Chuyên đề tốt nghiệp Học viện Ngân hàng
LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Đất nước đang chuyển mình với những bước đi đúng hướng, những thành tựu
mới trong mọi lĩnh vực của đời sống kinh tế - xã hội. Xu hướng toàn cầu hoá trên thế
giới cùng với việc Việt Nam trở thành thành viên thứ 150 của Tổ chức thương mại thế
giới (WTO) đã mở ra nhiều cơ hội mới cho mọi nhà, mọi doanh nghiệp, mọi lĩnh vực
trong đó không thể không nói tới ngân hàng - một lĩnh vực hết sức nhạy cảm ở Việt
Nam cũng như trên thế giới. Chúng ta đang bắt đầu thực hiện các cam kết mở cửa,
0khiến cho các doanh nghiệp đứng trước sự cạnh tranh ngày càng khốc liệt, cơ hội
nhiều nhưng thách thức cũng không nhỏ. Điều này tạo ra những ảnh hưởng trong hoạt
động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp, vì thế ảnh hưởng rất lớn đến hoạt
động của các NHTM nói chung và hoạt động tín dụng ngân hàng nói riêng - một trong
những hoạt động phức tạp, tiềm ẩn nhiều rủi ro. Do đó, tín dụng trong điều kiện nền
kinh tế mở, cạnh tranh và hội nhập vẫn tiếp tục đóng một vai trò quan trọng trong kinh
doanh ngân hàng và đang đặt ra những yêu cầu mới về nâng cao hiệu quả hoạt động tín
dụng trên cơ sở dự báo và hạn chế được các rủi ro, đặc biệt là rủi ro tín dụng.
Xuất phát từ yêu cầu thực tiễn, với mong muốn đóng góp phần nào cho hoạt
động tín dụng của NHTMCP Công thương Việt Nam nói chung, NHTMCP Công
thương Việt Nam - Chi nhánh Hai Bà Trưng nói riêng phát triển với chất lượng tốt hơn,
hoà nhập vào sự phát triển của Thủ đô Hà Nội, của đất nước trong bối cảnh hội nhập
kinh tế quốc tế, đề tài: "Hạn chế rủi ro tín dụng tại NHTMCP Công thương Việt
Nam - Chi nhánh Hai Bà Trưng" được lựa chọn nghiên cứu.
2. Mục tiêu nghiên cứu của chuyên đề
- Hệ thống hoá cơ sở lý luận và thực tiễn về hạn chế rủi ro tín dụng của các
NHTM;
- Phân tích, đánh giá thực trạng hạn chế rủi ro tín dụng tại NHTMCP Công
thương Việt Nam - Chi nhánh HBT (Hai Bà Trưng);
SV: Nguyễn Thị Ái Thơ Lớp: 7B4
1
Chuyên đề tốt nghiệp Học viện Ngân hàng
của nền sản xuất hàng hoá. Hoạt động ngân hàng bắt đầu với nghiệp vụ đổi tiền
hoặc đúc tiền, hoạt động lưu giữ hộ, thanh toán chi trả hộ, sau đó là sự phát triển
hoạt động cho vay và các loại hình dịch vụ khác từ những người thợ kim hoàn. Trải
qua thời gian những người giữ hộ đã trở thành nhà ngân hàng thực thụ với ba
nghiệp vụ cơ bản bao gồm: Nhận tiền gửi, thanh toán hộ và cấp tín dụng cho khách
hàng của mình cùng việc phát triển các nghiệp vụ ngân hàng khác. Cùng với sự phát
triển kinh tế và khoa học công nghệ, các NHTM đang ngày càng đóng vai trò quan
trọng trong nền kinh tế.
Các ngân hàng có thể được định nghĩa qua chức năng, các dịch vụ hoặc vai trò
mà chúng thực hiện trong nền kinh tế. Song cách tiếp cận tốt nhất là có thể xem xét
ngân hàng trên phương diện những loại hình dịch vụ mà chúng cung cấp:
NHTM là các tổ chức tài chính cung cấp một danh mục các dịch vụ tài chính đa
dạng nhất - đặc biệt là tín dụng, tiết kiệm, dịch vụ thanh toán- và thực hiện nhiều
chức năng tài chính nhất so với bất kỳ một tổ chức kinh doanh nào trong nền kinh tế.
1.1.1.2. Các hoạt động chủ yếu của NHTM
Từ định nghĩa trên có thể thấy hoạt động chủ yếu của NHTM bao gồm các
dịch vụ sau:
Huy động vốn
Để có nguồn cho vay, các ngân hàng phải tìm mọi cách để huy động được tiền
thông qua việc trả lãi cho tiền gửi như là phần thưởng cho khách hàng về việc sẵn
SV: Nguyễn Thị Ái Thơ Lớp: 7B4
3
Chuyên đề tốt nghiệp Học viện Ngân hàng
sàng hy sinh nhu cầu tiêu dùng trước mắt và cho ngân hàng vay để kinh doanh. Để
gia tăng tiền gửi trong môi trường cạnh tranh và để có được nguồn tiền có chất
lượng cao, các ngân hàng đã đưa ra nhiều hình thức huy động khác nhau như: tiền
gửi thanh toán; tiền gửi có kỳ hạn của doanh nghiệp, các tổ chức xã hội; tìền gửi tiết
kiệm của dân cư; tiền gửi của các ngân hàng khác.
Cho vay, đầu tư
Hoạt động cho vay bao gồm :
Bảo quản tài sản hộ: Các ngân hàng thực hiện việc lưu giữ vàng, giấy tờ có
giá và tài sản khác cho khách hàng trong két sắt
Tài trợ cho các hoạt động của Chính phủ: Do nhu cầu chi tiêu lớn và thường
là cấp bách trong khi thu không đủ, Chính phủ phải nhờ tới khả năng huy động vốn
qua Ngân hàng.
Thuê mua: Khi khách hàng có nhu cầu vay vốn để mua tài sản nhưng không đủ
vốn hoặc số tiền được vay không đủ mua, ngân hàng có thể đứng ra mua tài sản
theo yêu cầu của khách hàng và cho thuê. Cuối hợp đồng thuê, khách hàng có thể
mua lại tài sản.
Môi giới đầu tư chứng khoán: Hiện nay dịch vụ này thường được các ngân
hàng thành lập riêng ra các công ty chứng khoán để tăng tính chuyên nghiệp của
hoạt động môi giới đầu tư chứng khoán.
Dịch vụ bảo hiểm: Ngân hàng cung cấp dịch vụ tiết kiệm gắn với bảo hiểm
như tiết kiệm an sinh, tiết kiệm hưu trí.
Cung cấp các dịch vụ đại lý: Một ngân hàng có thể cung cấp các dịch vụ đại lý
cho các ngân hàng khác như thanh toán hộ, phát hành chứng chỉ tiền gửi, làm đầu
mối trong hoạt động đồng tài trợ
Nhìn chung trong tất cả các hoạt động cơ bản của các NHTM thì hoạt động tín
dụng được đánh giá là hoạt động quan trọng nhất, bởi hoạt động này chiếm 60-70%
danh mục tài sản có và mang lại nguồn thu nhập chủ yếu cho các NHTM.
1.1.2. Hoạt động tín dụng của NHTM
Tín dụng xuất phát từ chữ la tinh Creditium có nghĩa là tin tưởng, tín nhiệm;
còn tiếng Anh gọi là Credit. Hiện nay có nhiều khái niệm về tín dụng:
Theo ngôn ngữ dân gian Việt Nam, tín dụng có nghĩa là sự vay mượn.
Theo Kinh tế học hiện đại: “Tín dụng là mối quan hệ giao dịch giữa hai chủ
thể, trong đó một bên chuyển giao tiền hoặc tài sản cho bên kia sử dụng trong một
SV: Nguyễn Thị Ái Thơ Lớp: 7B4
5
Chuyên đề tốt nghiệp Học viện Ngân hàng
thời gian nhất định, đồng thời bên nhận tiền hoặc tài sản cam kết hoàn trả vốn gốc
6
Chuyên đề tốt nghiệp Học viện Ngân hàng
nhận được hoặc nhận không đúng hạn phần lãi và hoặc gốc của các khoản cho vay.
Theo quyết định 493/2005/QĐ-NHNN ngày 22/4/2005 của Thống đốc NHNN
Việt Nam "Rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng là khả
năng xảy ra tổn thất trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng do khách
hàng không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện nghĩa vụ của mình theo
cam kết".
Như vậy, bản chất của rủi ro tín dụng là khả năng xảy ra những thiệt hại về
kinh tế mà NHTM phải gánh chịu do khách hàng vay không trả đúng hạn, không trả
hoặc không trả đầy đủ gốc và lãi. Rủi ro tín dụng xảy ra có thể gây tổn thất về mặt
tài chính cho NHTM dẫn đến giảm thu nhập ròng, giảm giá trị thị trường của vốn,
có khả năng dẫn tới thua lỗ và nếu mức độ rủi ro tín dụng cao có thể dẫn tới phá sản
ngân hàng.
1.2.2. Những dấu hiệu của rủi ro tín dụng
Hoạt động tín dụng tiềm ẩn rủi ro nhưng không phải thường xuyên xảy ra bất
ngờ và không có dấu hiệu. Đối với hầu hết các trường hợp, một khoản vay đang dần
xấu đi đều có dấu hiệu báo trước. Tuỳ từng khoản vay khác nhau có thể có những
dấu hiệu khác nhau song có thể nêu ra một số dấu hiệu chung và được xếp vào các
nhóm như:
1.2.2.1. Nhóm các dấu hiệu liên quan đến mối quan hệ với ngân hàng
Một là, sự chậm trễ bất thường và không có lí do trong việc cung cấp các báo
cáo tài chính và trả nợ theo lịch đã thoả thuận, hoặc chậm trễ trong việc liên hệ với
cán bộ tín dụng;
Hai là, chậm thanh toán các khoản lãi khi đến hạn;
Ba là, đề nghị gia hạn, điều chỉnh kỳ hạn nợ nhiều lần không rõ lý do hoặc
thiếu các căn cứ thuyết phục mang tính khách quan về việc gia hạn hay điều chỉnh
kỳ hạn nợ;
Bốn là, chấp nhận sử dụng các nguồn vốn với giá cao với mọi điều kiện;
Năm là, việc trả nợ không đúng hạn của khách hàng tại các tổ chức tín dụng khác;
tín dụng là vấn đề quan trọng giúp ngân hàng xác định được chính xác mức độ rủi
ro mà mình đang phải đối mặt, từ đó có những giải pháp phù hợp nhằm giảm thiểu
tổn thất tài chính khi xảy ra rủi ro. Các chỉ số sau đây thường được sử dụng để đo
lường rủi ro tín dụng của một ngân hàng:
a) Chỉ tiêu nợ tái cơ cấu (nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ)
SV: Nguyễn Thị Ái Thơ Lớp: 7B4
8
Chuyên đề tốt nghiệp Học viện Ngân hàng
Tỷ lệ nợ tái cơ cấu =
Dư nợ tái cơ cấu
x 100%
Tổng dư nợ tín dụng
b) Chỉ tiêu nợ quá hạn
Tỷ lệ nợ quá hạn =
Dư nợ quá hạn
x 100%
Tổng dư nợ tín dụng
c) Chỉ tiêu nợ xấu
Tỷ lệ nợ xấu =
Dư nợ xấu
x 100%
Tổng dư nợ tín dụng
Nợ xấu là các khoản nợ thuộc các nhóm 3,4,5. Cụ thể:
Nhóm 3 (nợ dưới tiêu chuẩn): bao gồm các khoản nợ được TCTD đánh giá là
không có khả năng thu hồi nợ gốc và lãi khi đến hạn. Các khoản nợ này được
TCTD đánh giá là có khả năng tổn thất một phần nợ gốc và lãi.
Nhóm 4 (nợ nghi ngờ): bao gồm các khoản nợ được TCTD đánh giá là khả
năng tổn thất cao.
Nhóm 5 (nợ có khả năng mất vốn): bao gồm các khoản nợ được TCTD đánh
giá là không còn khả năng thu hồi, mất vốn.
dụng/VCSH
=
Số trích lập quỹ dự phòng rủi ro
x 100%
Vốn chủ sở hữu
Theo Quyết định số 493/2005/QĐ-NHNN ngày 22/04/2005 và Quyết định số
18/2007/QĐ-NHNN ngày 25/04/2007 (sửa đổi của quyết định 493) của NHNN quy
định cụ thể tỷ lệ trích lập dự phòng đối với các nhóm nợ của NHTM:
+ Nhóm 1: 0%
+ Nhóm 2: 5%
+ Nhóm 3: 20%
+ Nhóm 4: 50%
+ Nhóm 5: 100%.
Riêng đối với các khoản nợ khoanh chờ Chính phủ xử lý thì được trích lập dự
phòng cụ thể theo khả năng tài chính của tổ chức tín dụng.
1.2.3.2. Các mô hình đo lường rủi ro tín dụng
Để đánh giá, đo lường rủi ro tín dụng, các nhà kinh tế, nhà phân tích ngân
hàng đã sử dụng nhiều mô hình khác nhau. Các mô hình này rất đa dạng, bao gồm
mô hình phản ánh về mặt định tính và những mô hình phản ánh mặt định lượng.
Các mô hình này không loại trừ lẫn nhau nên một ngân hàng có thể sử dụng nhiều
mô hình phối hợp để phân tích đánh giá mức độ rủi ro tín dụng của khách hàng.
a) Mô hình định tính về rủi ro tín dụng (Mô hình 6C)
Để biết được một khách hàng có đủ điều kiện vay vốn hay không ngân hàng
cho vay cần phân tích thông tin khách hàng, thông tin khoản vay trên 6 nội dung
(6C) đó là:
- Tư cách người vay (Character): Cán bộ tín dụng cần phải chắc chắn rằng
người xin vay có mục đích tín dụng rõ ràng, phù hợp với pháp luật, phù hợp với
chính sách tín dụng của ngân hàng, có tinh thần trách nhiệm, trung thực và có ý
thức tự giác trả nợ khi đến hạn;
SV: Nguyễn Thị Ái Thơ Lớp: 7B4
* Mô hình chấm điểm tín dụng và xếp hạng khách hàng
Chấm điểm tín dụng là quy trình đánh giá khả năng thực hiện nghĩa vụ tài
SV: Nguyễn Thị Ái Thơ Lớp: 7B4
11
Chuyên đề tốt nghiệp Học viện Ngân hàng
chính của khách hàng đối với ngân hàng nhằm xác định rủi ro trong hoạt động cấp
tín dụng của ngân hàng cho vay thông qua việc phân tích đánh giá, cho điểm và
tổng hợp điểm xếp hạng từ các tiêu thức thuộc hạng mục rủi ro tài chính và rủi ro
phi tài chính. Chấm điểm tín dụng và xếp hạng khách hàng được thực hiện với cả
khách hàng doanh nghiệp và khách hàng cá nhân. Tuy nhiên, trong phạm vi luận
văn này tác giả chỉ xem xét chấm điểm tín dụng và xếp hạng khách hàng thực hiện
đối với các khách hàng là doanh nghiệp.
Quy trình chung chấm điểm tín dụng và xếp hạng khách hàng doanh nghiệp
gồm 07 bước như sau:
Bước 1: Thu thập thông tin
Đây là bước đầu tiên và cũng là một trong những bước quan trọng nhất của
công tác chấm điểm, xếp hạng doanh nghiệp vì nếu thông tin thu thập được không
chính xác thì kết quả cũng không chính xác, ảnh hưởng đến việc ra quyết định của
ngân hàng. Trong quá trình thu thập thông tin rất có thể cán bộ chấm điểm có được
những thông tin trái chiều nhau. Điều quan trọng là cán bộ chấm điểm phải biết
sàng lọc, lựa chọn thông tin để lấy được những thông tin chính xác nhất, hữu ích
nhất.
Bước 2: Xác định, phân loại ngành nghề/lĩnh vực SXKD của doanh nghiệp
Cán bộ chấm điểm thường căn cứ vào ngành nghề/lĩnh vực SXKD chính đăng
ký trên giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh hoặc hoạt động sản xuất kinh doanh
thực tế của doanh nghiệp để xác định, phân loại doanh nghiệp vào những ngành
nghề, lĩnh vực khác nhau.
Bước 3: Chấm điểm và xác định quy mô doanh nghiệp
Quy mô doanh nghiệp là một yếu tố rất quan trọng cần xác định trong quy
trình chấm điểm tín dụng và xếp hạng doanh nghiệp. Nó quyết định đến khả năng
Bước 6: Tổng hợp điểm và xếp hạng doanh nghiệp
Trên cơ sở điểm tài chính và phi tài chính đã có, cán bộ chấm điểm sẽ nhân
tổng số điểm tài chính và phi tài chính lần lượt với các trọng số để xác định điểm
tổng hợp. Căn cứ điểm tổng hợp, cán bộ chấm điểm tiến hành xếp hạng doanh
nghiệp. Tuỳ từng TCTD mà có các hệ thống ký hiệu xếp hạng khác nhau. Thông
thường, chung nhất, các TCTD thường ký hiệu xếp hạng với độ rủi ro từ thấp đến
cao như sau: AA, A, BB, B, CC, C tương ứng với tổng số điểm giảm dần.
Bước 7: Đánh giá rủi ro tín dụng
SV: Nguyễn Thị Ái Thơ Lớp: 7B4
13
Chuyên đề tốt nghiệp Học viện Ngân hàng
Trên cơ sở kết quả xếp hạng doanh nghiệp, cán bộ chấm điểm đánh giá mức
độ rủi ro tín dụng của mỗi khách hàng. Theo đó, những khách hàng được xếp hạng
AA sẽ là những khách hàng có độ rủi ro thấp nhất và ngân hàng rất sẵn lòng cho
vay; khách hàng xếp hạng C có độ rủi ro tín dụng cao nhất. Và thông thường, tuỳ
chính sách tín dụng của từng ngân hàng, mỗi ngân hàng sẽ quyết định cho vay khi
rủi ro tín dụng sau đánh giá ở mức độ ngân hàng cho phép.
* Mô hình điểm số tín dụng tiêu dùng
Ngày nay, nhiều ngân hàng sử dụng phương pháp cho điểm để xử lý các đơn
xin vay ngày một gia tăng của người tiêu dùng. Đây là mô hình thuận tiện cho cả
khách hàng và ngân hàng vì rút ngắn được thời gian thẩm định khách hàng vay,
thẩm định khoản vay bằng hệ thống cho điểm tự động. Khách hàng có thể gọi điện
thoại đến ngân hàng để liên hệ xin vay thông qua hệ thống máy tính nối mạng. Trên
cơ sở dữ liệu của khách hàng, chỉ trong vòng vài phút ngân hàng có thể thông báo
kết quả tín dụng cho khách hàng.
Các yếu tố quan trọng liên quan đến khách hàng sử dụng trong mô hình cho
điểm tín dụng tiêu dùng gồm: Hệ số tín dụng, tuổi đời, trạng thái tài sản, số người
phụ thuộc, sở hữu nhà, thu nhập, điện thoại cố định, số loại tài khoản cá nhân, thời
gian công tác.
Mô hình điểm số tín dụng tiêu dùng gần như đã loại bỏ được sự phán xét chủ
Thứ tư, rủi ro tín dụng làm tăng nguy cơ phá sản ngân hàng: Rủi ro tín dụng
kéo dài gây thất thoát lượng vốn quá lớn dẫn đến các NHTM có thể rơi vào tình
trạng mất khả năng thanh toán và có thể dẫn tới phá sản. Việc phá sản một ngân
hàng có thể dẫn đến phản ứng dây chuyền có tính hệ thống, nếu ngân hàng bị phá
sản có vị thế quan trọng trong hệ thống các TCTD có thể kéo theo nhiều ngân hàng
khác phá sản và làm suy sụp toàn bộ nền kinh tế.
1.2.5. Nguyên nhân dẫn đến rủi ro tín dụng
Giảm thiểu rủi ro tín dụng là mong muốn của bất kỳ tổ chức tín dụng nào. Tuy
nhiên, để làm được điều đó cần thiết phải tìm hiểu nguyên nhân gây ra rủi ro tín
dụng. Có rất nhiều nguyên nhân nhưng có thể phân chia thành các nhóm cơ bản sau:
1.2.5.1. Nguyên nhân khách quan
Trong quá trình hoạt động kinh doanh, các NHTM phải chịu tác động bởi rất
nhiều yếu tố thuận lợi, khó khăn, cơ hội, thách thức. Ngân hàng cần phải nhận thức
đầy đủ về các yếu tố này để có chiến lược phòng ngừa, hạn chế rủi ro tín dụng nhằm
SV: Nguyễn Thị Ái Thơ Lớp: 7B4
15
Chuyên đề tốt nghiệp Học viện Ngân hàng
giảm thiểu tổn thất, đảm bảo kinh doanh lành mạnh và hiệu quả. Các nguyên nhân
khách quan chủ yếu dẫn tới rủi ro tín dụng là:
- Môi trường tự nhiên như: động đất, núi lửa, thiên tai bão lụt, hạn hán, dịch
bệnh gây ảnh hưởng trực tiếp, gián tiếp tới hoạt động kinh doanh và hiệu quả kinh
doanh của khách hàng vay vốn ngân hàng làm suy giảm khả năng trả nợ vay ngân
hàng dẫn tới rủi ro tín dụng.
- Môi trường kinh tế vĩ mô: Những chính sách kinh tế vĩ mô của Nhà nước
như: Chính sách tài khoá, đất đai, thuế, chính sách tiền tệ, xuất nhập khẩu… có tác
động mạnh mẽ đến hoạt động sản xuất kinh doanh của mọi chủ thể thuộc mọi thành
phần kinh tế, trong đó có các NHTM. Ngoài ra chu kỳ kinh tế cũng tác động mạnh
đến hoạt động kinh doanh của ngân hàng và các doanh nghiệp trong nền kinh tế.
- Các yếu tố chính trị: Một nền chính trị quốc gia ổn định là điều kiện cho
doanh nghiệp phát triển, tạo điều kiện thuận lợi thu hút, gọi vốn đầu tư. Ngược lại,
ruột ngân hàng…là một trong những nguyên nhân quan trọng dẫn tới rủi ro tín
dụng.
SV: Nguyễn Thị Ái Thơ Lớp: 7B4
17
Chuyên đề tốt nghiệp Học viện Ngân hàng
CHƯƠNG 2
THỰC TRẠNG RỦI RO TÍN DỤNG TẠI NHTMCP
CÔNG THƯƠNG VIỆT NAM - CHI NHÁNH HAI BÀ TRƯNG
2.1. Khái quát về NHTMCP Công thương Việt Nam - Chi nhánh HBT
2.1.1. Quá trình hình thành và phát triển
Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam - Chi nhánh HBT là một trong 149
(2009) Chi nhánh của NHTMCP Công thương Việt Nam, có trụ sở đặt tại 285 Trần
Khát Chân - Quận Hai Bà Trưng - TP Hà Nội. Theo Nghị định 53/HĐBT ngày
26/3/1988 của Hội đồng Bộ trưởng về tổ chức bộ máy NHNN Việt Nam, để thực
hiện chuyển đổi sang cơ chế ngân hàng 2 cấp, một Chi nhánh ngân hàng cấp quận
và một Chi nhánh ngân hàng kinh tế cấp quận thuộc địa bàn quận Hai Bà Trưng
trực thuộc NHNN thành phố Hà Nội đã chuyển thành hai Chi nhánh NHCT khu vực
I và II quận Hai Bà Trưng trực thuộc Chi nhánh NHCT Hà Nội thuộc NHCT Việt
Nam, với chức năng nhiệm vụ chính được giao là vừa kinh doanh tiền tệ, tín dụng,
thanh toán vừa đảm bảo cung cấp vốn cho các doanh nghiệp, các tổ chức, cá nhân
trên địa bàn Quận Hai Bà Trưng.
Tiếp đó, thực hiện Nghị định số 93/NHCT-TCCB ngày 01/4/1993 của Tổng
giám đốc NHCT Việt Nam về sắp xếp lại bộ máy tổ chức NHCT trên địa bàn Hà
Nội theo mô hình quản lý hai cấp, Chi nhánh NHCT khu vực I và II Hai Bà Trưng
sáp nhập lại với nhau trở thành Chi nhánh NHCT Hai Bà Trưng trực thuộc NHCT
Việt Nam được tổ chức hạch toán kinh tế và hoạt động như một Chi nhánh NHCT
cấp tỉnh và thành phố.
Nhằm lành mạnh hoá tài chính theo chuẩn mực quốc tế, nâng cao năng lực
cạnh tranh chuẩn bị cho hội nhập quốc tế, tháng 12/2008 NHCT Việt Nam tiến hành
cổ phần hoá theo quyết định số 1354/QĐ-TTg ngày 23/9/2008 của Thủ tướng Chính
toàn hệ thống NHCTVN, Chi nhánh Ha Bà Trưng đã thự hiện tích cực các chủ
trương chính sách của Chính phủ, NHNN và NHCTVN, với sự chỉ đạo quyết liệt,
đúng đắn, kịp thời và kiểm soát tốt mọi hoạt động, sự đoàn kết nhất trí của Lãnh
đạo và CBNV nên hoạt động kinh doanh năm 2010 của Chi nhánh đã thu được kết
quả tốt đẹp, tiếp tục đạt danh hiệu “Chi nhánh kinh doanh xuất sắc” bốn năm liền,
góp phần ổn định và nâng cao đời sống của người lao động, đặc biệt là tiếp tục củng
cố vị thế của Chi nhánh trên toàn hệ thống Ngân hàng TMCP Công thương Việt
Nam.
SV: Nguyễn Thị Ái Thơ Lớp: 7B4
19
Chuyên đề tốt nghiệp Học viện Ngân hàng
Nguồn vốn huy động năm 2010 của Chi nhánh đạt 7.890 tỷ đồng, tăng 1905 tỷ
đồng so với năm 2009, tỷ lệ tăng 31,8% và đạt 84,4% so KHTW giao
Đến hết 31/12/2010 dư nợ cho vay nền kinh tế của Chi nhánh đạt 3.432 tỷ
đồng, vượt kế hoạch TW giao, so với đầu năm tăng 1.314 tỷ đồng, tỷ lệ tăng trưởng
là 162 % so với 31/12/2009 và tăng 21% so KHTW giao.
Về mặt lợi nhuận, tính đến 31/12/2010 Chi nhánh đạt 147.330 triệu đồng, sấp
xỉ hoành thành 100% kế hoạch được giao trong năm 2010 (150 tỷ đồng) cao nhất
từ truwocs tới nay. Điều đó được thể hiện trong bảng chỉ tiêu sau:
Bảng 2.1 - Kết quả kinh doanh của Chi nhánh HBT giai đoạn 2007-2010
Đơn vị: tỷ đồng
Tổng tài sản 3.093 5.343,2 6.641,8 7.6664,8 2.250,2 1.298,6 1.025
Nguồn huy động 2.869 5.167 5.985 7.890 2.298 818 1.905
Dư nợ 685 847,5 2.118,4 3.432 162,5 1.270,9 1.313,6
Thu nợ XLRR 71,4 6,4 21,7 32,2 - 65,0 15,3 10,5
Thu dịch vụ 5,4 5,6 7,4 15,37 0,2 1,8 7,97
Lợi nhuận 156,4 89,5 82,8 147,33 - 66,9 -6,7 64,53
(Nguồn: Báo cáo thường niên của Chi nhánh HBT 2007-2010)
2.1.3. Một số hoạt động cơ bản
2.1.3.1. Công tác huy động vốn
1. Chia theo đối tượng
- Tiền gửi TCKT 1.402 3.895 4.649 6.045 2.493 177,8 754 19,4 1396 23,09
- Tiền gửi dân cư 1.467 1.272 1.336 1.845 -195 -13,3 64 5,0 509 27,59
2. Chia theo kỳ hạn
- Tiền gửi không kỳ hạn 563 450 669 1.552 -113 -20,1 219 48,7 883 56,89
- Tiền gửi có kỳ hạn 2.306 4.717 5.316 6.298 2.411 104,6 599 12,7 982 15,59
3. Chia theo loại tiền
- Tiền gửi VNĐ 2.420 2.308 3.506 6.383 -112 -4,6 1.198 51,9 2.877 45,07
- Ngoại tệ quy đổi 449 2.859 2.479 1.507 2.410 536,7 -380 -13,3 972 64,5
(Nguồn: Bảng cân đối vốn kinh doanh tổng hợp của Chi nhánh HBT 2007-2010)
SV: Nguyễn Thị Ái Thơ Lớp: 7B4
22
Chuyên đề tốt nghiệp Học viện Ngân hàng
Năm2008, tổng nguồn vốn huy động của NHTMCP Công thương Việt Nam –
Chi nhánh HBT tăng trưởng rất cao so với năm 2007, đạt 5.167 tỷ đồng, chủ yếu do
tăng nguồn huy động được từ Tập đoàn Dầu khí Việt Nam (703,5 tỷ đồng và 113
triệu USD. Trong năm 2010 tiền gửi của TCKT vẫn tăng trưởng bền vững, tăng
30% so với năm 2009, chiếm tỷ trọng 77% trong tổng nguồn vốn và đạt 85,5% so
kế hoạch. Nguyên nguyên nhân là do nền kinh tế có nhiều biến động, việc cạnh
tranh về lãi suất diễn ra quyết liệt và có nhiều kênh đầu tư sinh lời khác…nhất là giá
USD và giá Vàng trong nước tăng quá cao đã gây khó khăn về vốn cho các doanh
nghiệp.
Xét theo kỳ hạn tiền gửi, tiền gửi có kỳ hạn của Chi nhánh liên tục chiếm ưu
thế trong thời gian qua với tỷ trọng rất cao trong tổng nguồn vốn. Năm 2010 tiền
gửi có kỳ hạn là 6.290 tỷ tăng so với năm 2009 là 883 tỷ và chiếm tỷ trọng 19,7%
trong tổng nguồn vốn. Trong đó tiền gửi của các TCKT chiếm phần lớn là 1.551 tỷ,
tỷ leejtawng là 133,6% so với năm 2009. Đặc điểm này tạo điều kiện cho Ngân
hàng tương đối chủ động trong cơ cấu dư nợ, tránh tạo ra khe hở kỳ hạn là một
trong những nguyên nhân làm phát sinh rủi ro thanh khoản.
Xét về loại tiền, năm 2008 có sự dịch chuyển lớn nhất tỷ lệ cơ cấu nguồn
Tỷ
trọng
Số tiền
Tỷ
trọng
Số tiền
Tỷ
trọng
Số tiền
Tỷ
trọng
Tổng dư nợ 685
100 %
847,5
100 %
2118,4
100 %
3.432 100%
1. Chia theo kỳ hạn
- Ngắn hạn 477 69,6 500,6 59,1 578 27,3 583,44 17
- Trung và dài hạn 208 30,4 346,9 40,9 1.540,4 72,7 2.848,56 83
2. Chia theo loại tiền
- VND 401,2 58,6 503,4 59,4 667,1 31,5 817 23,8
- Ngoại tệ quy VND 283,8 41,4 344,1 40,6 1.451,3 68,5 2.615 76,2
3. Chia theo TSBĐ
- Cho vay có TSBĐ 208,2 30,4 374,6 44,2 1.586,7 74,9 2.697.55 78,6
- Cho vay không có TSBĐ 476,8 69,6 472,9 55,8 531,7 25,1 734,45 21,4
(Nguồn: Bảng cân đối vốn kinh doanh tổng hợp của Chi nhánh HBT 2007-2010)
Với mục tiêu tăng trưởng bền vững, an toàn và hiệu quả, duy trì và từng bước
phát triển thị phần, trong những năm qua, Chi nhánh đã có rất nhiều cố gắng nhằm
- Hoạt động tài trợ thương mại: Chịu tác động của suy thoái kinh kế thế giới,
tỷ giá USD/VND có sự chênh lệch rất lớn giữa tỷ giá chính thức và tỷ giá trên thị
trường tự do nên việc đáp ứng dù nhu cầu ngoại tệ ch doanh nghiệp xuất khẩu nhẩu
khẩu hàng hóa và nguyên vật liệu sản xuất gặp nhiều khó khăn. Với sự hỗ trợ lớn
của NHCT, Chi nhánh đã cố gắng đáp ứng tương đối nhu cầu của doanh nghiệp, đặc
biệt là phục vụ tốt cho một số Tập đoàn, công ty lớn chủ đạo của nền kinh tế. Cụ
SV: Nguyễn Thị Ái Thơ Lớp: 7B4
25