghề Du lịch – Thương mại Nghệ An” là công trình nghiên
cứu của bản thân tôi và chưa được công bố trên bất kỳ phương tiện thông tin nào. Mọi
sự giúp đỡ để hoàn thành đề tài nghiên cứu này đã được cảm ơn đầy đủ, các thông tin
trích dẫn trong đề tài nghiên cứu này đều đã được chỉ rõ nguồn gốc.

Tác giả đề tài Phan Đăng Trường
iii

MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT vi
DANH MỤC BẢNG BIỂU vii
DANH MỤC HÌNH VẼ viii
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG I. CƠ SỞ LÝ THUYẾT, MÔ HÌNH VÀ CÁCGIẢ THUYẾT NGHIÊN
CỨU 4
1.1. Cơ sở lý thuyết chung 4
1.1.1. Thuyết hành động hợp lý TRA 4
1.1.2. Mô hình hành vi dự định (TPB - Theory of planned behaviour) 5
1.1.3. Cơ sở lý thuyết động cơ học tập và cố gắng 6
1.1.4. Hoạt động học của sinh viên 13
1.1.5. Nỗ lực học tập của sinh viên 14
1.2. Tổng quan tài liệu nghiên cứu 15
1.3. Mô hình nghiên cứu đề xuất và giả thuyết nghiên cứu 20
1.3.1. Mô hình nghiên cứu đề xuất 20
1.3.2. Các giả thuyết nghiên cứu 21
1.4. Kết luận chương 1 26
CHƯƠNG II. ĐẶC ĐIỂM ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU .27
2.1. Giới thiệu khái quát về Trường CĐN Du lịch- Thương mại Nghệ An 27
2.1.1. Lịch sử hình thành và phát triển 27

3.4.9. Nhân tố “Nỗ lực học tập” 74
3.5. Tóm tắt chương 3 75
CHƯƠNG IV. BÀN LUẬN KẾT QUẢ VÀ ĐỀ XUẤT 76
4.1. Các kết quả chính và đóng góp của nghiên cứu. 76
4.2. Thảo luận kết quả 76
4.3. Một số hàm ý ứng dụng 77
v

4.3.1. Chất lượng đào tạo 77
4.3.2. Gia đình sinh viên 78
4.3.3. Giáo dục tinh thần, thái độ, động cơ học tập 78
4.3.4. Phát động phong trào thi đua học tập 79
4.3.5. Chất lượng giảng dạy 79
4.4. Một số kiến nghị 80
4.4.1. Đối với Ban giám hiệu 80
4.4.2. Đối với các khoa 83
4.4.3. Đối với giảng viên 84
4.5. Tóm tắt chương 4 87
KẾT LUẬN 88
TÀI LIỆU THAM KHẢO 90
PHỤ LỤC vi

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT


Bảng 3.14. Hệ số Alpha –Thang đo Thói quen học tập 55
Bảng 3.15. Hệ số Alpha –Thang đo Nỗ lực học tập 55
Bảng 3.16. Kết quả EFA cho các biến độc lập 58
Bảng 3.17. Kết quả EFA cho thang đo nỗ lực học tập 60
Bảng 3.18. Ma trận tương quan giữa các nhân tố (Pearson) 62
Bảng 3.19. Hệ số R-Square từ kết quả phân tích hồi quy 64
Bảng 3.20. Hệ số hồi quy chuẩn hóa của phương trình 68
Bảng 3.21. Thống kê mô tả thang đo “Chất lượng đào tạo” 70
Bảng 3.22. Thống kê mô tả thang đo “Kỳ vọng gia đình” 71
Bảng 3.23. Thống kê mô tả thang đo “Kỳ vọng nhà tuyển dụng” 71
Bảng 3.24. Thống kê mô tả thang đo “Kiểm soát hành vi học tập” 72
Bảng 3.25. Thống kê mô tả thang đo “hỗ trợ nhà trường” 72
Bảng 3.26. Thống kê mô tả thang đo “Thói quen học tập” 73
Bảng 3.27. Thống kê mô tả thang đo “Thái độ” 73
Bảng 3.28. Thống kê mô tả thang đo “Lợi ích” 74
Bảng 3.29. Thống kê mô tả thang đo “Nỗ lực học tập” 74
viii

DANH MỤC HÌNH VẼ

Hình 1.1: Mô hình hành động hợp lý (TRA) 5
Hình 1.2: Tháp nhu cầu của Maslow 7
Hình 1.3: Mô hình nghiên cứu đề xuất 21
Hình 2.1: Quy trình nghiên cứu 35
Hình 3.1: Đồ thị P-P Plot 66
Hình 3.2: Biểu đồ Histogram 66


sau khi ra trường. Làm thế nào để học sinh sinh viên sau khi ra trường được xã hội
công nhận và đánh giá cao về chất lượng đào tạo của nhà trường? Đây là một câu hỏi
mà Ban giám hiệu và toàn thể cán bộ giáo viên của trường luôn trăn trở và mong muốn
tìm ra đáp án tốt nhất để khẳng định vị thế của trường trong xã hội. Vì vậy, trong
những năm vừa qua nhà trường luôn dành mọi nguồn lực cho việc đầu tư cơ sở vật
chất, trang thiết bị dạy học cũng như đào tạo nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên,
chất lượng đào tạo. Ngoài việc nâng cao chất lượng đào tạo của nhà trường thì sự nỗ
lực học tập và kết quả học tập của học sinh sinh viên cũng là một yếu tố khá quan
trọng để có sản phẩm đầu ra chất lượng. Nỗ lực học tập là một yếu tố quan trọng trong
hoạt động học tập của sinh viên. Nó quyết định mục đích và thúc đẩy hoạt động học
tập của sinh viên. Vậy, nỗ lực học tập sinh viên nhà trường học tập là gì? Sự nỗ lực ấy
có ảnh hưởng và đóng vai trò quan trọng như thế nào đến kết quả học tập của học sinh,
sinh viên? Nhà trường cần có những biện pháp gì để thúc đẩy học sinh sinh viên nỗ lực
học tập tốt?
Xuất phát từ những lý do trên tôi đã lựa chọn nghiên cứu đề tài: “Một số nhân tố
ảnh hướng đến nỗ lực học tập của sinh viên Trường Cao đẳng nghề Du lịch –
Thương mại Nghệ An” nhằm giúp các giáo viên nắm bắt và khai thác được động cơ
học tập để tạo hứng thú học tập cho sinh viên. Đây cũng chính là một kênh thông tin
để Ban giám hiệu nhà trường có những điều chỉnh phù hợp để nâng cao chất lượng đào
tạo theo yêu cầu của người học cũng như xã hội.
2

2. Mục đích nghiên cứu của đề tài
2.1. Mục đích chung
Đề tài tập trung nghiên cứu các biến số tâm lý, cảm nhận ảnh hưởng đến sụ cố
gắng học tập của học sinh sinh viên Trường cao đẳng nghề Du lịch – Thương mại
Nghệ An. Từ đó xác định các hàm ý ứng dụng để tham mưu cho Nhà trường trong việc
thúc đẩy phong trào học tập của học sinh sinh viên.
2.2. Mục đích cụ thể
- Xác định sự ảnh hưởng của các biến số tâm lý ảnh hưởng đến nỗ lực học tập của

báo, tạp chí để trang bị các kiến thức cần thiết cho quá trình nghiên cứu đề tài.
5.2. Phương pháp phân tích số liệu
Toàn bộ số liệu điều tra, khảo sát được xử lý nhờ phần mềm SPSS phiên bản 16.0
(SPSS là phần mềm chuyên dụng, xử lý phân tích số liệu thống kê dành cho khoa học
xã hội). Các phương pháp phân tích độ tin cậy alpha của Cronbach (Cronbach’s
alpha), phương pháp phân tích nhân tố khám phá EFA (Exploratory Factor Analysis)
được sử dụng để đánh giá độ tin cậy và độ giá trị của thang đo. Để kiểm định mô hình
nghiên cứu sử dụng hệ số tương quan Pearson, phân tích hồi quy bội.
6. Kết cấu của luận văn
Ngoài các phần như mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, các phụ lục v.v luận
văn được kết cấu thành bốn chương. Nội dung cụ thể trong từng chương như sau:
PHẦN MỞ ĐẦU: Sẽ giới thiệu tính cấp thiết của đề tài, mục tiêu nghiên cứu,
đối tượng và phạm vi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu, ý nghĩa của đề tài và giới
thiệu tổng quan về tình hình nghiên cứu.
Chương 1. CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU ĐỀ XUẤT:
Nội dung chương này giới thiệu những khái niệm về lý thuyết cố gắng và sự nỗ lực
học tập của sinh viên, những yếu tố ảnh hưởng đến sự nỗ lực học tập của sinh viên, các
công cụ đo lường sự nỗ lực học tập và đưa ra mô hình nghiên cứu cùng các giả thuyết.
Tác giả xin đề xuất mô hình nghiên cứu dựa trên lý thuyết TPB mở rộng và Lý thuyết
cố gắng của người tiêu dùng.
Chương 2. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU: Giới thiệu phương pháp thiết kế
nghiên cứu, xây dựng thang đo, quá trình thu thập thông tin và giới thiệu phương pháp
xử lý, phân tích số liệu thống kê.
Chương 3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU: Chương này phân tích đối tượng khảo
sát, kết quả đánh giá về độ tin cậy và độ giá trị của thang đo, kiểm định các giả thuyết
nghiên cứu, kết quả đo lường sự nỗ lực học tập cùng các kết quả thống kê suy diễn.
Chương 4. BÀN LUẬN KẾT QUẢ VÀ ĐỀ XUẤT: Chương này đưa ra kết
luận về nghiên cứu và đề xuất một số kiến nghị nhằm nâng cao chất lượng đào tạo
thông qua tìm hiểu sự nỗ lực học tập của sinh viên Trường cao đẳng nghề Du lịch -
Thương mại Nghệ An.

Để hiểu rõ được ý định hành vi, chúng ta phải đo lường thành phần chuẩn chủ
quan của người tiêu dùng. Chuẩn chủ quan có thể được đo lường một cách trực tiếp
thông qua việc đo lường cảm xúc của người tiêu dùng về phía những người có liên
quan (như gia đình, bạn bè, đồng nghiệp,…) sẽ nghĩ gì về ý định hành vi của họ,
những người này thích hay không thích, đây là sự phản ánh việc hình thành thái độ chủ
quan của họ.
5

Mô hình TRA là một loạt các liên kết những thành phần thái độ. Thái độ không
ảnh hưởng mạnh hoặc trực tiếp đến hành vi cố gắng học tập. Tuy nhiên, thái độ có thể
giải thích trực tiếp được ý định hành vi. Ý định hành vi thể hiện trạng thái ý định nỗ
lực hay không nỗ lực học tập trong thời gian nhất định. Trước khi tiến đến hành vi nỗ
lực học tập thì ý định cố gắng đã được hình thành trong suy nghĩ của người học. Vì
vậy, hành vi được tạo ra từ ý định, được quyết định bởi thái độ của mỗi người đối với
việc thực hiện hành vi và các chuẩn mực chủ quan (Fishbein và Ajzen, 1975).

Hình 1.1: Mô hình hành động hợp lý (TRA)
(Nguồn: Fishbein và Ajzen, 1975)
1.1.2 Mô hình hành vi dự định (TPB - Theory of planned behaviour)
Lý thuyết TPB là sự mở rộng của lý thuyết TRA để khắc phục hạn chế trong việc
giải thích về những hành vi nằm ngoài kiểm soát, dù động cơ của đối tượng là rất cao
từ thái độ và tiêu chuẩn chủ quan nhưng trong một số trường hợp họ vẫn không thực
hiện hành vi vì có các tác động của điều kiện bên ngoài lên ý định hành vi.
Ajzen (1985) đã mở rộng mô hình hành động hợp lý (TRA) bằng cách đưa thêm
các điều kiện khác vào mô hình đó là xét đến sự kiểm soát hành vi cảm nhận nhằm
phản ánh nhận thức của người sử dụng về các biến bên trong và bên ngoài đối với
hành vi.
Trong mô hình này, Fishbein và Ajzen cho rằng ý định hành vi bị ảnh hưởng bởi
thái độ, chuẩn mực chủ quan và sự kiểm soát cảm nhận đối với hành vi. Thái độ đại
diện cho niềm tin tích cực hay tiêu cực của con người và sự đánh giá về hành vi của

một nhóm các nhu cầu được thỏa mãn thì loại nhu cầu này không còn là động cơ thúc
đẩy nữa (Harold Koontz và cộng sự, 1992).
Những nhu cầu cơ bản của con người do Maslow xác định theo thứ tự tăng dần về
tầm quan trọng và được chỉ ra như sau:
7

Hình 1.2. Tháp nhu cầu của Maslow
Maslow cho rằng hành vi của con người bắt nguồn từ nhu cầu và những nhu cầu
của con người được sắp xếp theo một thứ tự ưu tiên từ thấp tới cao. Theo tầm quan
trọng, cấp bậc nhu cầu được sắp xếp thành năm bậc sau:
- Những nhu cầu cơ bản hay nhu cầu sinh lý: Là những nhu cầu đảm bảo cho
con người tồn tại như: ăn, uống, mặc, tồn tại và phát triển nòi giống và các nhu cầu của
cơ thể khác.
- Những nhu cầu về an ninh và an toàn: Là các nhu cầu như ăn ở, sinh sống an
toàn, không bị de đọa, an ninh, chuẩn mực, luật lệ
- Những nhu cầu xã hội hay nhu cầu liên kết và chấp nhận: Là các nhu cầu về
tình yêu được chấp nhận, bạn bè, xã hội
- Những nhu cầu được tôn trọng: Là các nhu cầu về tự trọng, tôn trọng người
khác, được người khác tôn trọng, địa vị
- Những nhu cầu tự thể hiện hay tự thân vận động: Là các nhu cầu như chân,
thiện, mỹ, tự chủ, sáng tạo, hài hước
Maslow đã chia các nhu cầu thành hai cấp: cấp cao và cấp thấp. Nhu cầu cấp
thấp là các nhu cầu sinh học và nhu cầu an ninh/an toàn. Nhu cầu cấp cao bao gồm các
nhu cầu xã hội, tôn trọng, và tự thể hiện. Sự khác biệt giữa hai loại này là các nhu cầu
cấp thấp được thỏa mãn chủ yếu từ bên ngoài trong khi đó các nhu cầu cấp cao lại
được thỏa mãn chủ yếu là từ nội tại của con người.
Maslow cho rằng làm thỏa mãn các nhu cầu ở cấp thấp là dễ làm hơn so với việc

nó là nhân tố động cơ. Khi các nhu cầu này được thỏa mãn thì nó không còn là yếu tố
động cơ nữa, lúc đó các nhu cầu ở cấp độ cao hơn sẽ xuất hiện.
Thuyết cấp bậc nhu cầu của Maslow đã có một ẩn ý quan trọng đối với các nhà
quản trị đó là muốn lãnh đạo nhân viên thì điều quan trọng là bạn phải hiểu người lao
động của bạn đang ở cấp độ nhu cầu nào. Từ sự hiểu biết đó cho phép bạn đưa ra các
giải pháp phù hợp cho việc thỏa mãn nhu cầu của người lao động đồng thời bảo đảm
đạt đến các mục tiêu tổ chức.
b. Lý thuyết Alderfer
Clayton Alderfer giáo sư đại học Yale đã tiến hành sắp xếp lại nghiên cứu của
Maslow và đưa ra kết luận của mình. Ông cho rằng: hành động của con người bắt
nguồn từ nhu cầu - cũng giống như các nhà nghiên cứu khác - song ông cho rằng con
người cùng một lúc theo đuổi việc thỏa mãn ba nhu cầu cơ bản: nhu cầu tồn tại, nhu
cầu quan hệ và nhu cầu phát triển.
(1) Nhu cầu tồn tại (Existence needs) bao gồm những đòi hỏi vật chất tối cần thiết
cho sự tồn tại của con người, nhóm nhu cầu này có nội dung giống như nhu cầu sinh lý
và nhu cầu an toàn của Maslow.
(2) Nhu cầu quan hệ (Relatedness needs) là những đòi hỏi về quan hệ và tương
tác qua lại giữa các cá nhân. Nhu cầu quan hệ bao gồm nhu cầu xã hội và một phần
nhu cầu tự trọng (được tôn trọng).
(3) Nhu cầu phát triển (Growth needs) là đòi hỏi bên trong mỗi con người cho sự
phát triển cá nhân, nó bao gồm nhu cầu tự thể hiện và một phần nhu cầu tự trọng (tự
trọng và tôn trọng người khác).
Điều khác biệt ở thuyết này là Alderfer cho rằng con người cùng một lúc theo
đuổi việc thỏa mãn tất cả các nhu cầu chứ không phải chỉ một nhu cầu như quan điểm
Maslow. Hơn nữa, thuyết này còn cho rằng trong khi một nhu cầu nào đó bị cản trở và
không được thỏa mãn thì con người có xu hướng dồn nỗ lực của mình sang thỏa mãn
các nhu cầu khác. Tức là nếu nhu cầu tồn tại bị cản trở, con người sẽ dồn nỗ lực của
mình sang việc theo đuổi nhu cầu quan hệ và nhu cầu phát triển. Điều này giải thích
khi cuộc sống khó khăn con người có xu hướng gắn bó với nhau hơn, quan hệ giữa họ
tốt hơn và họ dồn nỗ lực đầu tư cho tương lai nhiều hơn.

riêng của mình. (Harold Koontz và cộng sự, 1992)
d. Lý thuyết kỳ vọng của Victor Vroom
Vroom cho rằng con người sẽ được thúc đẩy trong việc thực hiện những công
việc để đạt tới một mục tiêu nếu họ tin vào giá trị của mục tiêu đó và họ có thể thấy
được rằng những công việc họ làm sẽ giúp cho họ đạt được mục tiêu. (Harold Koontz
và cộng sự, 1992)
10

Vroom đưa ra giả thiết là động cơ thúc đẩy sẽ cao khi nhân viên cảm thấy:
- Sự nỗ lực cao dẫn đến việc thực hiện công việc cao.
- Sự thực hiện công việc cao sẽ dẫn đến đạt được phần thưởng mong muốn.
Lý thuyết này xoay xung quanh ba vấn đề:
- Kỳ vọng (Expectancy): là sự nhận thức rằng nỗ lực sẽ đưa đến hoàn thành công
việc ở mức độ nào đó.
- Sự nỗ lực (Effort): sự thực hiện sẽ đưa đến các phần thưởng.
- Giá trị (Valence): Mức độ mong muốn về phần thưởng của một cá nhân.
Vroom cho rằng người nhân viên chỉ được động viên khi nhận thức của họ về cả
ba vấn đề trên là tích cực. Nói các khác là khi họ tin rằng nỗ lực của họ sẽ cho ra kết
quả tốt hơn, kết quả đó sẽ dẫn đến phần thưởng xứng đáng và phần thưởng đó có ý
nghĩa và phù hợp với mục tiêu cá nhân của họ.
Như vậy, có rất nhiều khái niệm về động cơ, sự cố gắng và nỗ lực và dường như
các nhà lý thuyết học đã không thể thống nhất để đưa ra một định nghĩa chung cho
khái niệm này. Theo Gardner (1985) động cơ bao gồm bốn khía cạnh, đó là mục tiêu,
sự nỗ lực, sự mong muốn đạt được mục tiêu đó và thái độ tích cực đối với hoạt động
đang được nói đến. Ames & Ames (1989) định nghĩa động cơ là sự thúc đẩy để tạo ra
và duy trì những ý định và các hành động tìm kiếm mục tiêu. Như vậy, động cơ quan
trọng vì nó quyết định mức độ tham gia và thái độ tích cực của sinh viên đối với việc
học. Thật thú vị khi biết rằng, nhiều nhà nghiên cứu đã xem động cơ là một trong
những yếu tố chính quyết định sự thành công trong sự phát triển ngôn ngữ thứ
hai/ngoại ngữ. Oxford và Shearin (1994) cho rằng động cơ (motivation) quyết định

Gardner và Lambert (1972) đã phân loại động cơ thành động cơ thâm nhập
(integrative motivation) và động cơ thực dụng (instrumental motivation). Họ định
nghĩa động cơ thâm nhập (Integrative motivation) như sau: định hướng thâm nhập
(integrative orientation) là sự thích thú trong học ngôn ngữ thứ hai do sự quan tâm
chân thành của cá nhân đối với con người và văn hóa thuộc nhóm ngôn ngữ khác.
Động cơ này xuất hiện khi người học có mong muốn được gắn bó và thâm nhập vào
nền văn hóa của ngôn ngữ đích. Norris-Holt (2001) cũng cho rằng động cơ thâm nhập
thể hiện ở thái độ tích cực của người học đối với nhóm ngôn ngữ đích và mong muốn
thâm nhập vào cộng đồng ngôn ngữ đó. Theo ý kiến của Finnegan (1999, tr.568) loại
động cơ này là nền tảng khiến cho việc thu thập thành công một phạm vi rộng lớn về
từ vựng và cách phát âm giống người bản địa.
Đối lập với động cơ thâm nhập là động cơ thực dụng (instrumental motivation).
Động cơ này thể hiện ở sự mong muốn phải đạt được cái gì đó thực tế hay cụ thể từ
quá trình học ngôn ngữ thứ hai (Hudson, 2000). Với động cơ thực dụng, mục đích của
12

việc tiếp nhận ngôn ngữ trở nên thiết thực hơn, chẳng hạn như để đáp ứng những yêu
cầu của trường học hay để tốt nghiệp đại học, xin việc làm, yêu cầu được trả lương cao hơn
dựa vào năng lực ngôn ngữ, đọc tài liệu kỹ thuật hoặc đạt được vị thế xã hội cao hơn.
Tóm lại, động cơ thâm nhập (integrative motivation) và động cơ thực dụng
(instrumental motivation) đều là những nhân tố cơ bản tạo nên sự thành công trong
quá trình học ngoại ngữ. Trong đó, động cơ thâm nhập được cho rằng có thể duy trì sự
thành công lâu dài của người học. Động cơ thực dụng được chứng minh có thể khiến
người học thành công khi người học không có cơ hội được sử dụng ngôn ngữ đích và
chính vì thế người học sẽ không có dịp để giao tiếp với những thành viên thuộc nhóm
ngôn ngữ đích.
b. Động cơ nội tại và động cơ bên ngoài (Intrinsic vs. Extrinsic motivation)
Động cơ nội tại và động cơ bên ngoài đã được nghiên cứu một cách rộng rãi và
chính sự phân loại thành hai loại động cơ này đã đóng góp những hiểu biết quan
trọng ở cả hai lĩnh vực thực hành giáo dục và thực hành phát triển.

của sinh viên phụ thuộc vào tuổi, mức thu nhập hàng tháng và giới tính.
1.1.4. Hoạt động học của sinh viên
1.1.4.1. Khái niệm
Học tập là một hoạt động nhận thức, chỉ khi có nhu cầu hiểu biết học sinh mới
tích cực học tập. Nhu cầu hiểu biết đó chính là động cơ nhận thức của học sinh trong
học tập.
Học sinh vừa là đối tượng vừa là chủ thể trong hoạt động dạy học. Vì vậy trong
quản lý hoạt động học của học sinh cần làm cho giáo viên nhận thấy trách nhiệm này
là đặc biệt quan trọng, vì nó là khâu quan trọng góp phần nâng cao chất lượng dạy học
trong nhà trường.
Không gian hoạt động học tập của học sinh là từ trong lớp, ngoài lớp đến ở nhà.
Thời gian hoạt động học của học sinh bao gồm giờ học trên lớp, giờ học ở nhà và thời
gian thực hiện các hình thức học tập khác.
Trong việc quản lý hoạt động học tập của học sinh, chúng ta cần bao quát được cả
không gian, thời gian và các hình thức học tập để điều hòa cân đối chung, điều khiển
chúng hoạt động phù hợp với tính chất và quy luật hoạt động dạy học.
Vấn đề đặt ra trong quản lý hoạt động học của học sinh không phải chỉ trên bình
diện khoa học giáo dục mà còn là một đòi hỏi có ý nghĩa về tinh thần trách nhiệm của
giáo viên đối với sự nghiệp đào tạo thế hệ trẻ.
1.1.4.2. Một số yêu cầu trong quản lý hoạt động học của sinh viên
+ Giáo dục sinh viên có tinh thần, thái độ, động cơ học tập đúng đắn, được cụ thể
hóa trong nội quy học tập để học sinh rèn luyện thường xuyên thành những thói quen
tự giác;
+ Phát huy tính tích cực chủ động, sáng tạo trong học tập của sinh viên;
14

+ Hình thành nền nếp học tập cho học sinh;
+ Hoạt động học tập phải bảo đảm hiệu quả dạy học và nâng cao chất lượng học
tập cho toàn thể học sinh và từng học sinh.
1.1.5. Nỗ lực học tập của sinh viên

tương lai, có tác động thúc đẩy nhu cầu thành công. Nhu cầu tự điều khiển có tác động
điều chỉnh nhu cầu thành công ở mức độ không gây thiệt hại đến sự phát triển của
nhân cách. Nhu cầu thành công cần cả hai yếu tố đó để có thể trở thành động cơ học
tập đúng đắn.
Theo GS.VS Nguyễn Văn Hiệu - người gắn bó với giảng đường ĐH hơn 40 năm:
“Chất lượng giảng dạy phụ thuộc vào nhiều yếu tố, trong đó có hai yếu tố quan trọng
nhất, quyết định nhất. Yếu tố thứ nhất là người học muốn học và có động cơ học tập
chân chính: học để hiểu biết, thành người có tài phục vụ cho xã hội và làm giàu cho
bản thân. Yếu tố thứ hai là người thầy. Để học trò đạt được những mơ ước chân chính
cần phải có những người thầy hết sức tâm huyết, muốn giúp cho học trò của mình đạt
được điều đó” (Theo bài viết: “GS.VS Nguyễn Văn Hiệu - Thành công bắt nguồn từ đam
mê và sáng tạo” của tác giả: Trần Đỗ Diệp Anh). Đó là những nhận định của GS. VS
Nguyễn Văn Hiệu về việc xác định động cơ học tập của sinh viên là vô cùng cần thiết.
1.2. Tổng quan tài liệu nghiên cứu
Trong thời gian vừa qua, đã có nhiều nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan
đến sự cố gắng nỗ lực của khách hàng chung và cố gắng nỗ lực học tập nói riêng.
Nghiên cứu của TS Hồ Huy Tựu “Vận dụng lý thuyết hành vi hoạch định (TPB)
để giải thích động cơ của người tiêu dùng cá tại thành phố Nhà Trang”. Mục đích của
nghiên cứu này là khám phá sự tác động của các nhân tố thái độ, ảnh hưởng xã hội,
kiểm soát hành vi, thói quen, cảm xúc lẫn lộn và kiến thức lên động cơ của người tiêu
dùng cá. Bằng kỹ thuật phân tích định lượng, các chứng cứ về độ phù hợp của mô
hình, độ tin cậy và độ giá trị của các thang đo đã được kiểm định. Ngoại trừ tác động
của thói quen không có ý nghĩa thống kê, cả năm yếu tố còn lại đều có có ý nghĩa,
trong đó nhân tố cảm xúc lẫn lộn có ảnh hưởng âm, các yếu tố khác đều có ảnh hưởng
dương đến ý định hành vi. Kết quả này là phù hợp với các nghiên cứu tương tự trước
đây (chẳng hạn, Olsen, 2002, 2005).
Mặc dù các lý thuyết hành vi trên thế giới được ứng dụng một cách rộng rãi vào
lĩnh vực marketing, ở nước ta một số nghiên cứu cũng được triển khai trong lĩnh vực
dịch vụ (chẳng hạn, Nguyễn Thị Mai Trang & Nguyễn Đình Thọ, 2003), nhưng chưa
tìm thấy một nghiên cứu nào đề cập đến thị trường thủy sản Việt Nam. Vì vậy nghiên


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status