Giải pháp nhằm tăng cường quản lý vốn đầu tư xây dựng cơ bản từ Ngân sách Nhà nước trên địa bàn huyện Vũ Thư - Pdf 17

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
CNH – HĐH: Công nghiệp hóa – hiện đại hóa.
HĐND: Hội đồng nhân dân.
KT – XH: Kinh tế - xã hội.
GPMB: Giải phóng mặt bằng.
QSDĐ: Quyền sử dụng đất.
VLXD: Vật liệu xây dựng.
TTCN: Tiểu thủ công nghiệp.
TNHH: Trách nhiệm hữu hạn.
UBND: Ủy ban nhân dân.
XDCB: Xây dựng cơ bản.

LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài.
Đầu tư xây dựng cơ bản là một hoạt động đầu tư vô cùng quan trọng,
tạo ra hệ thống cơ sở hạ tầng phục vụ cho sự phát triển kinh tế xã hội, là tiền
đề cơ bản để thực hiện công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước. Quản lý đầu
tư xây dựng cơ bản là một hoạt động quản lý kinh tế đặc thù, phức tạp và luôn
luôn biến động nhất là trong điều kiện môi trường pháp lý, các cơ chế chính
sách quản lý kinh tế còn chưa hoàn chỉnh thiếu đồng bộ và luôn thay đổi như
ở nước ta hiện nay.
Vũ Thư là một trong tám huyện thuộc tỉnh Thái Bình – là một tỉnh
nông nghiệp, có truyền thống cách mạng. Đóng góp vào sự thành công của sự
nghiệp đổi mới nền kinh tế Thái Bình nói chung và thay đổi bộ mặt của Vũ
Thư nói riêng phải kể đến vai trò của các công tụ tài chính trong việc phân bổ
và sử dụng hợp lý các nguồn lực và vai trò của các giải pháp kinh tế tài chính,
góp phần tăng cường quản lý vốn đầu tư xây dựng cơ bản từ Ngân sách Nhà
nước trên địa bàn huyện Vũ Thư.
Tuy nhiên, trong vài năm gần đây tốc độ tăng trưởng kinh tế còn chậm,
khối lượng vốn đầu tư được huy động rất hạn hẹp so với nhu cầu vốn đầu tư.
Mặt khác, tình trạng thất thoát, lãng phí trong hoạt động đầu tư XDCB còn


- Chương III: Những giải pháp chủ yếu nhằm tăng cường quản lý vốn
đầu tư xây dựng cơ bản từ ngân sách Nhà nước trên địa bàn huyện Vũ Thư
giai đoạn 2008 – 2010.
6. Lời cảm ơn.
Trong quá trình nghiên cứu, mặc dù đã có nhiều cố gắng nhưng do
trình độ và thời gian còn hạn chế nên đề tài không tránh khỏi những thiếu sót.
Em rất mong nhận được sự góp ý của các thầy cô giáo. Em xin chân thành
cảm ơn sự giúp đỡ của các cô chú, các anh chị tại phòng Tài chính – Kế
hoạch huyện Vũ Thư, đặc biệt là sự hướng dẫn tận tình của GS.TS Đàm Văn
Nhuệ trong suốt thời gian thực tập và hoàn thành đề tài nghiên cứu này.

CHƯƠNG I:MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ VỐN ĐẦU TƯ XÂY
DỰNG CƠ BẢN TỪ NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC.
1.1. Khái niệm đầu tư và đặc điểm của hoạt động đầu tư.
1.1.1. Khái niệm đầu tư.
Đầu tư là hoạt động kinh tế gắn với việc sử dụng vốn dài hạn nhằm
mục đích sinh lợi.
Vốn đầu tư bao gồm các dạng sau:
- Tiền tệ các loại.
- Hiện vật hữu hình: tư liệu sản xuất, tài nguyên.
- Hàng hóa vô hình: sức lao động, công nghệ, thông tin, nhãn
hiệu, bằng phát minh, biểu tượng uy tín hàng hóa...
- Các phương tiện đặc biệt khác: cổ phiếu, hối phiếu, vàng bạc,
đá quý...
Hai đặc trưng cơ bản của đầu tư là tính sinh lợi và thời gian kéo dài.
Tính sinh lợi là đặc trưng hàng đầu của đầu tư. Không thể coi là đầu tư,
nếu việc sử dụng tiền vốn không nhằm mục đích thu lại một khoản tiền có giá
trị lớn hơn khoản tiền đã bỏ ra ban đầu.
Như vậy đầu tư khác với:


- Đầu tư ngắn hạn: Là đầu tư có thời gian tích luỹ dưới 1 năm
- Đầu tư trung hạn: Là đầu tư có thời gian từ 1-5 năm
- Đầu tư dài hạn: Là đầu tư có thời gian trên 5 năm
* Phân loại theo quan hệ sở hữu của Chủ đầu tư với hoạt động đầu tư
: Phân làm 2 loại : Đầu tư gián tiếp, đầu tư trực tiếp.
- Đầu tư gián tiếp: Đây là hình thức đầu tư bằng cách mua các chứng
chỉ có giá như : Cổ phiếu, trái phiếu với số lượng giới hạn. Với hình thức đầu
tư này người bỏ vốn không trực tiếp tham gia công việc quản trị kinh doanh.
- Đầu tư trực tiếp: Là hình thức đầu tư mà người bỏ vốn đồng thời là
người trực tiếp tham gia quản lý giá trị kinh doanh (Giá trị trực tiếp hoặc có
quyền lựa chọn những giá trị trực tiếp).
Đầu tư trực tiếp được phân ra làm 2 loại: Đầu tư chuyển dịch và đầu tư phát
triển.
+ Đầu tư chuyển dịch : Về hình thức đầu tư chuyển dịch cơ bản giống
như đầu tư gián tiếp hay đầu tư tài chính tức là cũng thông qua việc mua các
cổ phiếu nhưng ở đây là mua lại cổ phiếu trên thị trường chứng khoán chứ
không phải mua lần đầu và để có thể thực hiện được hình thức này Nhà đầu tư
phải mua lại hay nắm giữ một khối lượng cổ phiếu đủ lớn để có thể tham gia
được (Có chân) trong Hội đồng quản trị. Trong hình thức đầu tư này Tổng tài
sản của doanh nghiệp là không tăng mà chỉ có sự thay đổi về quyền sở hữu tài
sản trong doanh nghiệp từ tay người này sang tay người khác.
+ Đầu tư phát triển: Là hình thức đầu tư mà thông qua việc xây dựng
mới , mở rộng quy mô công suất, đổi mới ứng dụng công nghệ kỹ thuật để
thay đổi về mặt chất hoặc mặt lượng các tài sản cố định và năng lực sản xuất
nói chung. Từ đó mà tiến hành ổn định phát triển kinh doanh nhằm thu được

lợi nhuận hoặc nhằm đạt được lợi ích kinh tế xã hội. Chỉ có đầu tư phát triển
mới là hình thức đầu tư trực tiếp tạo ra các năng lực sản xuất mới, tạo ra nhiều
việc làm và là nguồn động lực thúc đẩy kinh tế xã hội phát triển.

rộng, trước hết phải có vốn đầu tư. Nhờ sự chuyển hoá vốn đầu tư thành vốn
kinh doanh kết hợp các yếu tố khác, các tổ chức kinh doanh tiến hành hoạt
động, từ đó tạo ra tăng trưởng và sinh lợi, vốn đầu tư được coi là một trong
những yếu tố cơ bản nhất. Đặc điểm này không chỉ nói lên vai trò quan trọng
của đầu tư trong quá trình phát triển kinh tế mà còn chỉ ra động lực quan
trọng kích thích các nhà đầu tư nhằm mục đích sinh lời.
Thứ hai: Đầu tư đòi hỏi một khối lượng vốn lớn. Khối lượng vốn đầu tư
lớn là yếu tố khách quan nhằm tạo ra những điều kiện vật chất và kỹ thuật cần
thiết đảm bảo cho yếu tố tăng trưởng và phát triển như: Xây dựng một hệ
thống kết cấu hạ tầng (KCHT), xây dựng các cơ sở khu công nghiệp, cụm
công nghiệp, công nghiệp, chế biến... Đầu tư cho các lĩnh vực đó đòi hỏi
lượng vốn đầu tư bỏ rất lớn, vì vậy nếu không sử dụng vốn có hiệu quả sẽ gây
nhiều phương hại đến sự phát triển kinh tế - xã hội.
Thứ ba: Quá trình đầu tư xây dựng cơ bản phải được trải qua một thời
gian lao động rất dài mới có thể đưa vào khai thác, sử dụng được, do thời gian
hoàn vốn kéo dài vì sản phẩm đầu tư xây dựng cơ bản mang tính đặc biệt và
tổng hợp, sản xuất không theo một dây chuyền hàng loạt, mà mỗi công trình,
mỗi dự án có kiểu cách, tính chất khác nhau cụ thể như sau:

- Sản phẩm của xây dựng thường cố định, đó là công trình gắn liền với
đất.
- Sản phẩm xây dựng có quy mô lớn, kết cấu phức tạp có tính chất tổng
hợp về kinh tế, chính trị, kỹ thuật, nghệ thuật... Thời gian để hoàn thành một
quá trình xây dựng thường dài, phụ thuộc vào quy mô, tính chất của sản
phẩm.
- Quá trình thi công xây dựng chịu ảnh hưởng lớn của yếu tố tự nhiên:
Nắng, mưa, bão, gió... Vì vậy điều kiện sản xuất xây dựng thiếu tính ổn định,
luôn luôn biến động và thường bị gián đoạn. Đặc điểm này đòi hỏi trong quá
trình tổ chức thi công xây dựng phải có kế hoạch tổ chức, phân công hợp lý
nhằm tận dụng triệt để máy móc thiết bị, vật tư lao động... hạn chế tối đa

gây nên những thất thoát lãng phí, gọi chung là những tổn thất mà các nhà
đầu tư không lường được hết khi lập dự án. Các yếu tố bão lụt, động đất,
chiến tranh... có thể tàn phá các công trình được đầu tư. Sự thay đổi cơ chế
chính sách của nhà nước như: Thay đổi chính sách thuế, thay đổi mức lãi suất,
thay đổi nguồn nhiên liệu, nhu cầu tiêu thụ sản phẩm cũng có thể gây nên
thiệt hại cho các nhà đầu tư. Tuy nhiên, những nhà đầu tư dám mạnh dạn đầu
tư thì họ cũng phải lựa chọn những biện pháp nhằm tránh hoặc hạn chế được
rủi ro, khi đó họ sẽ thu được những món lời lớn, và đây là niềm hi vọng kích
thích các nhà đầu tư.
Những đặc điểm của hoạt động đầu tư trên đây sẽ là cơ sở khoa học
giúp cho việc đề xuất những biện pháp quản lý vốn đầu tư thích hợp, hữu hiệu

nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế và hiệu quả xã hội của quá trình đầu tư xây
dựng cơ bản.
1.1.4. Vị trí, vai trò của đầu tư đối với sự phát triển nền kinh tế.
- Đầu tư cơ bản là yếu tố quyết định đến trình độ kinh tế của mỗi nước:
Đầu tư tạo ra tài sản cố định, đầu tư khoa học công nghệ để có sự thay
đổi về chủng loại và chất lượng sản phẩm.
Trình độ phát triển kinh tế của mỗi nước chủ yếu được đánh giá thông
qua 2 chỉ tiêu: Thu nhập bình quân đầu người và mức độ tăng trưởng kinh tế
hàng năm. Để đạt được 2 yếu tố này không còn con đường nào khác là phải
tiến hành đầu tư vào các tài sản cố định, đầu tư vào nghiên cứu khoa học, kỹ
thuật công nghệ để không ngừng nâng cao năng lực sản xuất xã hội, từ đó tạo
cơ sở cho sự phát triển kinh tế ngày càng mạnh hơn. Có thể nói “ Đầu tư cho
hiện tại quyết định thành công về phát triển kinh tế trong tương lai ” Đầu tư
phát triển là động lực phát triển của nền kinh tế, hiệu qủa đầu tư quyết định
đến sự phát triển kinh tế của mỗi doanh nghiệp, mỗi quốc gia.
- Đầu tư cơ bản cải biến cơ cấu nền kinh tế và góp phần tạo ra cơ cấu
kinh tế hợp lý:
* Cơ cấu kinh tế: là sự phân chia các ngành nghề, các lĩnh vực trong

cùng nhau thúc đẩy nền kinh tế mỗi nước phát triển mở rộng sự hợp tác đầu
tư quốc tế. Xu hướng kết hợp hợp tác đầu tư quốc tế có tính chất toàn cầu.
Tóm lại, mỗi một quốc gia mỗi một khu vực trên thế giới có sức mạnh
riêng về tài nguyên, vốn , kỹ thuật, công nghệ, lao động vv… Sự phân bổ các

tài nguyên này thường là không đều các nước có vốn có kỹ thuật công nghệ
lại có thể thiếu lao động (hoặc chi phí lao động cao) thiếu nguồn nguyên vật
liệu, thị trường tiêu thụ bão hoà, mức độ cạnh tranh ngày càng gay gắt. Trong
khi đó ở một số nước khác có tình trạng ngược lại, vì vậy để khai thác được
thế mạnh mỗi bên tất yếu các nước phải phối hợp với nhau trong hoạt động
đầu tư quốc tế. Kết quả là những công trình, dự án có tham gia của một hay
nhiều bên thông qua hợp đồng đầu tư này các nước phát triển có được nguồn
nguyên vật liệu mới, có nơi sử dụng đồng vốn đầu tư có khả năng sinh lợi
cao, có được thị trường tiêu thụ sản phẩm rộng lớn, cón có thế bán được công
nghệ kỹ thuật bát đầu lỗi thời. Ngược lại các nước chậm phát triển sẽ khai
thác được tài nguyện của mình góp phần phát triển nền kinh tế tạo ra nhiều
việc làm thông qua đó còn học tập được các công nghệ kỹ thuật mới và các
kinh nghiệm quản lý tiên tiến trong các doanh nghiệp. Việt Nam là một trong
các nước chậm phát triển, đòi hỏi sự phát triển nhanh và mạnh trong thời gian
ngắn thì mới có thể đuổi kịp được các quốc gia lân cận. Tích luỹ vốn của
nước ta còn rất hạn chế vì vậy Việt Nam cần mở rộng việc gọi vốn và hợp tác
đầu tư quốc tế đây là một nguồn lực quan trọng để phát triển nền kinh tế nước
ta trong thời gian hiện tại và một số năm tới. Việt Nam có một số thế mạnh để
gọi vốn nước ngoài đó là:
- Vị trí địa lý kinh tế thuận lợi nằm ở trung tâm phát triển kinh tế thế
giới (Đông nam á, các nước Asian) có bờ biển dài thuận lợi cho việc giao
thương hàng hải, là cửa ngõ của các quốc gia nằm trong lục địa.
- Việt nam có nguồn tài nguyên thiên nhiên khoáng sản tương đối
phong phú.
- Có lực lượng lao động dồi dào (chi phí thấp) rất thuận lợi cho các

xác định) hiệu quả của một dự án đầu tư người ta phải đưa các khoản thu và
chi về cùng một thời điểm để đánh giá và so sánh.
Năm là: Vốn phải được tích tụ và tập trung đến một lượng nhất định, đủ
sức để đầu tư cho một dự án kinh doanh.
Sáu là: Vốn phải vận động trong đầu tư kinh doanh và sinh lãi. Vốn
được biểu hiện bằng tiền, nhưng chưa hẳn tiền là vốn. Tiền chỉ là dạng tiềm
năng của vốn, để tiền trở thành vốn, thì đồng tiền đó phải vận động trong môi
trường của hoạt động đầu tư, kinh doanh và sinh lãi.
Từ những phân tích trên đây ta có thể khái niệm về vốn đầu tư như sau:
Vốn đầu tư là giá trị tài sản xã hội (bao gồm tài sản tài chính, tài sản
hữu hình, tài sản vô hình) được bỏ vào đầu tư nhằm mang lại hiệu quả trong
tương lai.
- Nguồn vốn đầu tư:
Nước ta đang trên con đường hội nhập và phát triển. Vốn là yếu tố quan
trọng nhất đối với sự phát triển là tăng trưởng kinh tế. Là một trong những
nhân tố quyết định sự thành công của sự nghiệp CNH - HĐH đất nước.
Vốn đầu tư phát triển kinh tế được hình thành từ hai nguồn: Nguồn vốn
trong nước và nguồn vốn ngoài. Ngày nay, trong điều kiện quốc tế hoá đời
sống KT – XH, mở cửa và hội nhập, hầu hết các quốc gia đều kết hợp huy
động cả hai nguồn vốn trên. Đối với nước ta và các nước đang phát triển khac
có tốc độ tăng trưởng chậm, thu nhập bình quân đầu người thấp, nguồn vốn
tiết kiệm so với GDP còn hạn hẹp, thì việc kết hợp huy động vốn nước ngoài

với vốn trong nước là rất cần thiết, trong đó vốn trong nước giữu vai trò chủ
đạo. Điều đó không những khắc phục được tình trạng thiếu vốn mà còn có
điều kiện tiếp thu được công nghệ hiện đại của nước ngoài; nâng cao trình độ
quản lý và tăng thêm việc làm.
+ Nguồn vốn nước ngoài huy động cho đầu tư XDCB thông qua: vay
nợ, nhận viện trợ, hoặc thu hút vốn đầu tư trực tiếp từ nước ngoài (FDI) ...
+ Nguồn vốn trong nước là toàn bộ nguồn lực của một quốc gia có thể

nước sử dụng một phần vốn tiền tệ đã tập trung được dưới hình thức: Thuế,
phí, lệ phí... để đầu tư cho xây dựng cơ sở hạ tầng kinh tế, văn hoá xã hội.
Các khoản chi này có tác dụng thúc đẩy nền kinh tế tăng trưởng và phát triển.
Với ý nghĩa đó người ta coi khoản chi này là chi cho tích luỹ.
Chi đầu tư xây dựng cơ bản là khoản chi được ưu tiên hàng đầu trong
tổng chi ngân sách Nhà nước. Chi đầu tư xây dựng cơ bản của ngân sách Nhà
nước là quá trình sử dụng một phần vốn tiền tệ đã được tập trung vào ngân
sách Nhà nước nhằm thực hiện tái sản xuất giản đơn và tái sản xuất mở rộng,
từng bước tăng cường và hoàn thiện cơ sở vật chất kỹ thuật cho nền kinh tế.
Chi đầu tư xây dựng cơ bản từ ngân sách Nhà nước được thực hiện hàng năm
nhằm mục đích để đầu tư xây dựng các công trình, kết cấu hạ tầng kinh tế,
văn hoá, xã hội, an ninh, quốc phòng, các công trình không có khả năng thu
hồi vốn.
Để quản lý có hiệu quả vốn đầu tư xây dựng cơ bản từ ngân sách Nhà
nước chúng ta cần tiến hành phân loại khoản chi này. Phân loại các khoản chi

là việc sắp xếp các khoản chi có cùng mục đích, cùng tính chất thành loại chi.
Chúng ta có thể phân loại chi đầu tư xây dựng cơ bản từ ngân sách Nhà nước
theo các tiêu thức sau:
+ Xét theo hình thức tài sản cố định, chi đầu tư xây dựng cơ bản gồm:
- Chi xây dựng mới: Đó là các khoản chi để xây dựng mới các công
trình, dự án mà kết quả là làm tăng thêm tài sản cố định, tăng thêm năng lực
sản xuất mới của nền kinh tế quốc dân. Đây là khoản chi có tỷ trọng lớn.
- Chi cải tạo sửa chữa: Đó là khoản chi nhằm phục hồi hoặc nâng cao
năng lực của những công trình dự án đã có sẵn.
+ Xét theo cơ cấu công nghệ vốn đầu tư, chi đầu tư xây dựng cơ bản
bao gồm:
- Chi xây lắp: đó là các khoản chi để xây dựng lắp gép các kết cấu kiến
trúc và lắp đặt thiết bị vào đúng vị trí và theo đúng thiết kế đã được duyệt.
- Chi thiết bị: đó là các khoản chi cho mua sắm máy móc thiết bị bao

Theo nguyên tắc, nguồn vốn ngân sách nhà nước phải được nhà nước
quản lý chặt chẽ từ khâu giao kế hoạch cho đến khi đầu tư. Do vậy nguồn vốn
đầu tư xây dựng cơ bản cung được quản lý chặt chẽ.
* Công tác lập kế hoạch đầu tư: bộ kế hoạch đầu tư tổng hợp kế hoạch vốn
đầu tư từ ngân sách của tất cả các thành phần kinh tế trong nền kinh tế để dự

báo, hướng dẫn các ngành, lĩnh vực cần tập trung đầu tư; những cơ chế áp
dụng trong kỳ kế hoạch. Sở kế hoạch đầu tư phải xác định cụ thể danh mục
đầu tư và kế hoạch vốn đầu tư của các dự án sử dụng nguồn vốn ngân sách
nhà nước. Nhà nước quản lý chặt chẽ việc thực hiện kế hoạch đầu tư phù hợp
với quy hoạch, kế hoạch, cơ cấu ngành vùng. Với các công trình, dự án quan
trọng quốc gia trong kế hoạch hàng năm và từng thời kỳ phát triển thi do
Quốc hội quyết định: Thủ tướng Chính phủ duyệt mục tiêu,tổng mức vốn đầu
tư để bố trí kế hoạch cho các bộ, địa phương thực hiện.
* Giai đoạn chuẩn bị đầu tư: nhà nước quản lý chặt chẽ thông qua báo cáo
đầu tư, dự án đầu tư và thẩm duyệt dự án đầu tư, thẩm định các báo cáo
nghiên cứu khả thi, báo cáo thiết kế kỹ thuật và quyết định đầu tư.
* Giai đoạn thực hiện đầu tư: được nhà nước quản lý chặt chẽ thông qua việc
phê duyệt quyết định đấu thầu, kết quả đấu thầu, giám sát quá trình thực hiện
đầu tư, phê duyệt quyết toán đầu tư.
* Giai đoạn kết thúc đầu tư: nhà nước quản lý thông qua việc nghiệm thu bàn
giao công trình (công trình hoàn chỉnh theo thiết kế được duyệt, vận hành
đúng yêu cầu kỹ thuật và nghiệm thu đạt yêu cầu chất lượng).
Nhà nước quản lý chặt chẽ vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước trên cơ sở
tính toán tổng mức thu, mức chi ngân sách xác định chi vào mục đích đầu tư
xây dựng cơ bản. Khối lượng vốn đầu tư thuộc ngân sách nhà nước gồm: vốn
trong nướ, vốn nước ngoài, được phân bổ cho các bộ, ngành và các địa
phương theo mục tiêu cụ thể. Nguồn vốn này thuộc nguồn vốn nhà nước được
nhà nước trực tiếp chi phối theo kế hoạch vì vậy có khả năng theo dõi, nắm
bắt được từ khâu giao kế hoạch cho đến khi thực hiện qua các bộ, ngành, địa

từng lĩnh vực: thuỷ lợi, giao thông, cầu đường... Tăng cường quản lý nhà
nước về quy hoạch, kiến trúc và xây dựng, đảm bảo thực hiện các mục tiêu
mà Đại hội Đảng đã thông qua.
Để đạt được mục tiêu của đại hội Đảng đã đề ra, yêu cầu đặt ra là
nguồn vốn đầu tư thực hiện lấy từ đâu? Vốn đầu tư của ngân sách Nhà nước
được lấy từ nguồn thu tập trung vào ngân sách Nhà nước. Tỷ lệ tăng trưởng
kinh tế của nước ta khá ổn định. Trong những năm tới vốn đầu tư sẽ được
định hướng đầu tư vào một số lĩnh vực chủ yếu then chốt như sau:
- Tiếp tục tập trung đầu tư các công trình phục vụ sản xuất nông
nghiệp.
- Đầu tư các ngành công nghiệp, nhất là các ngành mũi nhọn như công
nghiệp chế biến...
- Đầu tư các ngành khoa học công nghệ và giáo dục - đào tạo.
- Đầu tư các ngành khác như : công cộng, cấp thoát nước...
* Về công tác lập các dự án đầu tư:
Các dự án đầu tư từ nguồn vốn ngân sách Nhà nước được lập hàng năm
phải đảm bảo đúng đối tượng đầu tư và được cấp có thẩm quyền phê duyệt.
Các dự án đầu tư được lập với chất lượng cao sẽ góp phần tăng cường quản lý
vốn đầu tư xây dựng cơ bản từ ngân sách Nhà nước.
Chất lượng công tác lập dự án đầu tư được thể hiện ngay từ chủ trương
đầu tư : đặc điểm đầu tư, quy mô đầu tư, theo đúng quy hoạch ngành, vùng,
lãnh thổ. Làm tốt công tác thẩm định dự án trước khi ra quyết định đầu tư,
không những đem lại nguồn lợi lớn cho xã hội mà còn giúp cho công tác quy
hoạch, hoạch định chiến lược đầu tư ngày càng được nâng cao về chất lượng.

* Về quyết định đầu tư và kế hoạch vốn đầu tư:
Quyết định đầu tư và kế hoạch vốn đầu tư là công cụ quản lý nhà nước
đối với vốn đầu tư xây dựng cơ bản, nó là một bộ phận quan trọng trong dự
toán chi ngân sách nhà nước hàng năm. Đối với các dự án sử dụng vốn ngân
sách nhà nước, kế hoạch vốn đầu tư hàng năm là điều kiện tiên quyết để được

của Bộ xây dựng. Công tác nghiệm thu được coi trọng đúng mức và thực hiện
đúng quy trình sẽ góp phần nâng cao chất lượng công trình, đảm bảo cho
đồng vốn đầu tư bỏ ra mang lại hiệu quả cao trong suốt thời gian sử dụng.
* Về công tác thanh toán vốn đầu tư.
Căn cứ vào quy định của Chính Phủ, của Bộ Tài chính, các cơ quan
chức năng tiến hành hướng dẫn quy trình kiểm soát thanh toán vốn đầu tư cụ
thể, quy định về đối tượng được tạm ứng, điều kiện được tạm ứng, mức vốn
tạm ứng, quy trình kiểm soát tạm ứng vốn, thanh toán khối lượng xây lắp,
thiết bị, chi phí khác và quy trình kiểm soát thanh toán khối lượng hoàn thành.
Trong công tác thanh toán vốn đầu tư XDCB phải luôn đảm bảo thực
hiện đúng quy trình và quy định về quản lý vốn đầu tư XDCB. Công tác kiểm
soát vốn đầu tư XDCB từ ngân sách Nhà nước được thực hiện theo thông tư
số 27/2007/TT-BTC ngày 03/04/2007 của Bộ Tài chính về quy trình kiểm
soát thanh toán vốn đầu tư của hệ thống Kho bạc Nhà nước. Trên cơ sở hồ sơ,
chứng từ hợp pháp, hợp lệ, đúng định mức và đơn giá do Nhà nước quy định
đảm bảo điều kiện cấp phát thanh toán. Thực hiện tốt quy trình kiểm soát,
thanh toán đảm bảo đúng trình tự, đúng nội dung và quy định cụ thể trách
nhiệm của mỗi cá nhân, mỗi bộ phận trong việc kiểm soát thanh toán vốn đầu

Trích đoạn Những kết quả đạt được Những tồn tại và nguyên nhân của tồn tại Nguyên nhân của tồn tại: Thực trạng quản lý vốn đầu tư xây dựng cơ bản từ Ngân sách Nhà Các giải pháp nhằm tăng cường quản lý vốn đầu tư xây dựng cơ bản từ
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status