Chuyên đề tốt nghiệp
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
CNH – HĐH: Công nghiệp hóa – hiện đại hóa.
HĐND: Hội đồng nhân dân.
KT – XH: Kinh tế - xã hội.
GPMB: Giải phóng mặt bằng.
QSDĐ: Quyền sử dụng đất.
VLXD: Vật liệu xây dựng.
TTCN: Tiểu thủ công nghiệp.
TNHH: Trách nhiệm hữu hạn.
UBND: Ủy ban nhân dân.
XDCB: Xây dựng cơ bản.
1
Chuyên đề tốt nghiệp
LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài.
Đầu tư xây dựng cơ bản là một hoạt động đầu tư vô cùng quan trọng,
tạo ra hệ thống cơ sở hạ tầng phục vụ cho sự phát triển kinh tế xã hội, là tiền
đề cơ bản để thực hiện công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước. Quản lý đầu
tư xây dựng cơ bản là một hoạt động quản lý kinh tế đặc thù, phức tạp và luôn
luôn biến động nhất là trong điều kiện môi trường pháp lý, các cơ chế chính
sách quản lý kinh tế còn chưa hoàn chỉnh thiếu đồng bộ và luôn thay đổi như
ở nước ta hiện nay.
Vũ Thư là một trong tám huyện thuộc tỉnh Thái Bình – là một tỉnh
nông nghiệp, có truyền thống cách mạng. Đóng góp vào sự thành công của sự
nghiệp đổi mới nền kinh tế Thái Bình nói chung và thay đổi bộ mặt của Vũ
Thư nói riêng phải kể đến vai trò của các công tụ tài chính trong việc phân bổ
và sử dụng hợp lý các nguồn lực và vai trò của các giải pháp kinh tế tài chính,
góp phần tăng cường quản lý vốn đầu tư xây dựng cơ bản từ Ngân sách Nhà
nước trên địa bàn huyện Vũ Thư.
Ngoài phần mở bài và kết luận, đề tài được chia thành 3 chương:
- Chương I: Một số vấn đề chung về vốn đầu tư xây dựng cơ bản từ
ngân sách Nhà nước.
- Chương II: Thực trạng quản lý vốn đầu tư xây dựng cơ bản từ ngân
sách Nhà nước trên địa bàn huyện Vũ Thư giai đoạn 2004 – 2007.
3
Chuyên đề tốt nghiệp
- Chương III: Những giải pháp chủ yếu nhằm tăng cường quản lý vốn
đầu tư xây dựng cơ bản từ ngân sách Nhà nước trên địa bàn huyện Vũ Thư
giai đoạn 2008 – 2010.
6. Lời cảm ơn.
Trong quá trình nghiên cứu, mặc dù đã có nhiều cố gắng nhưng do
trình độ và thời gian còn hạn chế nên đề tài không tránh khỏi những thiếu sót.
Em rất mong nhận được sự góp ý của các thầy cô giáo. Em xin chân thành
cảm ơn sự giúp đỡ của các cô chú, các anh chị tại phòng Tài chính – Kế
hoạch huyện Vũ Thư, đặc biệt là sự hướng dẫn tận tình của GS.TS Đàm Văn
Nhuệ trong suốt thời gian thực tập và hoàn thành đề tài nghiên cứu này.
4
Chuyên đề tốt nghiệp
CHƯƠNG I:MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ VỐN ĐẦU TƯ XÂY
DỰNG CƠ BẢN TỪ NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC.
1.1. Khái niệm đầu tư và đặc điểm của hoạt động đầu tư.
1.1.1. Khái niệm đầu tư.
Đầu tư là hoạt động kinh tế gắn với việc sử dụng vốn dài hạn nhằm
mục đích sinh lợi.
Vốn đầu tư bao gồm các dạng sau:
- Tiền tệ các loại.
- Hiện vật hữu hình: tư liệu sản xuất, tài nguyên.
loại các hoạt động đầu tư người ta căn cứ vào một số tiêu thức :
* Phân loại theo lĩnh vực đầu tư.
Phân làm 2 loại :
- Đầu tư vào lĩnh vực sản xuất : Đó là hoạt động đầu tư trong các doanh
nghiệp, cơ sở kinh tế có hoạt động sản xuất kinh doanh trực tiếp bao gồm đầu
tư xây dựng mới, cải tiến công nghệ, đầu tư mở rộng.
- Đầu tư vào lĩnh vực phi sản xuất: Lĩnh vực không sản xuất ra sản
phẩm hàng hoá trực tiếp: văn hoá, giáo dục, quốc phòng, an ninh, quản lý nhà
nước, cơ sở hạ tầng.
* Phân loại theo thời gian thực hiện đầu tư.
Người ta chia thành 3 loại :
6
Chuyên đề tốt nghiệp
- Đầu tư ngắn hạn: Là đầu tư có thời gian tích luỹ dưới 1 năm
- Đầu tư trung hạn: Là đầu tư có thời gian từ 1-5 năm
- Đầu tư dài hạn: Là đầu tư có thời gian trên 5 năm
* Phân loại theo quan hệ sở hữu của Chủ đầu tư với hoạt động đầu tư
: Phân làm 2 loại : Đầu tư gián tiếp, đầu tư trực tiếp.
- Đầu tư gián tiếp: Đây là hình thức đầu tư bằng cách mua các chứng
chỉ có giá như : Cổ phiếu, trái phiếu với số lượng giới hạn. Với hình thức đầu
tư này người bỏ vốn không trực tiếp tham gia công việc quản trị kinh doanh.
- Đầu tư trực tiếp: Là hình thức đầu tư mà người bỏ vốn đồng thời là
người trực tiếp tham gia quản lý giá trị kinh doanh (Giá trị trực tiếp hoặc có
quyền lựa chọn những giá trị trực tiếp).
Đầu tư trực tiếp được phân ra làm 2 loại: Đầu tư chuyển dịch và đầu tư phát
triển.
+ Đầu tư chuyển dịch : Về hình thức đầu tư chuyển dịch cơ bản giống
như đầu tư gián tiếp hay đầu tư tài chính tức là cũng thông qua việc mua các
cổ phiếu nhưng ở đây là mua lại cổ phiếu trên thị trường chứng khoán chứ
dựng mới hay mở rộng các bộ phận
sản xuất chính đang hoạt động hoặc có thể xây dựng mới hoặc mở rộng các
công trình phục vụ hay phụ trợ.
- Đầu tư hiện đại hóa công trìng đang sử dụng: gồm các đầu tư nhằm
thay đổi, cải tiến các thiết bị công nghệ và các thiết bị khác đã bị hao mòn
(hữu hình và vô hình) trên cơ sơ kỹ thuật mới và nhằm nâng cao các thông số
kỹ thuật của các thiết bị đó.
8
Chuyên đề tốt nghiệp
Thông thường hiện đại hóa và cải tạo tiến hành đồng thời vì vậy tính toán đầu
tư chỉ xem trọng 3 trường hợp: đầu tư mới, đầu tư mở rộng và đầu tư cải tạo,
hiện đại hóa.
1.1.3. Đặc điểm hoạt động đầu tư.
Thứ nhất: Đầu tư được coi là yếu tố khởi đầu cơ bản cho sự phát triển
và sinh lợi. Tuy nhiên, có nhiều yếu tố tạo nên tăng trưởng và sinh lợi, trong
đó có yếu tố đầu tư. Nhưng để bắt đầu một quá trình sản xuất, tái sản xuất mở
rộng, trước hết phải có vốn đầu tư. Nhờ sự chuyển hoá vốn đầu tư thành vốn
kinh doanh kết hợp các yếu tố khác, các tổ chức kinh doanh tiến hành hoạt
động, từ đó tạo ra tăng trưởng và sinh lợi, vốn đầu tư được coi là một trong
những yếu tố cơ bản nhất. Đặc điểm này không chỉ nói lên vai trò quan trọng
của đầu tư trong quá trình phát triển kinh tế mà còn chỉ ra động lực quan trọng
kích thích các nhà đầu tư nhằm mục đích sinh lời.
Thứ hai: Đầu tư đòi hỏi một khối lượng vốn lớn. Khối lượng vốn đầu tư
lớn là yếu tố khách quan nhằm tạo ra những điều kiện vật chất và kỹ thuật cần
thiết đảm bảo cho yếu tố tăng trưởng và phát triển như: Xây dựng một hệ
thống kết cấu hạ tầng (KCHT), xây dựng các cơ sở khu công nghiệp, cụm
công nghiệp, công nghiệp, chế biến... Đầu tư cho các lĩnh vực đó đòi hỏi
lượng vốn đầu tư bỏ rất lớn, vì vậy nếu không sử dụng vốn có hiệu quả sẽ gây
nhiều phương hại đến sự phát triển kinh tế - xã hội.
phẩm. Vì vậy, một số nhà kinh tế cho rằng đầu tư là quá trình làm bất động
hoá một số vốn nhằm thu lợi nhuận trong nhiều thời kỳ nối tiếp sau này, cho
nên muốn nâng cao hiệu quả sử dụng vốn đầu tư cần chú ý các điều kiện đầu
10
Chuyên đề tốt nghiệp
tư có trọng điểm nhằm đưa nhanh dự án vào khai thác, sử dụng và phát huy
hiệu quả đồng vốn đầu tư bỏ ra.
Khi xét hiệu quả đầu tư cần quan tâm xem xét toàn bộ ba giai đoạn của
quá trình đầu tư, tránh tình trạng thiên lệch chỉ tập trung vào giai đoạn thực
hiện dự án mà không chú ý vào thời gian khai thác dự án.
Do chu kỳ sản xuất xây dựng kéo dài nên việc hoàn vốn được các nhà
đầu tư đặc biệt quan tâm, đó là phải lựa chọn trình tự bỏ vốn thích hợp để
giảm đến mức tối đa thiệt hại do ứ đọng vốn ở sản phẩm dở dang. Việc coi
trọng hiệu quả kinh tế do đầu tư mang lại là rất cần thiết nên phải có phương
án lựa chọn tối ưu, đảm bảo trình tự xây dựng cơ bản. Thời gian hoàn vốn là
một chỉ tiêu rất quan trọng trong việc đo lường, đánh giá hiệu quả sử dụng
vốn đầu tư.
Thứ tư: Đầu tư là một lĩnh vực có rủi ro lớn. Rủi ro trong lĩnh vực đầu
tư xây dựng cơ bản chủ yếu là do thời gian của quá trình đầu tư kéo dài.
Trong thời gian này các yếu tố kinh tế, chính trị và cả tự nhiên biến động sẽ
gây nên những thất thoát lãng phí, gọi chung là những tổn thất mà các nhà đầu
tư không lường được hết khi lập dự án. Các yếu tố bão lụt, động đất, chiến
tranh... có thể tàn phá các công trình được đầu tư. Sự thay đổi cơ chế chính
sách của nhà nước như: Thay đổi chính sách thuế, thay đổi mức lãi suất, thay
đổi nguồn nhiên liệu, nhu cầu tiêu thụ sản phẩm cũng có thể gây nên thiệt hại
cho các nhà đầu tư. Tuy nhiên, những nhà đầu tư dám mạnh dạn đầu tư thì họ
cũng phải lựa chọn những biện pháp nhằm tránh hoặc hạn chế được rủi ro, khi
đó họ sẽ thu được những món lời lớn, và đây là niềm hi vọng kích thích các
nhà đầu tư.
12
Chuyên đề tốt nghiệp
khi đó ngành khác bị cắt giảm thì xu hướng sản xuất sẽ giảm đi. Thông qua
công cụ đầu tư làm thay đổi cơ cấu kinh tế, chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Như
vậy đầu tư đã trực tiếp điều chỉnh cơ cấu kinh tế trên bình diện quốc gia và ở
từng địa phương.
* Cơ cấu kinh tế hợp lý: là cơ cấu được bảo đảm sự phân chia trong
các ngành, các lĩnh vực của nền kinh tế sao cho phát huy tốt nhất, khai thác
triệt để nhất mọi tiềm năng về tài nguyên, về vốn, về lao động cũng như các
thế mạnh của các ngành. Cơ cấu kinh tế hợp lý còn tạo ra các điều kiện thuận
lợi cho quá trình phát triển kinh tế trong giai đoạn tiếp theo.
Thông qua nhiều công cụ khác như công cụ về tài chính (thuế suất) tiền
tệ (lãi suất) và công cụ về đầu tư nhà nước trong từng thời kỳ có thể ưu tiên
dành vốn đầu tư cho những ngành quan trọng, những ngành mà nhà nước có
thế mạnh có khả năng đóng góp lớn vào nhịp độ tăng trưởng của nền kinh tế,
từ đó từng bước tạo ra được cơ cấu kinh tế hợp lý trong từng thời kỳ.
- Đầu tư cơ bản tạo điều kiện mở rộng quan hệ hợp tác quốc tế.
Ở các nước khác nhau có tài nguyên có tiềm lực về lao động phong
phú, nhưng không tự khai thác được do thiếu vốn. Ngược lại có những
nướckhông có tài nguyên nhưng có vốn lớn, có tiềm năng về khoa học kỹ
thuật, trình độ khoa học kỹ thuật tiên tiến, dẫn đến tìm miền đất mới để đầu
tư, nhằm tìm kiếm lợi nhuận, hai bên cùng hợp tác và cùng có lợi.
Đầu tư là nhịp cầu nối liền giữa các quốc gia trên thế giới về các lĩnh
vực tài nguyên, lao động, khoa học công nghê, hợp tác liên danh với nhau để
cùng nhau thúc đẩy nền kinh tế mỗi nước phát triển mở rộng sự hợp tác đầu
tư quốc tế. Xu hướng kết hợp hợp tác đầu tư quốc tế có tính chất toàn cầu.
Tóm lại, mỗi một quốc gia mỗi một khu vực trên thế giới có sức mạnh
riêng về tài nguyên, vốn , kỹ thuật, công nghệ, lao động vv… Sự phân bổ các
Chuyên đề tốt nghiệp
- Việt nam có một chế độ chính trị xã hội ổn định, an ninh tốt.
Những yếu tố trên là tiền đề kêu gọi vốn hợp tác đầu tư quốc tế. Thực
tế các năm qua lượng vốn đầu tư nước ngoài vào Việt nam ngày càng nhiều,
riêng năm 2006 đã đạt trên 9 tỷ đô la đã chứng tỏ điều đó.
1.2. Vốn đầu tư xây dựng cơ bản từ ngân sách Nhà nước.
1.2.1. Khái niệm nguồn vốn đầu tư xây dựng cơ bản và nguồn vốn
đầu tư xây dựng cơ bản từ ngân sách Nhà nước.
- Vốn đầu tư: Là số vốn được sử dụng để thực hiện mục đích đầu tư đã
dự định, là yếu tố tiền đề của mọi quá trình đầu tư.
- Vốn đầu tư có những đặc trưng cơ bản sau:
Một là: Vốn được biếu hiện bằng giá trị của nguồn tài sản. Có nghĩa là
vốn phải đại diện cho một lượng giá trị thực của tài sản hữu hình và tài sản vô
hình.
Hai là: Vốn phải gắn với một chủ sở hữu nhất định. Do vậy, nếu ở đâu
không xác định được đúng chủ sở hữu vốn, thì ở đó việc sử dụng vốn sẽ lãng
phí kém hiệu quả.
Ba là: Trong nền kinh tế thị trường, vốn được coi là hàng hoá đặc biệt.
Vốn là hàng hoá vì: cũng giống như các hàng hoá khác, nó có giá trị và giá trị
sử dụng. Có chủ sở hữu và là một giá trị đầu vào của quả trình sản xuất. Nó là
hàng hoá đặc biệt vì : Thứ nhất, nó có thể tách rời quyền sở hữu vốn và quyền
sử dụng vốn. Thứ hai, vốn là yếu tố đầu vào phải tính chi phí như các hàng
hoá khác; nhưng bản thân nó lại được cấu thành trong đầu ra của nền kinh tế.
Thứ ba, chí phí vốn phải được quan niệm như chi phí khác (vật liệu, nhân
công, máy ...) kể cả trong trường hợp vốn tự có bỏ ra.
15
Chuyên đề tốt nghiệp
Bốn là: Vốn có giá trị về mặt thời gian. Ở tại các thời điểm khác nhau
thì giá trị của đồng vốn cũng khác nhau. Đồng tiền càng dàn trải theo thời
+ Nguồn vốn nước ngoài huy động cho đầu tư XDCB thông qua: vay
nợ, nhận viện trợ, hoặc thu hút vốn đầu tư trực tiếp từ nước ngoài (FDI) ...
+ Nguồn vốn trong nước là toàn bộ nguồn lực của một quốc gia có thể
huy động vào đầu tư, thực hiện các mục tiêu kinh tế – xã hội của đất nước.
Nguồn vốn trong nước bao gồm: nguồn tiết kiệm, nguồn nhân lực, nguồn tài
nguyên thiên nhiên và nguồn vốn vô hình.
1.2.2. Vị trí vai trò của nguồn vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước đối với
đầu tư xây dựng cơ bản.
Ngân sách Nhà nước là một phạm trù kinh tế và một phạm trù lịch sử.
Sự hình thành và phát triển của ngân sách Nhà nước gắn liền với sự xuất hiện
và phát triển của nền kinh tế hàng hoá tiền tệ trong phương thức sản xuất của
các cộng đồng và Nhà nước của từng cộng đồng. Nói cách khác sự ra đời của
Nhà nước, sự tồn tại của nền kinh tế hàng hoá tiền tệ là tiền đề cho sự phát
sinh, tồn tại và phát triển của ngân sách Nhà nước.
Nói đến nguồn vốn là nói đến nguồn gốc xuất xứ để có được vốn đó.
Đứng trên giác độ một chủ dự án, để hình thành một dự án đầu tư xây dựng
có thể sử dụng các nguồn vốn sau đây:
- Nguồn vốn ngân sách Nhà nước.
- Nguồn vốn vay.
- Nguồn vốn tự bổ sung.
- Nguồn động viên trong quá trình xây dựng công trình.
17
Chuyên đề tốt nghiệp
Nguồn vốn của ngân sách Nhà nước là một bộ phận vốn đầu tư xây
dựng cơ bản được nhà nước tập trung vào ngân sách Nhà nước dùng để đầu tư
xây dựng công trình theo mục tiêu phát triển kinh tế của nhà nước cho đầu tư
xây dựng cơ bản. Trong mỗi thời kỳ, tùy vào điều kiện lịch sử cụ thể và
nhiệm vụ phát triển kinh tế – xã hội của đất nước mà nguồn vốn ngân sách
Nhà nước bố trí cho đầu tư xây dựng cơ bản với tỷ lệ khác nhau.
- Chi cải tạo sửa chữa: Đó là khoản chi nhằm phục hồi hoặc nâng cao
năng lực của những công trình dự án đã có sẵn.
+ Xét theo cơ cấu công nghệ vốn đầu tư, chi đầu tư xây dựng cơ bản
bao gồm:
- Chi xây lắp: đó là các khoản chi để xây dựng lắp gép các kết cấu kiến
trúc và lắp đặt thiết bị vào đúng vị trí và theo đúng thiết kế đã được duyệt.
- Chi thiết bị: đó là các khoản chi cho mua sắm máy móc thiết bị bao
gồm cả chi phí vận chuyển, lưu kho, lưu bãi, chi phí bảo dưỡng tại kho, bãi ở
hiện trường cũng như các chi phí liên quan về thuế và bảo hiểm thiết bị.
- Chi kiến thiết cơ bản khác: đây là khoản chi đảm bảo điều kiện cho
quá trình xây dựng, lắp đặt và đưa dự án đi vào sử dụng. Nó bao gồm các
khoản chi như: chi chuẩn bị đầu tư, chi khảo sát thiết kế, chi quản lý dự án ...
+ Xét theo giai đoạn đầu tư, chi đầu tư xây dựng cơ bản bao gồm:
- Chi cho giai đoạn chuẩn bị đầu tư: là những khoản chi để xác định sự
cần thiết phải đầu tư, quy mô đầu tư, điều tra khảo sát thăm dò và lực chọn
địa điểm xây dựng, lập dự án đầu tư, thẩm định dự án đầu tư và quyết đinh
đầu tư.
19
Chuyên đề tốt nghiệp
- Chi phí cho giai đoạn thực hiện và kết thúc xây dựng, đưa dự án vào
khai thác sử dụng. Đây là khoản chi liên quan đến quá trình xây dựng từ khi
khởi công đến khi hoàn thành dự án đưa vào khai thác sử dụng.
1.2.3. Đặc điểm chi ngân sách Nhà nước cho đầu tư xây dựng cơ bản.
Chi đầu tư xây dựng cơ bản từ ngân sách Nhà nước có đặc điểm sau:
Một là: Chi đầu tư xây dựng cơ bản là khoản chi lớn của ngân sách Nhà
nước nhưng không mang tính ổn định.
Hai là: Chi đầu tư xây dựng cơ bản gắn liền với đặc điểm xây dựng cơ
bản và công tác xây dựng cơ bản.
1.3. Quản lý vốn đầu tư xây dựng cơ bản từ ngân sách Nhà nước.
đầu tư, phê duyệt quyết toán đầu tư.
* Giai đoạn kết thúc đầu tư: nhà nước quản lý thông qua việc nghiệm thu bàn
giao công trình (công trình hoàn chỉnh theo thiết kế được duyệt, vận hành
đúng yêu cầu kỹ thuật và nghiệm thu đạt yêu cầu chất lượng).
Nhà nước quản lý chặt chẽ vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước trên cơ sở
tính toán tổng mức thu, mức chi ngân sách xác định chi vào mục đích đầu tư
xây dựng cơ bản. Khối lượng vốn đầu tư thuộc ngân sách nhà nước gồm: vốn
trong nướ, vốn nước ngoài, được phân bổ cho các bộ, ngành và các địa
phương theo mục tiêu cụ thể. Nguồn vốn này thuộc nguồn vốn nhà nước được
nhà nước trực tiếp chi phối theo kế hoạch vì vậy có khả năng theo dõi, nắm
bắt được từ khâu giao kế hoạch cho đến khi thực hiện qua các bộ, ngành, địa
phương, qua hệ thống ngành dọc thống kê, qua hệ thống cấp phát tài chính.
21
Chuyên đề tốt nghiệp
1.3.2. Các nhân tố ảnh hưởng đến kết quả quản lý vốn đầu tư xây dựng
cơ bản từ ngân sách Nhà nước.
Có hàng loạt các nhân tố ảnh hưởng đến kết quả quản lý vốn đầu tư từ
ngân sách Nhà nước. Các nhân tố này tác động đến cả hai thành phần của
quản lý vốn đầu tư : Lợi ích, công dụng của đối tượng do kết quả của quá
trình đầu tư tạo nên khi chưa được đưa vào sử dụng và vốn đầu tư chi ra nhằm
tạo nên kết quả ấy. Do đó, các nhân tố này tồn tại theo suốt thời gian của quá
trình đầu tư từ khi có chủ trương đầu tư, ngay trong quá trình thực hiện đầu
tư, xây dựng và đặc biệt là trong cả quá trình khai thác, sử dụng các đối tượng
đầu tư hoàn thành. Một số nhân tố chủ yếu ảnh hưởng trực tiếp đến kết quả
quản lý vốn đầu tư xây dựng cơ bản từ ngân sách Nhà nước, đó là:
Công nghiệp hoá là nhiệm vụ trọng tâm trong suốt thời kỳ xây dựng
nền sản xuất lớn hiện đại. Vì vậy, chiến lược công nghiệp hoá ảnh hưởng đến
chiến lược và chính sách kinh tế khác. Lựa chọn chiến lược công nghiệp hoá
đúng sẽ tạo cho việc lựa chọn các chiến lược chính sách khác đúng đắn. Đó là
Các dự án đầu tư từ nguồn vốn ngân sách Nhà nước được lập hàng năm
phải đảm bảo đúng đối tượng đầu tư và được cấp có thẩm quyền phê duyệt.
Các dự án đầu tư được lập với chất lượng cao sẽ góp phần tăng cường quản lý
vốn đầu tư xây dựng cơ bản từ ngân sách Nhà nước.
Chất lượng công tác lập dự án đầu tư được thể hiện ngay từ chủ trương
đầu tư : đặc điểm đầu tư, quy mô đầu tư, theo đúng quy hoạch ngành, vùng,
lãnh thổ. Làm tốt công tác thẩm định dự án trước khi ra quyết định đầu tư,
không những đem lại nguồn lợi lớn cho xã hội mà còn giúp cho công tác quy
hoạch, hoạch định chiến lược đầu tư ngày càng được nâng cao về chất lượng.
23
Chuyên đề tốt nghiệp
* Về quyết định đầu tư và kế hoạch vốn đầu tư:
Quyết định đầu tư và kế hoạch vốn đầu tư là công cụ quản lý nhà nước
đối với vốn đầu tư xây dựng cơ bản, nó là một bộ phận quan trọng trong dự
toán chi ngân sách nhà nước hàng năm. Đối với các dự án sử dụng vốn ngân
sách nhà nước, kế hoạch vốn đầu tư hàng năm là điều kiện tiên quyết để được
thanh toán vốn, đồng thời là mức vốn tối đa mà chủ đầu tư được phép thanh
toán cho dự án trong niên độ năm kế hoạch. Vì vậy quyết định đầu tư chuẩn
xác và thực hiện tốt công tác xây dựng thông báo kế hoạch vốn đầu tư điều đó
đồng nghĩa với việc quyết định đầu tư và bố trí vốn đầu tư cho từng dự án
hàng năm phù hợp với quy hoạch phát triển ngành, lãnh thổ được duyệt và
đảm bảo được tiến độ theo quy định giúp cho quá trình giải ngân nhanh gọn,
tăng cường quản lý vốn đầu tư từ ngân sách Nhà nước, cụ thể như sau:
- Bố trí tập trung danh mục các dự án đầu tư vào kế hoạch đầu tư hàng
năm, luôn đảm bảo sát tiến độ thi công của dự án được phê duyệt.
- Không bố trí vốn cho các dự án chưa đủ điều kiện đầu tư hay chưa đủ
điều kiện thanh toán.
- Kế hoạch luôn theo sát mục tiêu định hướng của kế hoạch phát triển
kinh tế - xã hội của địa phương.
soát vốn đầu tư XDCB từ ngân sách Nhà nước được thực hiện theo thông tư
số 27/2007/TT-BTC ngày 03/04/2007 của Bộ Tài chính về quy trình kiểm
soát thanh toán vốn đầu tư của hệ thống Kho bạc Nhà nước. Trên cơ sở hồ sơ,
chứng từ hợp pháp, hợp lệ, đúng định mức và đơn giá do Nhà nước quy định
đảm bảo điều kiện cấp phát thanh toán. Thực hiện tốt quy trình kiểm soát,
thanh toán đảm bảo đúng trình tự, đúng nội dung và quy định cụ thể trách
nhiệm của mỗi cá nhân, mỗi bộ phận trong việc kiểm soát thanh toán vốn đầu
25