MỤC LỤC
CHƯƠNG 1 3
NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ THẨM ĐỊNH TÀI CHÍNH 3
DỰ ÁN VÀ CHẤT LƯỢNG THẨM ĐỊNH DỰ ÁN 3
CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 3
2.1.2. Hoạt động 28
2.1.3. Những thành tích đã đạt được 29
2.2.1. Những văn bản hướng dẫn 29
2.2.2. Công tác Thẩm định độc lập tại OCEANBANK 31
2.2.2.1. Trình tự thực hiện thẩm định 31
2.2.2.2. Quy trình thẩm định tại OceanBank 31
2.2.2.2.2 . Thẩm định năng lực tài chính của chủ đầu tư 32
2.2.2.2.3 Báo cáo kết quả của quá trình thẩm định 42
2.3.2. Một số hạn chế 45
LỜI NÓI ĐẦU
Trong những năm qua, tuy phải đương đầu với những khó khăn thách thức
nhưng đất nước ta đã giành được những thành tựu quan trọng và khá toàn diện, giữ
vững ổn định kinh tế chính trị - xã hội. Các chỉ tiêu kinh tế hàng đầu đều đạt và
vượt kế hoạch, trật tự an toàn xã hội, an ninh quốc phòng đất nước được giữ vững.
Tình hình hoạt động của Ngân hàng thương mại (NHTM) có nhiều biến chuyển tích
cực mặc dù phải chịu những tác động ảnh hưởng của nhiều yếu tố bất lợi trong nước
cũng như trên thế giới.
Với tư cách là tổ chức trung gian tài chính nhận tiền gửi và tiến hành các hoạt động
cho vay và đầu tư. NHTM đã thâm nhập vào mọi lĩnh vực kinh tế - xã hội như là người
mở đường, người tham gia, người quyết định đối với mọi quá trình sản xuất kinh doanh.
NHTM ngày càng đóng vai trò là trung tâm tiền tệ, tín dụng và thanh toán của các thành
phần kinh tế, là định chế tài chính quan trọng nhất của nền kinh tế.
Trong điều kiện kinh doanh đó, buộc các ngân hàng phải tìm mọi biện pháp để
nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng mình để có thể đứng vững
trên thị trường. Tuy nhiên, hiệu quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng phụ thuộc
rất nhiều yếu tố, một trong những yếu tố chủ quan thuộc về ngân hàng đó là công
NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ THẨM ĐỊNH TÀI CHÍNH
DỰ ÁN VÀ CHẤT LƯỢNG THẨM ĐỊNH DỰ ÁN
CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1. Tổng quan về Ngân hàng thương mại
1.1.1 Khái niệm NHTM:
Ngân hàng là một trong các tổ chức tài chính quan trọng nhất của nền kinh tế.
Ngân hàng bao gồm nhiều loại tùy thuộc và sự phát triển của nền kinh tế nói chung
và hệ thống tài chính nói riêng, trong đó NHTM chiểm tỷ trọng lớn nhất về quy mô
tài sản, thị phần và số lượng các ngân hàng.
NHTM là tổ chức thu hút tiết kiệm lớn nhất trong hầu hết mọi nền kinh tế.
Hàng các nhân, hộ gia đình và các doanh nghiệp, các tổ chức kinh tế xã hội đều gửi
tiền tại Ngân hàng. NHTM đóng vai trò là người thủ quỹ cho toàn xã hội. Thu nhập
từ ngân hàng là nguồn thu nhập quan trọng của nhiều hộ gia đình. NHTM là tổ chức
cho vay chủ yêu đối với các doanh nghiệp, cá nhân, hộ gia đình. Đối với doanh
nghiệp, ngân hàng là tổ chức cung cấp tín dụng để phục vụ cho việc mua hàng, mua
sắm trang thiết bị. Khi doanh nghiệp và người mua hàng phải thanh toán cho các
khoản mua hàng hóa và dịch vụ, họ thường sử dụng séc, ủy nhiệm chi, thẻ tín dụng
hay tài khoản điện tử… và khi họ cần thông tin tài chính hay lập kế hoạch tài chính,
họ thường tìm tới NHTM để tìm sự tư vấn.
NHTM đã hình thành tồn tại và phát triển hàng trăm năm gắn liền với sự
phát triển của kinh tế hàng hoá. Sự phát triển hệ thống NHTM đã có tác động rất
lớn và quan trọng đến quá trình phát triển của nền kinh tế hàng hoá, ngược lại kinh
tế hàng hoá phát triển mạnh mẽ đến giai đoạn cao nhất là nền kinh tế thị trường thì
NHTM cũng ngày càng được hoàn thiện và trở thành những định chế tài chính
không thể thiếu được.
1.1.2. Hoạt động của NHTM:
Do nhu cầu tất yếu của nền kinh tế thị trường, các ngân hàng không ngừng tăng
3
cường mở rộng các danh mục các sản phẩm ngân hàng nhằm đáp ứng nhu cầu ngày
càng đa dạng của khách hàng, sử dụng nguồn vốn có hiệu quả và thu lợi nhuận cao. Tuy
đầu tư vào bất động sản. Tất nhiên, loại hình tín dụng này rủi ro tương đối cao.
Các khoản cho vay, nơi tiềm ẩn những rủi ro hơn cả, luôn chiếm phần lớn
trong tổng tài sản của NH. Nếu không được kiểm soát chặt chẽ các khoản vay rất dễ
bị thất bại, trực tiếp ảnh hưởng tới lợi nhuận, thậm chí đe doạ sự tồn tại của ngân
hàng khi những nhu cầu rút tiền gửi của khách hàng không được đáp ứng. Vậy thì,
cho ai vay như thế nào, quản lý việc sử dụng tiền vay, tiến hành thu nợ gốc và lãi ra
sao là những vấn đề mà ngân hàng phải giải quyết trước và trong quá trình cho
vay, nhằm có được những khoản cho vay an toàn và hiệu quả.
b. Đầu tư
Hoạt động đầu tư chủ yếu của Ngân hàng trên thị trường tài chính thông qua
việc mua bán các chứng khoán: công trái và tín phiếu. Thu nhập của Ngân hàng từ
hoạt động này là khoản chênh lệch giữa giá bán và giá mua. Ngoài ra Ngân hàng
còn hùn vốn liên doanh với các doanh nghiệp, trong quá trình đó Ngân hàng sẽ
được chia lợi nhuận từ hoạt động này.
1.1.2.3 Hoạt động cung cấp các dịch vụ:
Tận dụng vị trí uy tín, chuyên môn của mình là một trung gian tài chính có
nhiều quan hệ với khách hàng, có khả năng tiếp cận với nhiều nguồn thông tin, các
ngân hàng ngày nay sẽ cung cấp rất nhiều các dịch vụ khác nhau từ dịch vụ thanh
toán, bảo lãnh, làm đại lý cho đến việc lập két giữ tiền, của cải phục vụ cho khách
hàng. Các dịch vụ này có thể hoàn toàn độc lập hoặc có thể liên quan hỗ trợ cho các
hoạt động về huy động vốn, hoạt động tín dụng (đặc biệt là hoạt động thanh toán)
nhưng chúng đều đem lại thu nhập cho ngân hàng dưới dạng phí dịch vụ. Đối với
hầu hết các ngân hàng, thu nhập từ việc cung cấp các dịch vụ ngày càng chiếm tỷ
trọng lớn trong tổng thu nhập.
5
1.2. Thẩm định tài chính dự án của NHTM
1.2.1. Khái niệm và sự cần thiết của thẩm định tài chính dự án của NHTM
1.2.1.1. Khái niệm thẩm định tài chính dự án của NHTM
Ngân hàng thu lợi chủ yếu nhờ hoạt động cho vay. Khi tiến hành cho vay vốn,
Ngân hàng thường phải đối mặt với vô số những rủi ro. Vì một dự án thường sẽ kéo
vay vốn đầu tư dự án hay không.
1.2.1.2. Sự cần thiết của thẩm định tài chính dự án của NHTM
Ngân hàng thu lợi chủ yếu nhờ hoạt động cho vay. Chính vì vậy mỗi một
khoản tín dụng được cấp ra nhất thiết phải mang lại lợi nhuận, điều đó đồng nghĩa
với việc đảm bảo cho hoạt động được an toàn và hiệu quả. Do đó, điều ngân hàng
quan tâm nhất là khả năng hoàn trả khoản vay cả gốc lẫn lãi đúng thời hạn của
khách hàng. Do đó, việc ngân hàng phải tiến hành thẩm định dự án trên mọi phương
diện kỹ thuật, thị trường, tổ chức quản lý, tài chính… là đặc biệt quan trọng.
Một dự án như đã đề cập thường đòi hỏi một lượng vốn rất lớn, trong một thời
gian dài, phần lớn vượt quá khả năng tài chính, khả năng tự tài trợ của các doanh
nghiệp. Vì vậy họ phải huy động nguồn tài trợ từ các NHTM. Về phía NHTM, cho
vay theo dự án đầu tư là một nghiệp vụ kinh doanh truyền thống. có khả năng sinh
lời cao nhưng cũng chứa đựng nhiều rủi ro. Và đề giảm thiểu rủi ro có thể xảy ra,
các ngân hàng không còn cách nào khác là phải tiến hành thẩm định các dự án đầu
tư mà quan trọng nhất là thẩm định tài chính dự án. Vai trò quan trọng của thẩm
định dự án thể hiện ở chỗ nó là căn cứ chính yếu nhất để NHTM đưa ra quyết định
tài trợ của mình.
Về mặt nghiệp vụ, NHTM với phương châm hoạt động an toàn và hiệu quả,
công tác thẩm định dự án sẽ giúp cho ngân hàng:
• Ngân hàng có cơ sở tương đối vững chắc để xác định được hiệu quả đầu tư
vốn cũng như khả năng hoàn vốn của dự án, quan trọng hơn cả là xác định khả năng
trả nợ của chủ đầu tư.
• Ngân hàng có thể dự đoán được những rủi ro có thể xảy ra, ảnh hưởng tới
7
quá trình triển khai thực hiện dự án. Trên cơ sở này, phát hiện và bổ sung thêm các
biện pháp khắc phục hoặc hạn chế rủi ro, đảm bảo tính khả thi của dự án đồng thời
tham gia ý kiến với các cơ quan quản lý Nhà nước và chủ đầu tư để có quyết định
đầu tư đúng đắn.
• Ngân hàng có phương án hạn chế rủi ro tín dụng đến mức thấp nhất khi xác
định giá trị khoản vay, thời hạn, lãi suât, mức thu nợ và hình thức thu nợ hợp lý, tạo
•Theo Nghị định số 27/1999/NĐ-CP ngày20/4/1999 của Chính phủ sửa đổi, bổ
sung Quy chế quản lý tài chính và hạch toán kinh doanh đối với doanh nghiệp nhà nước
ban hành kèm theo Nghị định số 59/CP ngày 3/10/1996 của Chính phủ.
•Quyết định số 166/1999/QĐ-BTC ngày 30/12/1999 của Bộ trưởng Bộ tài chính về
ban hành chế độ quản lý, sử dụng và trích khấu hao tài sản cố định.
•Quyết định số 167/2000/QĐ-BTC ngày 25/10/2000 của Bộ trưởng Bộ tài chính về
việc ban hành chế độ báo cáo tài chính doanh nghiệp.
•Thông tư số 58/2002/TT-BTC ngày 28/6/2002 của Bộ Tài chính hướng dẫn Quy
chế tài chính của công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên thuộc sở hữu nhà nước, tổ
chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội.
•Quyết định số 1141-TC/QĐ/CCĐKT ngày 01/2/1995 của Bộ tài chính ban hành
chế độ kế toán đối với doanh nghiệp.
•Căn cứ định mức kinh tế kỹ thuật theo từng ngành nghề, từng vật nuôi cây trồng do
các cơ quan có chức năng ban hành.
•Các văn bản khác có liên quan
1.2.2.2 Thẩm định hồ sơ pháp lý
a. Đánh giá thủ tục pháp lý của dự án và hồ sơ vay vốn.
Hồ sơ vay vốn cần đảm bảo tính đầy đủ và hợp lệ, theo quy định của ngân
hàng các loại hồ sơ cần thiết phải bao gồm
* Hồ sơ chứng minh tư cách pháp lý của bên vay :
• Đối với khách hàng là doanh nghiệp trong nước : Hồ sơ cần có bao gồm
- Quyết định thành lập hoặc giấy phép thành lập
- Các tổng công ty 91 phải có quyết định thành lập do thủ tướng chính phủ kí
- Các tổng công ty 90 phải có quyết định thành lập do Bộ trưởng Bộ quản lý
ngành ký
- Các doanh nghiệp thuộc tỉnh thành phố trực thuộc trung ương do UBND
tỉnh thành phố trực thuộc TW kí quyết định thành lập
- Giấy chứng nhận đăng kí kinh doanh còn trong thời hạn hiệu lực: do Sở Kế
hoạch và Đầu tư nơi doanh nghiệp đóng trụ sở chính cấp, đối với hợp tác xã thì
đăng kí kinh doanh do uỷ ban nhân dân cấp huyện cấp, trừ trường hợp kinh doanh
họp hội đồng quản trị hoặc các sáng lập viên thông qua phương án vay vốn… bắt
buộc phải là bản chính và là được ký bởi người đại diện hợp pháp của bên vay. Các
tài liệu khác nếu không thể cung cấp (như: hồ sơ pháp lý, báo cáo tài chính, quyết
định bổ nhiệm giám đốc hoặc kế toán trưởng, giấy chứng minh thư nhân dân…) thì
sử dụng bản photo nhưng phải có chứng nhận của công chứng hoặc có ký đóng dấu
"Sao y bản chính" của bên vay(nếu bên vay là pháp nhân) hoặc có chữ ký của chính
người vay (nếu bên vay là thể nhân).
10
b. Đánh giá năng lực pháp lý của chủ đầu tư
Quá trình này yêu cầu cán bộ thẩm định thẩm định về lịch sử hình thành, tồn
tại và phát triển của doanh nghiệp, tư cách của chủ doanh nghiệp, liệt kê các hồ sơ
pháp lý của Chủ đầu tư: Quyết định thành lập, giấy đăng ký kinh doanh, điều lệ
hoạt động, qui chế tài chính, Nghị quyết/quyết định bổ nhiệm các chức danh chủ
chốt (Chủ tịch HĐQT, Tổng Giám đốc/Giám đốc, Kế toán trưởng, …). Các vấn đề
cần phải thẩm định trong việc đánh giá năng lực pháp lý chủ đầu tư :
• Xuất xứ hình thành doanh nghiệp
• Các bước ngoặt lớn doanh nghiệp đã trải qua: thay đổi quy mô, công suất,
loại sản phẩm, bộ máy điều hành…
• Những khó khăn, thuận lợi, lợi thế, bất lợi của công ty
• Uy tín của công ty trên thương trường: Khách hàng của doanh nghiệp là
công ty nào, nước nào? mối quan hệ làm ăn có bền vững không? Mặt hàng của
doanh nghiệp chiếm thị trường được bao nhiêu so với các doanh nghiệp cùng ngành
nghề, việc sản xuất kinh doanh có ổn định không?
1.2.2.3 Đánh giá tình hình sản xuất kinh doanh và năng lực tài chính của chủ đầu tư
1.2.2.3.1 Đánh giá tình hình sản xuất kinh doanh của chủ đầu tư
Qua các số liệu thống kê, báo cáo quyết toán hàng năm của doanh nghiệp(ít
nhất là 2 năm trở về đây) dưa vào một số các chỉ tiêu tài chính sau :
Các chỉ tiêu về hiệu quả hoạt động:
TT Tên chỉ tiêu Cách tính
1 Số ngày phải thu trung bình
{(Vốn chủ sở hữu năm 2 – Vốn chủ sở hữu năm 1)/Vốn
chủ sở hữu năm 1}*100%
4 Tăng trưởng lợi nhuận hoạt động kinh
doanh
{(Lợi nhuận HDKD năm 2 - Lợi nhuận HDKD năm 1)/
Lợi nhuận HDKD năm 1}*100%
5
Tăng trưởng lợi nhuận sau thuế
{(Lợi nhuận sau thuế năm 2 - Lợi nhuận sau thuế năm
1)/ Lợi nhuận sau thuế năm 1}*100%
6 Lợi nhuận sau thuế/Doanh thu {Lợi nhuận sau thuế/Doanh thu}*100%
7 Lợi nhuận sau thuế/Tổng tài sản (ROA) {Lợi nhuận sau thuế/Tổng tài sản }*100%
8 Lợi nhuận sau thuế/Vốn chủ sở hữu
(ROE)
{Lợi nhuận sau thuế/Vốn chủ sở hữu }*100%
9 Chi phí quản lý và bán hàng/Doanh thu {Chi phí quản lý và bán hàng/Doanh thu}*100%
10 Giá trị phải thu/Doanh thu {Giá trị phải thu/Doanh thu}*100%
11 Hàng tồn kho/Giá vốn hàng bán {Hàng tồn kho/Giá vốn hàng bán}*100%
12
Cán bộ thẩm định phải đưa ra nhận xét về các mặt sau:
Tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh có ổn định lâu dài được không? (Về lợi
nhuận, doanh số bán, mức tăng lợi nhuận hành năm? Tình hình kiểm soát còn nợ).
Chiều hướng phát triển của doanh nghiệp như thế nào (Đi lên hay đi xuống) nguyên
nhân? Vốn kinh doanh có đảm bảo và tăng trưởng không? Tình hình sử dụng tài sản của
doanh nghiệp như thế nào? Khó khăn hiện nay doanh nghiệp?
Đặc biệt đối với sản phẩm doanh nghiệp lựa chọn đầu tư trong dự án cần phải đánh
giá kỹ qui mô sản xuất, chất lượng sản phẩm, khả năng tiêu thụ mức độ cạnh tranh.
Cuối cùng Ngân hàng tiến hành phân tích năng lực tài chính của chủ đầu tư
nhằm thấy được khả năng tự cân đối các nguồn tiền có thể sử dụng để chi trả khi
cần thiết.
tốt, nếu <=0 thì năng lực tự chủ về tài chính của khách hàng rất yếu.
d. Tỷ lệ thanh toán nhanh
Tỷ lệ này cho biết trong trường hợp không còn thu nhập từ nguồn bán hàng thì
khả năng huy động các nguồn tiền có thể huy động nhanh để trả nợ. Tỷ lệ này >=1
là tốt, nếu <1 thì khả năng thanh toán có gặp khó khăn.
e. Năng lực đi vayNăng lực đi vay là khả năng xin vay vốn của doanh nghiệp. Một doanh nghiệp
có khả năng tự chủ tài chính cao thường có năng lực đi vay rất lớn. Nếu năng lực đi
vay < 0,5 thì doanh nghiệp đã đạt mức bão hoà của năng lực đi vay. Đối với doanh
nghiệp thuộc loại này, ngân hàng thường không cho vay.
14
Khả năng thanh toán nhanh =
Vốn bằng tiền
Các khoản nợ đến hạn
Năng lực đi vay =
Nguồn vốn hiện có của doanh nghiệp
Vốn thường xuyên
Tỷ lệ hiện hành =
Tài sản lưu động
Nợ ngắn hạn
f. Hệ số tài trợ
Nguồn vốn hiện có của doanh nghiệp là nguồn vốn chủ sở hữu của bảng tổng
kết tài sản. Tổng số nguồn vốn doanh nghiệp đang sử dụng là tổng cộng bên tài sản
nợ cua bảng tổng kết tài sản. Hệ số này lớn hơn kỳ trước và > 0,5 là tốt.
g. Khả năng sinh lời của tài sản
Chỉ tiêu này cho biết khả năng sinh lời của tổng thể tài sản có. Tỷ lệ này
lớn thì hiệu quả sử dụng tài sản cao và ngược lại.
Tên hệ số Cách tính
11 Hệ số đòn bẩy Tổng nợ phải trả/Vốn chủ sở hữu
22 Hệ số nợ Tổng nợ phải trả/Tổng tài sản
33 Hệ số tài sản cố
định/Tổng tài sản
Tổng Tài sản cố định/Tổng tài sản
44 Hệ số EBITDA/ Chi phí
lãi phải trả
(Lợi nhuận trước thuế + Lãi vay + Khấu hao tài sản
hữu hình và vô hình))/Lãi vay phải trả
55 Hệ số về cân đối kỳ hạn
tài sản, nguồn vốn
(Nợ Dài hạn + Vốn chủ sở hữu)/ Tài sản dài hạn
Các chỉ tiêu này dùng để đo lường mức độ rủi ro có thể bù đắp được bằng
nguồn vốn của chủ sở hữu:
- Tổng tài sản nợ/Tổng tài sản có (Tỷ lệ này càng < 1 càng tốt)
- Tổng tài sản nợ/Vốn chủ sở hữu (Tỷ lệ này càng < 1 càng tốt)
1.2.2.4 Đánh giá tính khả thi và hiệu quả của dự án
1.2.2.4.1 Đánh giá tổng mức đầu tư vốn:
Đánh giá tổng mức đầu tư vốn Đây là nội dung quan trọng đầu tiên cần xem
xét khi tiến hành phân tích tài chính dự án. Việc thẩm định chính xác tổng mức vốn
đầu tư có ý nghĩa rất quan trọng đối với tính khả thi của dự án. Nếu mức vốn đầu tư
dự tính quá thấp dự án sẽ không thực hiện được, ngược lại nếu dự tính quá cao sẽ
không phản ánh chính xác hiệu quả tài chính của dự án.
Tổng mức vốn đầu tư của dự án bao gồm toàn bộ số vốn cần thiết để thiết lập
và đưa dự án vào hoạt động. Tổng mức vốn này được chia ra thành hai loại: Vốn đầu tư
vào tài sản cố định và vốn lưu động ban đầu.
Vốn đầu tư vào tài sản cố định bao gồm: đầu tư vào trang thiết bị, dây truyền sản
xuất… tuy nhiên, Ngân hàng cũng cần phải chú ý đến chi phí "chìm" - tức là chi phí mà
doanh nghiệp bỏ ra không liên quan đến việc dự án có khả thi hay không. Điển hình là
tài sản cố định , cho xây dựng và cho mua sắm. Và các chỉ tiêu phản ánh chi phí cũng
được tính theo từng năm theo suốt vòng đời của dự án. Việc dự tính các chi phí sản
xuất, dịch vụ được dựa trên kế hoạch sản xuất hàng năm, kế hoạch khấu hao, kế hoạch
17
trả nợ của dự án. Cán bộ thẩm định xem xét tính đầy đủ của các loại chi phí, kế hoạch
trích khấu hao có phù hợp chưa…Khấu hao là một yếu tố của chi phí sản xuất. Bởi vậy
mức khấu hao có ảnh hưởng đến lợi nhuận, đến mức thuế thu nhập phải nộp hàng năm
của doanh nghiệp. Nếu khấu hao tăng, lợi nhuận giảm và do đó thuế thu nhập doanh
nghiệp giảm và ngược lại. Do vậy, việc xác định chính xác mức khấu hao có ý nghĩa
rất quan trọng trong phân tích tài chính dự án. Mức khấu hao được xác định hàng năm
lại phụ thụ thuộc vào phương pháp tính khấu hao.
Trên cơ sở số liệu dự tính về dòng tiền vào và dòng tiền ra từng năm có thể dự
tính mức lãi lỗ hàng năm của dự án. Trong thẩm định tài chính dự án, việc thẩm
định dòng tiền của dự án có thể nói là việc khó nhất. Thẩm định tài chính dự án
quan tâm tới lượng tiền đi vào (dòng vào) và đi ra (dòng ra) của dự án. Đảm bảo
cân đối thu chi (cân đối dòng tiền vào và dòng tiền ra) chính là mục tiêu quan trọng
của phân tích tài chính dự án.
1.2.2.4.3 Đánh giá các chỉ tiêu tài chính của dự án:
Một dự án được đánh giá là rất tốt khi dự án đó phải tạo ra được mức lợi
nhuận tuyệt đối - tức khối lượng của cải ròng lớn nhất; có tỷ suất sinh lời cao - ít
nhất phải cao hơn tỷ suất lãi vay hoặc suất sinh lời mong muốn hoặc suất chiết khấu
bình quân ngành hoặc thị trường; khối lượng và doanh thu hoà vốn thấp và dự án
phải nhanh chóng thu hồi vốn - để hạn chế những rủi ro bất trắc.
Xuất phát từ suy nghĩ đó, người ta có những chỉ tiêu tương ứng dùng để thẩm
định tính hiệu quả của dự án.
a. Chỉ tiêu Giá trị hiện tại ròng (NPV)
Phân tích tài chính một dự án đầu tư là phân tích căn cứ trên các dòng tiền của
dự án. Trên cơ sở các luồng tiền được dự tính, các chỉ tiêu về tài chính được tính
toán làm cơ sở cho việc ra quyết định đầu tư.
Để xác định được NPV của một dự án cần phải thực hiện các bước sau:
21
+
++
+
+
+
+
+
Trong đó: NPV là giá trị hiện tại ròng.
C
0
là vốn đầu tư ban đầu vào dự án, do là khoản đầu tư luồng tiền ra
vì vậy C
0
mang dấu âm.
C
1
, C
2
, C
3
,…, C
n
là các luồng tiền dự tính dự án mang lại các
năm 1, 2, 3,…, t ; r là tỷ lệ chiết khấu phù hợp của dự án.
Nếu NPV<0
thì dự án thua lỗ.
Nếu NPV=0 thì dự án hoà vốn.
Nếu NPV>0
1
2
21
+
++
+
+
+
⇒
Tính IRR?
Chọn tìm 2 lãi suất r
1
và r
2
để sao cho tương ứng với r
1
ta có NPV
1
> 0, ứng với r
2
ta có NPV
2
< 0. IRR cần tìm ứng với NPV = 0 sẽ nằm giữa 2 tỷ suất chiết khấu r
1
và r
2
.
Và áp dụng phương pháp nội suy ta có được kết quả của IRR theo công thức
IRR = r
1
tiền. Khi dự án được lập trong nhiều năm, việc tính toán chỉ tiêu là rất phức tạp. Đặc
biệt loại dự án có các luồng tiền dòng vào ra xen kẽ năm này qua năm khác, kết quả
tính toán có thể cho nhiều IRR khác nhau gây khó khăn cho việc ra quyết định. Do
đó, IRR là chỉ tiêu kết hợp, bổ trợ cho chỉ tiêu NPV
Lưu ý: Trong trường hợp có sự xung đột giữa 2 phương pháp NPVvà IRR thì
việc lựa chọn dự án theo NPV cần được coi trọng hơn để đạt mục tiêu tối đa hoá lợi
nhuận của dự án .
20
c. Chỉ tiêu Thời gian hoàn vốn (PP)
Thời gian hoàn vốn của một dự án là một trong các chỉ tiêu thường được sử
dụng để đánh giá giá trị kinh tế của dự án đầu tư. Thời gian hoàn vốn của một dự án
đầu tư là độ dài thời gian để thu hồi toàn bộ khoản đầu tư ban đầu. Cho nên, thời
gian thu hồi vốn của một dự án càng ngắn càng tốt để tránh được những biến động,
rủi ro bất định.
Công thức tính
Thời gian thu hồi vốn =
Tổng vốn đầu tư
= (năm)
Dòng thu bình quân hàng năm
Ưu điểm là đơn giản, dễ nhìn thấy và hữu ích đối với các dự án có mức độ rủi
ro cao, cần thu hồi vốn nhanh.
Tuy nhiên nó cũng có nhược điểm là không tính đến giá trị thời gian của tiền
và qui mô của dự án.
d. Chỉ số khả năng sinh lợi (PI)
Chỉ tiêu này còn được gọi là tỷ số lợi ích - chi phí, là tỷ lệ giữa giá trị hiện tại
của các luồng tiền dự án mang lại và giá trị của đầu tư ban đầu. Chỉ tiêu này phản
ánh 1 đơn vị đầu tư sẽ mang lại bao nhiêu đơn vị giá trị. Nếu PI lớn hơn 1 có nghĩa
là, dự án mang lại giá trị cao hơn chi phí và khi đó có thể chấp nhận được.
Công thức xác định như sau: PI =
P
đáp ứng tốt nhất những yêu cầu của Ngân hàng, thông qua các chỉ tiêu như quy trình thẩm
định có khoa học và toàn diện không, thời gian thẩm định nhanh hay chậm, chi phí thẩm
định cao hay thấp, việc lựa chọn các phương pháp thẩm định có phù hợp với dự án không,
Chất lượng thẩm định tài chính dự án đầu tư là sự đáp ứng một cách tốt nhất
các yêu cầu của ngân hàng trong hoạt động cho vay: nâng cao chất lượng cho vay,
hỗ trợ cho việc ra quyết định cho vay với phương châm sinh lợi và an toàn của ngân
hàng. Trong quá trình thẩm định tài chính dự án đầu tư, các cán bộ phải xem xét,
đánh giá một cách khách quan những vấn đề có liên quan đến khía cạnh tài chính
của một dự án đầu tư. Các cán bộ phải đánh giá xem: dự án có mang lại lợi nhuận
để có khả năng trả nợ cho ngân hàng không? Thời gian trả nợ là bao lâu? v v
1.3.2. Các chỉ tiêu phản ánh chất lượng thẩm định tài chính dự án đầu tư
Thẩm định tài chính dự án là một công cụ quản lý và kiểm tra quan trọng của
ngân hàng nhằm đưa ra những quyết định cho vay hoặc từ chối cho vay đồng thời
22
tham gia góp ý kiến cho các chủ đầu tư, tạo tiền đề đảm bảo hiệu quả cho vay, thu
đủ gốc và lãi đúng hạn, hạn chế rủi ro ở mức thấp nhất. Mặt khác, thẩm định tài
chính dự án còn là cơ sở để xác định số tiền cho vay, mức thu nợ, thời hạn hợp lý,
tạo tiền đề cho các doanh nghiệp hoạt động có hiệu quả hơn trong quá trình hoạt
động kinh doanh của mình.
Vì vậy, chất lượng của công tác thẩm định tài chính dự án có ảnh hưởng rất
lớn đến các lĩnh vực trong đời sống xã hội. Trên cơ sở các yếu tố, các quy trình
thẩm định, ta có thể xây dựng một hệ thống các chỉ tiêu phản ánh chất lượng thẩm
định làm cơ sở, căn cứ cho công tác thẩm định. Đó là yêu cầu và trách nhiệm đồng
thời cũng là mong muốn của tất cả hệ thống ngân hàng. Hiện nay ở nước ta chưa có
một cơ quan, ban ngành nào thực hiện được điều này.
Chất lượng thẩm định thể hiện ở chỗ, các kết luận, các đánh giá về dự án có
phải là căn cứ quan trọng để nhà đầu tư đưa ra quyết định đầu tư cho dự án hay
không. Đối với các nhà quản lý ngân hàng, hoạt động thẩm định được coi là có chất
lượng khi nó hỗ trợ đắc lực cho việc ra quyết định có đầu tư, có cho vay hay không
và tất nhiên, là đầu tư phải an toàn, sinh lợi cho ngân hàng.
bộ thẩm định đánh giá chính xác về dự án và doanh nghiệp, ra quyết định đúng đắn,
đảm bảo an toàn cho hoạt động tài trợ của Ngân hàng.
•Phương pháp thẩm định: Với nguồn thông tin đã thu thập được, do mỗi dự án
có một đặc trưng riêng nhất định nên cán bộ thẩm định phải lựa chọn, đưa ra được
phương pháp thẩm định thống nhất và phù hợp. Làm được điều đó sẽ đảm bảo cho
Ngân hàng hoạt động có hiệu quả và thành công.
•Công tác tổ chức điều hành: Thẩm định DAĐT là tập hợp nhiều hoạt động có
liên quan chặt chẽ với nhau. Công tác thẩm định bao gồm cả 3 giai đoạn: Trước,
trong và sau khi cho vay nên việc phân cấp điều hành là rất cần thiết để các bước
thực hiện một cách hợp lý và khoa học. Mặt khác, phương thức điều hành hợp lý
của ban lãnh đạo sẽ là cơ sở phát huy năng lực của cán bộ thẩm định. Việc phân
định quyền hạn và trách nhiệm cho từng bộ phận sẽ giúp cho việc thẩm định được
chính xác, khách quan và dễ dàng hơn.
•Ứng dụng khoa học công nghệ: Hiện nay trong các Ngân hàng việc lưu trữ
và xử lý thông tin hầu hết được thực hiện trên máy tính. Đồng thời hệ thống mạng
24