LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan: Bản luận văn tối nghiệp này là công trình
nghiên cứu của bản thân, được thực hiện trên cơ sở nghiên cứu lý
thuyết, kiến thức lý luận, nghiên cứu khảo sát tình hình thực tiễn,
dưới sự hướng dẫn khao học của các thầy /cô, thầy hướng dãn.
Các kết quả, số liệu trong Luận văn là trung thực và có nguồn
trích dẫn rõ ràng.
Người cam đoan
SOPHA KEORAKOTHPHOSY
LỜI CẢM ƠN
Sự hình thành của luận văn thạc sỹ này là kết quả của sự thiệt tình giúp đỡ và
giảng dạy của các thầy cô giáo tại trường đại học kinh tế quốc dân –khoa sâu đại
học- khoa quản trị kinh doanh chính sự giúp đỡ đó đã giúp đỡ cho tôi và tạo điều
kiện công việc của mình và có được những kiến thức chung chuyên ngành quản trị
kinh doanh tổng hợp .
Nhân dịp này, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành và sâu sắc nhất tới GS.TS.
Đàm Văn Nhuệ người đã tận tình hướng dẫn và giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn
thạc sỹ này.
Tôi xin chân thành cảm ơn các anh chi ở ngân hàng đầu tư phát triển Lao chi
nhánh Luông Nam Tha.
Cuối cùng tôi xin gửi lời cảm ơn tới bố mẹ và các bạn ở trong lớp 18J những
người đã luôn ở bên tôi và giúp đỡ tôi để tôi có thể kết thức công việc học tập và
nghiên cứu của mình một cách tốt đẹp.
Trân trọng cảm ơn
Tác giả
SOPHA KEORAKOTHPHOSY
MỤC LỤC
CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU ĐỀ TÀI VÀ TỔNG QUAN CÁC KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN 6
1.1. SỰ CẦN THIẾT NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI VÀ MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU 7
1.1.1. Sự cần thiết lựa chọn đề tài 7
Bảng 3.2: Quy mô và mô và tốc đô tăng trưởng của LDB chi nhánh Luông
Năm Tha 2006-2010 Error: Reference source not found
Bảng 3.3 : Dự nợ tín dụng của LDB chi nhánh Luông Năm Tha Error:
Reference source not found
Bảng 3.4: Dư nợ tín dụng của LDB chi nhánh Luông Năm Tha phân theo
ngành kinh tế năm 2006-2010 Error: Reference source not found
Bảng 3.5: Tình hình tín dụng phần theo thành phần kinh tế
Bảng 3.6: Hoạt động kinh danh ngoại hối LDB chi nhánh Luông Năm Tha
2006-2010 Error: Reference source not found
Bảng 3.7: Kết quả kinh doanh của LDB chi nhánh Luông Năm Tha 2006-2010
Error: Reference source not found
Bảng 3.8: Tình hình trích lập dự phòng rủi ro của chi nhánh Luông Năm Tha
2006-2010 Error: Reference source not found
Bảng 3.9: Tình hình nợ quá hạn của chi nhánh Luông Năm Tha 2006-2010
Error: Reference source not found
Bảng 3.10: Tỷ lệ nợ xấu/ Tổng dư nợ của LDB chi nhánh Luongnamtha Error:
Reference source not found
Bảng 3.11: Tỷ trọng dư nợ có TSĐB/Tổng Dư nợ của LDB chi nhánh Luongnamt
Error: Reference source not found
BIỂU ĐỒ
CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU ĐỀ TÀI VÀ TỔNG QUAN CÁC KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN 6
1.1. SỰ CẦN THIẾT NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI VÀ MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU 7
1.1.1. Sự cần thiết lựa chọn đề tài 7
LỜI MỞ ĐẦU
Hệ thống của ngân hàng Lào cần có những bước đổi mới mạnh mẽ trên tất cả
các mặt, trong đó nhiệm vụ hàng đầu là phải tập trung vào vaò vấn đề phòng ngừa
và hạn chế rủi ro tín dụng, vì hoạt động tín dụng là một trong những hoạt động cơ
bản và dặc thù trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại.
Chi nhánh LDB Luông Năm Tha là một trong những ngân hàng thương mại
trên địa bản Luông Năm Tha, là một trong chi nhánh đầu đàn trong hệ thống ngân
tín dụng luôn là vấn đề được các NHTM quan tâm, bởi đây là một trong những
hoạt động quyết định sự tồn tại và phát triển của ngân hàng mình.
Như vậy về mặt lý luận, để ngân hàng có thể phát triển và cạnh tranh được
với các ngân hàng khác trong tiến trình mở cửa và hội nhập như hịên nay các ngân
hàng cần phải làm tốt công tác quản trị rủi ro tín dụng nhằm hạn chế tổn thất cho
ngân hàng, nâng cao uy tín của ngân hàng.
Rủi ro tín dụng xảy ra là do nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan,
nguyên nhân từ phía khách hàng, từ phía ngân hàng và tài sản đảm bảo, có thể thấy
mâu thuẫn chính của rủi ro tín dụng là mâu thuẫn giữa khách hàng và ngân hàng.
Do vậy, để làm tốt công tác quản trị rủi ro tín dụng, các ngân hàng cần giải quyết
triệt đề mâu thuẫn trên.
Ngân hàng Phát Triển Lào chi nhánh Luông Năm Tha là một trong những
chi nhánh NHTM có được vị trí đáng kể trong hệ thống ngân hàng phát triển Lào.
Hoạt động tín dụng đã tạo ra phần lớn thu nhập cho ngân hàng này trong thời gian
qua. Do đó việc hạn chế rủi ro tín dụng luôn được các nhà quản trị ngân hàng này
hết sức quan tâm. Với những biến động thường xuyên của hoạt động kinh tế trong
nước và trên thế giới vừa qua, hệ thống Ngân hàng Lào nói chung và ngân hàng
phát triển Lào chi nhánh Luộng Năm Tha nói riêng đã có được nhiều bài học quý
báu trong việc hạn chế rủi ro trong hoạt động tín dụng. Vì vậy việc đúc rút kinh
nghiệm từ thực tiễn và qua đó đề ra giải pháp nhằm làm tốt hơn nữa công tác quản
trị rủi ro trong hoạt động tín dụng luôn là nhu cầu cần thiết đối với tất cả các NHTM
Với tầm quan trọng của việc hạn chế rủi ro tín dụng trong hoạt động kinh
doanh tại Ngân hàng Phát Triển Lào chi nhánh Luông Năm Tha, việc nghiên cứu đo
lường và đưa ra các giải pháp phòng ngừa và hạn chế rủi ro tín dụng là việc hết sức
cần thiết và có ý nghĩa thiết thực cho công cuộc xây dựng phát triển bền vững của
Ngân hàng Phát Triển Lào chi nhánh Luông Năm Tha
Trong bối cảnh đó, đề tài “Giải pháp hạn chế rủi ro tín dụng tại Ngân
hàng phát triển Lào chi nhánh Luông Năm Tha”. Được lựa chọn nghiên cứu
thực hiện luận văn thạc sỹ, nhằm tìm hiểu sâu rủi ro tín dụng, đóng góp ý kiến vào
lĩnh vực này, đồng thời phục vụ công việc tại ngân hàng phát triển Lào chi nhánh
phân tích đánh giá thực trạng rủi ro trong hoạt động cho vay chính tại Ngân hàng
công thương Thanh Hoá, đưa ra một số giải pháp nhằm phòng ngừa và hạn chế rủi
ro trong hoạt động cho vay tại ngân hàng công thương Thanh Hoá và đề xuất những
kiến nghị đối với các bộ, ngành liên quan.
- Luận văn: “ Giải pháp hạn chế rủi ro tín dụng tại ngân hàng công thương
chi nhánh ĐỐNG ĐA”. của học viên Võ Trung Kiến. Trong đề tại này nghiên cứu
về cơ sở lý luận về rủi ro tín dụng, phân tích tình hình kinh doanh và thực trạng rủi
ro tín dụng tại NHTC chi nhánh Đống Đa, từ đó đưa ra những kết quả đạt được,
hạn chế và nguyên nhân của hoạt động tín dụng rủi ro tín dụng và đưa ra những giải
pháp để hạn chế rủi ro của hoạt động tín dụng tại ngân hàng công thương chi nhánh
Đống Đa.
- Luân văn: “ Một số giải pháp phòng ngừa và hạn chế rủi ro tín dụng tại
NHNo&PTNT Hà Nội ”. Của học viên Đào Hồng Hạnh. Trong đề tài này nghiên
cứu chung về cơ sở lý luận về phòng ngừa, hạn chế rủi ro tín dụng, phân tích tình
hình kinh doanh và thực trạng rủi ro tín dụng của NHNo&PTNT Hà Nội.
- Luận văn: “ Quản lý rủi ro tin dụng tại các ngân hàng thương mại Việt
Nam”. Trong đề tài này nghiên cứu về hiệu quả hoạt động tín dụng các ngân hàng
thương mại tại các ngân hàng nhà nước.
- Luận án tiến sĩ kinh tế: “ Hoạt động tín dụng của hệ thống ngân hàng nhà
nước Việt Nam hiện nay ”, tác giả Lê Đức Thọ năm 2005 đã đề cập đến thực trạng
hoạt động tín dụng của các ngân hàng thương mại nhà nước và những tác động tới
quá trình phát triển kinh tế- xã hội ViệtNam. Tác gải đề xuất các giải pháp đổi mới
hoạt động tín dụng của hệ thống thương mại cổ phần Việt Nam.
1.3. XÁC ĐỊNH ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI NGHIÊN CỨU VÀ LỰA CHỌN
PHƯƠNG CỨU
1.3.1. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu.
- Đối tượng nghiên cứu: Hoạt động tín dụng và rủi ro tín dụng của NHTM
- Phạm vi nghiên cứu:
Về không gian: Phân tích rủi ro tín đụng của NHTM, giới hạn đối với
chi nhánh ngân hàng phát triển Lào Luộng Năm Tha
hàng đã gắn bó với con người từ rất sớm. Nhiều cuộc nghiên cứu trên thế giới về
lịch sử hình thành và phát triển của ngân hàng đều khẳng định rõ điều này. Theo
những ghi chép cũ , người ta cho rằng những manh nhà của hoạt động ngân hàng đã
được hình thành và phát triển từ năm 3500 trước Công nguyên (trCN) với một hoạt
động tự phát của một số nhà thờ, người có quyền thế và các thợ vàng đáp ứng đòi
hỏi của dân chúng trong việc cất trữ và bảo quản số của cải của mình nhằm tránh
các cuộc cướp bóc có xu hướng thường xuyên xảy ra trong xã hội lúc đó.
Thuật ngữ “ngân hàng” (bank) chỉ bắt đầu được sử dụng từ năm 323 trCN.
“Bank” - xuất phát từ chữ La-tinh là Bancus, chỉ chiếc bàn dài có nhiều ngăn được
những người nhận tiền gửi và cho vay tiền, tài sản dùng để ngồi làm việc, giao dịch,
cất trữ sổ sách. Cho tới nay, thuật ngữ này đã được dùng để gọi tên cho một thiết
chế kinh tế mà hoạt động của nó luôn ảnh hưởng mạnh mẽ và sâu sắc tới đời sống
con người và xã hội. Cho tới trước khi Chính phủ các nước tiến hành giới hạn
quyền phát hành tiền về một ngân hàng vào cuối thế kỷ 18 thì các ngân hàng đều là
những ngân hàng hoạt động mang tính chất tổng hợp. Trong khoảng thời gian khá
dài này, người ta hiểu ngân hàng là một thiết chế kinh tế thực hiện việc phát hành
và kinh doanh tiền tệ trong xã hội. Chính vì có những đặc quyền như vậy mà các
ngân hàng đã lạm dụng quyền phát hành tiền của mình, đua nhau phát hành tiền
ngân hàng một cách liều
lĩnh, thậm chí không có hoặc có rất ít tài sản làm đảm bảo. Đồng thời, do
mọi ngân hàng đều có quyền tạo ra những tờ giấybạc của mình nên dẫn tới việc có
quá nhiều loại giấy bạc ngân hàng được phát hành. Điều này đã gây cản trở cho việc
giao lưu kinh tế.
Trải qua các cuộc đổ vỡ của những ngân hàng lớn (VD: Ngân hàng
Amstecdam sụp đổ vào năm 1819 sau 210 năm hoạt động ), Chính phủ các nước đã
dần dần giới hạn quyền phát hành tiền của các ngân hàng về một số ít ngân hàng và
cuối cùng chỉ còn một ngân hàng duy nhất (công cuộc cải cách này được tiến hành
từ cuối thế kỷ XVIII cho tới hết thế kỷ XIX). Với hành động trên của chính phủ đã
chia ngân hàng ra làm 2 loại: một ngân hàng duy nhất có quyền phát hành tiền tệ và
số ngân hàng còn lại chỉ được thực hiện quyền vay và cho vay trong nền kinh tế
khoa học nghiên cứu về kinh tế và ảnh hưởng mạnh mẽ của hoạt động ngân hàng tới
đời sống xã hội, chính phủ các nước đã tiến hành quốc hữu hoá ngân hàng độc
quyền phát hành. Từ đây hệ thống ngân hàng chính thức được phân chia thành hai
bộ phận chính: ngân hàng trung ương và các ngân hàng trung gian. Ngoài ra một số
nước còn coi những tổ chức không phải là ngân hàng nhưng cũng tiến hành hoạt
động vay và cho vay, kinh doanh tiền tệ như: quỹ tín dụng, công ty bảo hiểm, công
ty tài chính, các quỹ tiền tệ…là bộ phận của hệ thống ngân hàng.
Trong phạm vi luận văn này, chúng ta không đi nghiên cứu toàn bộ hệ thống
ngân hàng mà chỉ tập trung vào một bộ phận chiếm tỷ trọng lớn trong hệ thống này,
đó là các ngân hàng trung gian .
Các ngân hàng trung gian (NHTG) làm nhiệm vụ :
(i). Là những trung gian tài chính, tức là NHTG đã tiến hành thu hút vốn tạm
thời nhàn rỗi trong dân chúng để cho những người cần vốn vay trong nền kinh tế.
Vì vậy, người ta đã định nghĩa: NHTG là một đơn vị kinh doanh có giấy phép của
chính quyền. Hoạt động chính là kinh doanh trên đồng tiền bằng việc mở các khoản
tiền gửi trả lãi để thu hút vốn nhàn rỗi, rồi dùng chính những khoản đó để cho vay
lại nền kinh tế thu lãi tiền vay .
(ii). NHTG làm cầu nối giữa ngân hàng Trung Ương (NHTW) và nền kinh
tế, tức là NHTG tiếp nhận các tác động từ phía NHTW như việc NHTW phát hành
tiền tệ hoặc các chínhsách tiền tệ sẽ tác động dây chuyền tới nền kinh tế thông qua
lãi suất, tỷ giá, chính sách cho vay…của các tổ chức này. Sau khi tiếp nhận các tác
động, nền kinh tế sản xuất phản hồi lại các NHTG thông qua sản lượng, giá cả sản
phẩm, nhu cầu về tiền mặt, từ đó các đơn vị này sẽ phản hồi tới NHTW để ngân
hàng này có nhữngđiều chỉnh cho phù hợp với tình hình.
Thuật ngữ “ngân hàng trung gian” được sử dụng để chỉ chung cho nhiều loại
hình ngân hàng. Tuỳ quan niệm của mỗi nước mà các loại hình ngân hàng này được
gọi theo những tên khác nhau, các cách gọi tên này thường được đặt theo sự khác
nhau về mục đích hoạt động đặc biệt, sự khác nhau trong tài sản có (nghĩa là gọi tên
theo đối tượng đầu tư của ngân hàng Hiện nay, người ta thường chia NHTG ra
thành 4 nhóm chính:
vực tiền tệ và tín dụng”.
Theo quan điểm của Việt Nam: “NHTM là một tổ chức mà hoạt động chủ
yếu và thường xuyên là nhận tiền gửi, trên nguyên tắc hoàn trả, tiến hành cho vay,
chiết khấu và làm các phương tiện thanh toán”.
Theo quan điểm của Lào: “NHTM là một loại hình doanh nghiệp được tổ
chức theo luật NHTM Lào hoạt động kinh doanh Ngân hàng: Huy động tiền gửi để
cho vay, mua-bán ngoại tệ, dịch vụ thanh toán và đầu tư”.
Nếu như xuất phát điểm ban đầu để phân tách NHTM với các NHTG khác là
chỉ dựa trên lĩnh vực kinh doanh mà ngân hàng cho vay (ngân hàng này tiến hành
cho vay chủ yếu đối với lĩnh vực thương mại) thì hiện nay chúng trở thành những
ngân hàng tổng hợp, thực hiện gần như hầu hết các dịch vụ trung gian tín dụng, có
quan hệ rộng với mọi đối tượng khách hàng trong tất cả các lĩnh vực.hái niệm về
Ngân hàng thương mại
2.1.2 Hoạt động cơ bản của NHTM
NHTM là một loại hình tổ chức tín dụng được thực hiện toàn bộ hoạt động
ngân hàng và các hoạt động khác có liên quan.
Hoạt động Ngân hàng là hoạt động kinh doanh tiền tệ và dịch vụ ngân hàng
với nội dung thường xuyên là nhận tiền gửi và sử dụng số tiền này để cấp tín dụng,
cung ứng dịch vụ thanh toán. Các hoạt động cơ bản của NHTM, bao gồm:
- Hoạt động huy động vốn.
- Hoạt động tín dụng.
- Hoạt động dịch vụ thanh toán và ngân qũi.
- Các hoạt động khác.
2.1.2.1 Hoạt động huy động vốn
Hoạt động của NHTM trong nền kinh tế thị trường tương đối đa dạng và
phức tạp, liên quan đến nhiều lĩnh vực hoạt động kinh tế - xã hội, nhiều đối tượng
khách hàng ; tuy nhiên, có thể khái quát thành một số hoạt động chủ yếu sau đây:
* Nhận tiền gửi:
Nhận tiền gửi là hoạt động thường xuyên của các NHTM và là hoạt động rất
quan trọng đối với bản thân NH cũng như đối với nền kinh tế. Ta biết rằng, trong
tệ hoặc thị trường chứng khoán, cũng có thể đó là hoạt động trực tiếp hùn vốn hoặc
mua cổ phiếu của các DN, Công ty.
- Thuê mua: Thực chất đây là nghiệp vụ cho thuê vốn (capital Lease),
nhưng vốn cho thuê không phải bằng tiền mà là dưới hình thức tài sản (các văn
phòng, máy móc, thiết bị, các tài sản khác)
2.1.2.3. Hoạt động dịch vụ thanh toán và ngân quỹ
Để thực hiện được các dịch vụ thanh toán giữa các doanh nghiệp thông qua
ngân hàng, NHTM được mở tài khoản cho khách hàng trong và ngoài nước. Để
thực hiện thanh toán giữa các ngân hàng với nhau thông qua Ngân hàng Nhà nước,
NHTM phải mở tài khoản tiền giửi tại Ngân hàng Nhà nước nơi NHTM đặt trụ sở
chính và duy trì tại đó số tiền giửi dự trữ bắt buộc theo quy định . Ngoài ra, chi
nhánh của NHTM được mở tài khoản tiền giửi tại chi nhánh Ngân hàng Nhà nước
tỉnh, thành phố nơi đặt trụ sở của chi nhánh. Hoạt động dịch vụ thanh toán và ngân
quỹ của NHTM bao gồm các hoạt động sau:
- Cung cấp các phương tiện thanh toán.
- Thực hiện các dịch vụ thanh toán trong nước cho khach hàng.
- Thực hiện dịch vụ Thu hộ và chi hộ.
- Thực hiện các dịch vụ thanh toán khác Theo quy định của Ngân hàng Nhà
nước.
- Thực hiện các dịch vụ thanh toán quốc tế khi được NHNN cho phép.
- Thực hiện các dịch vụ Thu và phát tiền mặt cho khách hàng.
- Tổ chức hệ thống thanh toán nội bộ và tham gia hệ thống thanh toán liên
ngân háng trong nước.
- Thực hiện các dịch vụ thanh toán khác theo quy định của Ngân hàng Nhà nước.
2.1.2.4 Các hoạt động khác
Ngoài các hoạt động chính bao gồm huy động tiền giửi, cấp tín dụng và cung
cấp dịch vụ thanh toán và ngân quỹ, NHTM còn có thể thực hiện một số hoạt động
khác bao gồm:
Góp vốn và mua cổ phần: NHTM được dụng vốn điều lệ và quỹ dự trữ để
góp vốn , mua cổ phần của các doanh nghiệp và các tổ chức tín dụng khác trong
Tín dụng ngân hàng là quan hệ tín dụng bằng tiền tệ giữa một bên là Ngân
hàng, một tổ chức chyên kinh doanh trên lĩnh vực tiền tệ với một bên là tất cả các tổ
chức, các nhân trong xã hội. Trong đó quan hệ chuyển nhượng quyền sử dụng vốn
từ ngân hàng cho khách hàng trong một thời gian nhất định với một khoản chi phí
nhất định.
Cũng như quan hệ tín dụng khác, tín dụng ngân hàng bao gồm 3 nội dụng:
- Có sự chyển nhượng quyền sử dụng vốn từ người sở hữu sang người sử dụng
- Sử chuyển nhượng này mang tính tạm thời hay có thời thời hạn
- Sử chuyển nhượng bao gồm chi phí
Tín dụng là những trong một nghiệp vụ chủ yếu và quan trọng nhất của ngân
hàng và cũng là nghiệp vụ mang về thu nhập chủ yếu cho ngân hàng. Tuy nhiên,
đây cũng là hoạt động chứa đựng nhiều rủi ro tiềm ẩn có thể xảy ra với ngân hàng.
Do vậy các NHTM luôn phải quan tâm tới rủi ro trong cho vay nhằm hạn chế tối đa
rủi ro tín dung xảy ra đối với ngân hàng.
2.2.2 Phân loại tín dụng của NHTM
Có nhiều tiêu thức để phần loại tín dụng, dựa vào các tiêu thức khác nhau ta
sẽ có các hình tín dụng khác nhau.
• Phân loại mục đích sử dụng của tín dụng
- Cho vay phục vụ sản xuất kinh doanh
- Cho vay tiêu dung cá nhân
- Cho vay bất động sản
- Cho vay kinh doanh suất nhập khẩu
• Theo thời gian tín dụng thì tín dụng được chia làm ba loại:
- Tín dụng ngắn hạn: là loại hinh thời hạn từ trên một năm đến 5 năm. Mục
đích của loại hình là nhằm taì trợ cho việc đầu tư vào tài sản cố định.
- Tín dụng dài hạn: Là loại hình cho vay có thời hạn từ trên 5 năm. Mục
đích của loại hình tins dụng này là tài trợ cho xây dựng cơ bản, cải tiến và mở rộng
sản xuất có quy mô, giá trị lớn và thời gian Thu hối vốn dài.
• Theo mức độ tín nhiệm của khách hàng
- Cho vay không có bảo đảm: là loại hình cho vay không có tài sản thế
đến lãi suất và do đó lại tác động mạnh mẽ đến các hoạt động của thị trường tài
chính nói Chung và thị trường chứng khoán nói riêng.
2.3 Rủi ro tín dụng của NHTM
2.3.1 Khái niệm rủi ro trong hoạt động tín dụng của NHTM
Trong hoạt động tín dụng kinh doanh, ngân hàng gặp phải rất nhiều rủi ro
khác nhau. Có những rủi ro do biến động của thanh nhiên: thiên tai,hỏa hoạn,động
đất,các loại rủi ro như lừi đảo, phạm tội, thanh toán và các biến động chính trị…có
những rủi ro xảy ra trong các hoạt động của ngân hàng. Tất cả các rủi ro náy điều là
khả năng gây ra những tổn thất cho ngân hàng, cần được tìm hiểu để đưa ra các biến
pháp hạn chế.
Rủi ro tín dụng là một trong những loại hình rủi ro gây ra nhiều tổn thất cho
ngân hàng nhất. Trong nhưỡng năm gần đây, hoạt động tín dụng của ngâng hàng đã
được cải thiện đáng kể nhưng rủi ro tín dụng vẫn là nguyên nhân chủ yếu gây ra
thua lỗ cho ngân hàng và trong nhiều trường hợp dẫn phá sản.Lý do là khoảng 80%
tài sản của ngân hàng là cho vay.
2.3.2 Các loại rủi ro trong hoạt động tín dụng của NHTM
Rủi ro tín dụng gồm các loại rủi ro sau:
- Rủi ro tốn động vốn: Rủi ro tồn động vốn xảy ra khi vốn bị ứ động trong
NHTM mà ngân hàng không thể cho vay hoặc đầu tư được tức là không thế sinh lãi.
Nguồn vốn của ngân hàng chủ yếu là vốn huy động và ngân hàng phải chả phí cho
nó. Việc giảm thu nhập mà vẫn phải trả lãi cho nguồn vốn bị ứ động làm thiệt hại
cho ngân hàng, nếu kéo dài và xảy ra ở mức độ lớn sẽ dẫn đến việc làm ăn thua lỗ.
- Rủi ro về lãi suất tới lợi nhuận của ngân hàng thường được gọi là rủi ro lãi
suất. Sự thay đổi của lãi suất thị trường có thể gây ra tác động mạnh tới thu nhập và
chi phí hoạt đọng của ngân hàng. Ví dụ, lãi suất tăng sẽ làm giảm lợi nhuận của
ngân hàng nếu có cần tài sản và nguồn vốn của ngân hàng tạo điều kiện cho chi phí
trả lãi tăng nhanh hơn thu lãi từ các khoản đầu tư và cho vay. Đối với ngân hàng có
quy mô tài sản nhạy cảm với lãi suất vượt quá nguồn vốn nhạy cảm với lãi suất
trong một kỳ hạn nhất định thua lỗ sẽ xảy ra nếu lãi suất giảm. Rủi ro lãi suất là một
loại hình của rủi ro tín dụng vậy thì nó cũng gây ra tổn thất cho ngân hàng đối với
nguồn vốn.
- Tổng dư nợ/Tổng vốn huy động : Chỉ tiêu này cho biết khả năng cho vay
của ngân hàng với khả năng huy động vốn. Chỉ tiêu này càng lớn, vốn tồn đọng
càng ít, kèm theo rủi ro tín dụng càng lớn.
- Tổng dư nợ/Tổng tài sản có : Chỉ tiêu này cho biết tỷ trọng cho vay chiếm
tỷ trọng cao hay thấp so với tổng Tài sản qua đó biết được hướng đầu tư và đa dạng
hóa các dịch vụ của ngân hàng, giúp NHTM phân tán rủi ro, nhằm hạn chế rủi ro tín
dụng. Chỉ tiêu này chiếm khoảng 60% là hợp lý.
2.3.3.2. Chỉ tiêu đánh giá chất lượng tín dụng của NHTM
- Tỷ lệ giữa giá trị các khoản nợ quá hạn so với tổng dư nợ
Nợ quá hạn là khoản nợ mà khách hàng không trả được gốc và lãi khi đến
hạn thỏa thuận quy định trong hợp đồng tín dụng. Khi một món nợ không trả được
vào kỳ hạn nợ, hoặc không có tài sản đảm bảo hoặc không bán được, khách hàng
thua lỗ triền miêm, phá sản…
Dư nợ quá hạn
Tỷ lệ nợ quá hạn = x 100%
Tổng dư nợ
Chỉ tiêu này phản ánh tình hình nợ quá hạn của NHTM trong quá trình cho
vay. Chấp nhận nợ quá hạn nhất định được coi là giới hạn an toàn. Theo Ngân hàng
thế giới, tỷ lệ này ở mức dưới 5% là có thể chấp nhận được, tốt ở mức 1-3%.
Để đánh giá RRTD người ta thường xem xét trên các khía cạnh sau : Nợ quá
hạn theo thời hạn cho vay, mục đích cho vay, có tài sản đảm bảo hay không có tài
sản đảm bảo, theo thành phần kinh tế.
- Tỷ trọng dư nợ có TSĐB/Tổng Dư nợ : Tỷ lệ này càng cao thì mức độ
RRTD càng giảm. Tỷ lệ này phản ánh mức độ bù đắp tổn thất cho Nh khi khoản thu
thứ nhất gặp rủi ro, khách hàng không trả được nợ và lãi đúng kỳ hạn. Hiện nay
theo thông lệ quốc tế tỷ lệ này tối thiểu đạt trên 75% mới đảm bảo an toàn.
- Tỷ trọng dư nợ TSĐB dễ bán, dễ chuyển nhượng/Tổng dư nợ có
TSĐB : Nói lên chất lượng TSĐB nợ vay (rủi ro tài sản đảm bảo) có tính dễ chuyển
nhượng, hợp lệ, hợp pháp. Tỷ lệ này càng cao ở NHTM thì RRTD giảm.